Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh Mạng

Chào các bạn,

Hình ảnh minh họa trong bài này là Đức Phật tay cầm bình bát đi khất thực trong thị trấn, công việc của Ngài là giáo hóa cho mọi người từ những người nghèo khó nhất cho đến những người quyền quý nhất, và nuôi thân mạng bằng những đồ ăn chay được cúng dàng. Điều này cho chúng ta thấy những người đã giác ngộ vẫn luôn làm việc, “mọi Phật, mọi Bồ tát đều luôn làm việc sau khi thành Phật/Bồ tát. Phật Thích Ca thì giảng dạy khi chưa nhập diệt và ngày nay vẫn tiếp tục là bổn sư của thế giới ta bà, giúp các chúng sinh diệt độ.”

Được nghe những bậc Giác ngộ thuyết pháp và cúng dàng cho Người là một ân phúc vô cùng lớn, nhờ duyên phước này mà số mệnh của một người có thể vô cùng tốt đẹp ở các kiếp sau (Kinh Nhân quả). Thực ra, đối với tâm bình đẳng của nhà Phật, không có sự hơn kém giữa các nghề nghiệp, giữa người này với người kia, giữa người và Phật, nhưng duyên phước lại có sai biệt là do tâm ý đằng sau mỗi hành động.

Chánh Mạng là chi thứ ba và cũng là chi cuối cùng trong nhóm Giới (Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng) của Bát Chánh Đạo, là đòi hỏi về nghề nghiệp nuôi sống bản thân của chúng ta phải chân chánh. Thời Đức Phật còn tại thế, Ngài đưa ra năm nghề một cư sĩ (tu tại gia) không nên làm, như đã ghi trong Kinh Tăng Chi Bộ_Chương 5_(VII) (177) NGƯỜI BUÔN BÁN :

    Có năm nghề buôn bán này, này các Tỷ-kheo, một nam cư sĩ không nên làm. Thế nào là năm? Buôn bán đao kiếm, buôn bán người, buôn bán thịt, buôn bán rượu, buôn bán thuốc độc.

Năm nghề giới cấm đó bao gồm: buôn bán các loại vũ khí, buôn bán người (làm nô lệ), buôn bán giết thịt các loại súc vật, buôn bán các loại rượu và chất gây nghiện, và buôn bán thuốc độc.

Năm nghề này tương ứng với hai giới cấm sát sanh và cấm say sưa trong ngũ giới. Những nghề phạm vào nghiệp ác nặng này được Ðức Phật nói với xã hội Ấn Ðộ vào thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên, mà ngày nay, sau 25 thế kỉ, chỉ có duy nhất nghề buôn bán người và nô lệ được hầu như xóa bỏ rộng rãi, ngoài ra thì lại nảy sinh thêm rất nhiều nghề nuôi mạng không chân chánh khác nữa (như là phá rừng, buôn gỗ lậu, bóc lột lao động trẻ em–giới cấm trộm cắp; phát triển những vũ khí hóa học, hạt nhân—giới cấm sát sanh; nói dối trên quảng cáo và báo chí, bàn chuyện phiếm về đời tư người khác trên báo chí, dùng báo chí để làm thiệt hại người khác—giới cấm vọng ngữ, v.v…). Vậy mới thấy màn si mê của con người sâu dày tới đâu, chúng ta tạo tội nghiệt nặng nề đến thế nào.

Nhìn khách quan ở khía cạnh nhân sinh, chúng ta có thể thấy nghề buôn bán hình thành và phát triển dựa trên quy luật cung-cầu, tức là nếu có nhu cầu thì mặt hàng sẽ được sản xuất, người mua không còn thì người làm nghề bán hàng đó cũng sẽ không còn. Do vậy, tuy người làm các nghề buôn bán kể trên phạm vào giới nuôi mạng bằng nghề không chân chánh, nhưng ví dụ như nghề buôn bán thịt súc vật là một nghề nuôi sống cả người bán lẫn người mua, đương nhiên tội sẽ là tội chung của tất cả. Mà tội lỗi là nguyên nhân của đau khổ, tội lỗi và đau khổ hòa quyện gắn kết với nhau làm một trong luật Nhân Quả.

Trong bài Chánh Nghiệp chúng ta đã thấy rằng không phải hành động nào cũng gây nên nghiệp quả mà quan trọng hơn cả là ý thức làm động lực bên trong cho hành động ấy, chính cái tinh thần bên trong làm chủ động cho mọi việc làm, mới là cái nguyên nhân tạo nên nghiệp quả. Nếu trong khi thừa hành chức vụ, tự trong lòng một người tán thành việc làm hung ác (như là đao phủ hành tội tù binh), nghĩa là cũng nuôi trong lòng một sự hung ác, si mê tương đương với phong tục bổn xứ, thì chắc chắn sẽ phải chịu quả báo: “Ngoài ra, còn có vấn đề trách nhiệm chung, hay nghiệp quả công cộng, nghĩa là nếu một xã hội có những tập quán xấu xa, độc ác gây nên đau khổ cho nhiều người thuộc về xã hội đó đều phải chia xẻ một phần nào trách nhiệm và quả báo của xã hội ấy gây nên… Tội ác đó càng tăng nếu họ biết rằng phong tục tập quán đó là độc ác, mà họ vẫn tiếp tục tán thành và không làm gì để trừ bỏ những thói tàn bạo hung ác ấy. Và nếu họ trực tiếp nhúng tay vào những hành động hung dữ ấy, thì tội ác của họ càng tăng hơn nhiều.” (Chương 23 Những bí ẩn của cuộc đời_Nguyễn Hữu Kiệt dịch).

Kinh Tương Ưng Bộ_ chương 45. Tập V: Đại Phẩm_VIII. Phân Tích (S.iv,8) viết:

    “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh mạng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đoạn trừ tà mạng, nuôi sống với chánh mạng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh mạng.”

Chúng ta không thể liệt kê ra một danh sách đầy đủ những nghề nghiệp hay công việc được coi là Chánh Mạng, nhưng Đức Phật đã cho chúng ta một hướng dẫn căn bản: bất cứ công việc/nghề nghiệp nào cũng có thể được coi là chánh mạng nếu nó không đem lại tai hại cho bản thân người làm công việc đó hay cho bất cứ ai khác.

Tuy nhiên, cũng có trường hợp mà công việc thì tốt nhưng người làm công việc đó biến nó thành xấu. Thí dụ, một viên chức làm nhiệm vụ thẩm định, thanh tra có thể làm việc với lương tâm, nghiêm khắc, chu đáo, từ chối không nhận hối lộ. Nhưng một người khác cũng công việc đó, trong cùng một văn phòng, có thể trở nên tham nhũng, hối lộ. Một cán bộ tham nhũng thì không thể có Chánh Mạng, nhưng người chân thật thì có thể, và điều này thì không phụ thuộc vào loại công việc hay nghề nghiệp nào.

Để tự nuôi sống mình bằng nghề nghiệp chân chánh rất dễ nếu ta biết tiết chế tham dục, ăn không cầu ngon miệng, chỉ cần thực vật và đủ sạch sẽ để nuôi thân thể, mặc không cần gấm vóc, giường nằm không cần nhung lụa, thì Mẹ Trái đất nuôi gấp mấy lần tỷ con như bây giờ cũng không khó khăn. Nhưng lòng tham của thế gian khiến cho thức ăn thừa mứa mà vẫn có người đói, của cải vật chất dư thừa mà không bao giờ kiếm đủ tiền để mua! Chúng ta chạy quanh đầy bận rộn trong thế gian đầy ân phúc mà không kịp dừng lại để nhìn thấy được điều gì rõ ràng.

Trong Thánh Kinh ghi: “Vì vậy Thầy bảo cho anh em biết: đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao? Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao? Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay? Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin! Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.” Matt 6:25-34. (xem Trời sinh voi sinh cỏ_TĐH)

Theo trí tuệ phân biệt của thế gian, có những nghề tạo ra của cải vật chất trực tiếp (nông dân, chăn nuôi, công nhân…), có những nghề tạo ra của cải gián tiếp (dạy học, dịch vụ, diễn thuyết…), có những nghề phục vụ tinh thần (nghệ thuật, ca nhạc,…). Nếu chúng ta có Chánh kiến, biết rằng không có nghề gì cao sang hơn, cũng không có nghề gì thấp hèn hơn, biết tất cả đều bình đẳng từ tận sâu trong trái tim mình như vậy, chúng ta sẽ có thái độ đúng đắn với công việc, nghề nghiệp. Bất cứ một công việc gì, dù nhỏ hay lớn, nếu được làm với sự tận tâm cũng được coi như là một phụng sự cho sự tiến hóa tâm linh của mỗi người và mọi người.

Những “nghề” liên quan đến tâm linh dễ gây nhầm lẫn nghi ngờ nhiều nhất trong thời hiện nay, thứ nhất là vì vàng thau lẫn lộn, bởi tâm linh thật không phải là một nghề mà là một hướng đi, một lối sống, hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện, như Phật đã từng nói: “Đừng làm một kẻ buôn bán Pháp”, (xem Con Đường Đến Hạnh Phúc Theo Dấu Chân Phật), thứ hai là vì người ta khá khó hiểu: “Đang có công việc lương cao tốt như vậy sao lại bỏ đi tu?” “Những điều này về Thượng đế, về Chúa, về Luân hồi tôi không biết có tồn tại thật hay không, hay chỉ là mê tín?” “Tôi có cần biết những điều này không?”. Một đặc tính của Sự Thật là nó không phụ thuộc vào việc chúng ta có biết nó hay không, nhưng càng gần nó chúng ta càng hạnh phúc và càng xa rời nó chúng ta càng không hạnh phúc. Hạnh phúc mỗi chúng ta cảm nhận đôi khi lại theo những cách khác hẳn nhau, chẳng thể lúc nào cũng nói được rõ ràng đường nào đúng đường nào sai, nhưng nếu cảm nhận được tình yêu thực sự trong lòng khi làm công việc gì đó, có lẽ đó chính là dấu hiệu chỉ dẫn cho con đường riêng của mỗi người.

Có thể bạn đang làm một công việc bạn chẳng thích thú chút nào, chỉ để kiếm tiền nuôi con nhỏ, vậy chắc cũng tính là làm việc theo tiếng gọi của tình yêu nhỉ? Dù sao, cũng cần nhớ là, điều con cái chúng ta cần là tình yêu của bố mẹ khi còn nhỏ, và khả năng tự lập và theo đuổi đam mê riêng khi trưởng thành. Vậy thì chính chúng ta cũng phải sống cuộc đời đáng sống đó cho thời gian của mình chứ phải không bạn nhỉ?

Chúc các bạn luôn thành công.

Phạm Thu Hường

Các bài cùng chuỗi:
Kinh Chuyển Pháp Luân: Trung Đạo
Kinh Chuyển Pháp Luân: Tứ Diệu Đế
Kinh Chuyển Pháp Luân– Bát Chánh Đạo: Chánh Kiến
Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh Tư Duy
Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh nghiệp
Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh ngữ
Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh mạng

Một suy nghĩ 11 thoughts on “Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh Mạng”

  1. Cảm ơn chị Hường đã chia sẻ những bài viết rất công phu. Em thích câu này, rất hay “Một đặc tính của Sự Thật là nó không phụ thuộc vào việc chúng ta có biết nó hay không, nhưng càng gần nó chúng ta càng hạnh phúc”

    Số lượt thích

  2. Cảm ơn em Hằng ^^ chị biết em hiểu ý chị khi viết hoa chữ Sự Thật là nói đến điều gì, nhưng kể cả những sự thật nhỏ nhoi điều đó vẫn đúng em nhỉ: “càng gần sự thật chúng ta càng hạnh phúc”, vì cho dù có những sự thật không dễ chịu, ai cũng yêu những người thành thật cả.

    Em cảm ơn chị QLinh, anh Hoành, em rất vui khi được khen viết dễ hiểu, em bớt bám cứng vào giải thích những lời nói trong sách mà viết thoải mái theo những ý chính. Em chỉ viết ở mức độ em nắm được, về sự bình đẳng của mọi nghề nghiệp. Em kể một chuyện của em ngày còn nhỏ: ngày nhỏ em rất thích ăn bánh mì, và ban đêm nhất là mùa đông trời rét mướt như vậy mà lúc nào cũng nghe thấy tiếng rao “Ai bánh mì đơi” ngoài đường, nghe rất thân thương nhưng cũng rất xót xa vì tiếng rao đó chỉ có ở quê nghèo. Người lớn thì hay nói là, phải học giỏi thì mới có tương lai, nếu không thì sẽ đi bán bánh mì. Em nghĩ: Ai cũng học giỏi hết thì ai đi bán bánh mì? Sau này em nghiên cứu Phật pháp, người lớn lại hỏi là: Ai cũng đi tu hết thì không ai làm việc ah? Người lớn nhà em thật hay lo xa ^^

    Liked by 1 person

  3. Em cám ơn chị Hường. Chị viết rất gần gũi. Với hướng dẫn của chị trong chuỗi bài Kinh Chuyển Pháp Luân này, em có thể học Phật pháp dễ dàng hơn.

    Chúc chị luôn bình an và an lạc. 🙂

    Số lượt thích

  4. Em muốn góp thêm một ý nữa: nghề nào không quan trọng, điều quan trọng là cái Tâm của mình đặt ở trong nghề đó tới đâu. Nó sẽ giúp mình có một cái nhìn đầy bình đẳng, yêu thương, trân trọng. Hơn nữa, khi mình nhìn dưới con mắt ấy, mình thấy mọi thứ đều có rất nhiều điểm chung dễ nắm bắt, dễ học hỏi, và trí óc mình cũng mở rộng hơn rất nhiều 🙂 cuộc sống có nhiều điều thú vị.
    Em càng ngày càng thấm, xấu -tốt, hay-dở, tất cả đều là ở suy nghĩ và Tâm mình mà ra. Thay đổi suy nghĩ thật không phải một sớm, một chiều 🙂
    Cám ơn bài viết của chị Hường.

    Số lượt thích

  5. Cảm ơn Thu Hươngvà Hồng Thuận chia sẻ với chị 🙂

    Những điều này chị cũng từ cuộc sống thực mà nắm bắt được từ từ giống như các em vậy, viết ra chỉ để ngạc nhiên rằng những kho tư tưởng tinh tuyền này đã luôn ở đó suốt 25 thế kỉ.

    Chị cũng đồng ý với Hồng Thuận, nếu biết rằng nghề nào cũng bình đẳng như nhau, tất nhiên chúng ta sẽ đi tìm nghề phù hợp nhất với khả năng của mình, để không bao giờ hết hứng thú làm việc. Nhưng chị cảm thấy, sự phân biệt giai cấp, ngành nghề trong lòng người của xã hội mình bây giờ rất lớn, gọi là giai cấp công nông làm chủ nhưng lại rất coi thường nông dân, công nhân, e sợ những nghề lao động chân tay, kính nể những người quyền chức, như một mâu thuẫn rất lớn giữa nhận thức và thực tế. Chị nghĩ tụi mình thay đổi được suy nghĩ như hiện nay, trân trọng mọi nghề lương thiện với giá trị ngang nhau, ít ra đã không còn mâu thuẫn trong tư duy nữa, thật tốt em nhỉ!

    Chị H

    Liked by 1 person

  6. Anh chia sẻ với Hường và Hồng Thuận một chút về nghề.

    Xưa nay có một nghề thiên hạ liệt kê vào hàng tồi tệ nhất nhưng lại nằm vào hàng cao số một trong đầu anh. Đó là nghề hốt rác.

    Anh biết nếu thiếu người thu gom rác thì chỉ một thời gian rất ngắn là thiên hạ đại loạn và mọi thứ bệnh truyền nhiễm tràn ngập khắp nơi. Nếu có điều kiện rơi vào tay, anh sẽ không ngại làm chủ một công ty thu gom rác.

    Anh đã nói trước đây, luật sư cũng chỉ tối ngày thu gom các đống rác thiên hạ tạo ra. Hồi mới vào nghề anh rất bực mình là tại sao các quý vị không làm ăn tử tế hơn một chút để mình khỏi phải hàng ngày chỉ lo dọn các đống rác của các vị. Nhưng về sau anh hiểu là, đời là vậy, phải có người tạo rác mới có các nghề dọn rác.

    Và triết lý của anh sau đó là: “Sống là tạo rác.” Như là nếu mình sống rất sạch sẽ thì ăn cũng phải rửa chén, áo quần phải giặt, nhà phải quét, các phương tiện vệ sinh phải giữ sạch… Mọi việc này đều là dọn dẹp rác.

    ( “Sống là tạo rác.” Anh chưa nghe ai nói câu này. Vậy anh đăng ký sở hữu chủ câu nói 🙂 )

    Không thể sống mà không có rác. Cho nên thu gom rác là một phần lớn của cuộc sống, dù đó là rác tinh thần hay rác vật thể.

    Số lượt thích

  7. Em mới đọc lại bài “Chiến binh của nhân loại” nói đến vai trò của những người đi tu (sư sãi, linh mục,…), mà ngày trước em chưa đủ hiểu sâu như bây giờ.

    “Câu trả lời của Gasan “Chúng tôi là chiến binh của nhân loại, nhắm vào cứu vớt tất cả mọi sinh linh” chỉ có vị thầy đã đạt đạo mới nói được thế, vì đạt đạo rồi mới thấy được rằng điều mình đã trải nghiệm và liễu ngộ thì quan trọng cho mọi người trên thế giới đến thế nào.
    Những người ngớ ngẩn thường nghĩ rằng sư sãi chẳng sản xuất gì cho xã hội và chỉ là gánh nặng cho xã hội vì sống nhờ cúng dường của người khác. Sư sãi chưa nắm được đạo cũng không thể thấy và tin vào vai trò quan trọng của mình cho thế giới. Chỉ có các bậc chân tu mới thấy được điều đó, và mới đủ tự tin để nói nó ra.”

    Chúc cả nhà cuối tuần vui đón Tết và dọn dẹp rác 🙂

    Số lượt thích

  8. hi chị Hường !
    Em muốn chia sẻ một số suy nghĩ của em vì đọc bài viết của chị em lại nhớ tới cuốn ” thả một bè lau ” của thiền sư Thích Nhất Hạnh.
    trong đó có đề cập đến thứ “văn nghệ đứt ruột” tức là những thứ văn nghệ (văn hóa phẩm) mang lại cho người tiêu thụ nỗi buồn, chán nản. Thúy Kiều lâm vào hoàn cảnh lận đận 15 năm trường phải chăng có liên quan đến sở thích tiêu thụ văn nghệ đứt ruột, khi mà còn là thiên kim tiểu thư đã sớm tài sắc vẹn toàn đến nỗi “hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”, và tại sao một tiêu thư khuê các lại sáng tác một thiên “bạc mệnh”.
    Em thấy có nhiều bài hát nhạc trẻ bây giờ hay đề cập đến chia ly, thất tình, đau khổ. Lượt truy cập và like lớn hơn so với lượt like trong dotchuoinon.
    Những bài báo giật gân, chuyện tình của sao, phát ngôn kinh điển cũng làm xôn xao dư luận.
    Có những bạn học sinh rành rẽ hết những chuyện đó trong khi bài văn lại có thể nhầm “Mị” và “người đàn bà làng chài”.
    Phải chăng đó là dấu hiệu của hiện tượng tiêu thụ thứ văn nghệ nghèo nàn.
    vậy tác giả của những tác phẩm ấy có phạm chánh ngữ không ạ.
    Em cảm ơn và hy vọng sẽ nhận được những góp ý của anh chị để hiểu rõ hơn ạ

    Số lượt thích

  9. Hi em Thúy Vân,

    Cuốn “Thả một bè lau” của thiền sư Thích Nhất Hạnh chị nghe em giới thiệu mở ra đọc qua, rất hay, nhìn truyện Kiều dưới ánh sáng Phật pháp và phân tích về thuyết định mệnh trong đó (thuyết này rất mạnh ở Trung Hoa-là một dạng tôn giáo dân gian).

    Trong lời tựa, Thầy Nhất Hạnh có viết: “Dựa theo truyện Phong Tình Lục của Trung Hoa để viết truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã biến tập tiểu thuyết tầm thường này thành một tác phẩm văn chương phong phú và sâu sắc. Một lần nữa, chúng ta thấy cốt tủy của một tác phẩm có giá trị không phải là cốt truyện mà là văn chương và tư tưởng.” Chị em mình cũng đã được học trong nhà trường nhấn mạnh nhiều lần là dù câu chuyện gốc của Trung Hoa, dùng nhiều điển tích của Trung Hoa, bản thân Nguyễn Du là một nhà Nho học cũng xuất phát từ văn hóa Trung Hoa, nhưng giá trị văn hóa của tác phẩm vẫn là từ tài năng của một tâm hồn thuần Việt. Nhưng có một điều không thể phủ nhận rằng, văn hóa của chúng ta sau cả 1000 năm Bắc thuộc, đã hình thành nên một tâm lý tiểu nhược của dân tộc, và ám ảnh trong cái tài văn thơ buồn đến bất tận của Nguyễn Du.

    Chị nhớ trong Tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp viết: “Đặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Đây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú, vừa nhục nhã, vừa căm thù nó. Vua Gia Long hiểu điều ấy và đấy là nỗi cay đắng lớn nhất mà ông cùng cộng đồng phải chịu đựng. Nguyễn Du thì khác, ông không hiểu điều ấy. Nguyễn Du là đứa con của cô gái đồng trinh kia, dòng máu chứa đầy điển tích của tên đàn ông khốn nạn đã cưỡng hiếp mẹ mình. Nguyễn Du ngập trong mớ bùng nhùng của đời sống, còn vua Gia Long đứng cao hẳn ngoài đời sống ấy. Người mẹ của Nguyễn Du (tức nền chính trị đương thời) giấu giếm con mình sự ê chề và chịu đựng với tinh thần cao cả, kiềm chế. Phải ba trăm năm sau người ta mới thấy điều này vô nghĩa.”

    Câu em hỏi về chánh ngữ em có đưa ra 3 điểm:
    (1) trong đó có đề cập đến thứ “văn nghệ đứt ruột” tức là những thứ văn nghệ (văn hóa phẩm) mang lại cho người tiêu thụ nỗi buồn, chán nản.
    (2) Thúy Kiều lâm vào hoàn cảnh lận đận 15 năm trường phải chăng có liên quan đến sở thích tiêu thụ văn nghệ đứt ruột, khi mà còn là thiên kim tiểu thư đã sớm tài sắc vẹn toàn đến nỗi “hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”, và tại sao một tiêu thư khuê các lại sáng tác một thiên “bạc mệnh”.
    (3) Em thấy có nhiều bài hát nhạc trẻ bây giờ hay đề cập đến chia ly, thất tình, đau khổ. Những bài báo giật gân, chuyện tình của sao, phát ngôn kinh điển cũng làm xôn xao dư luận. Phải chăng đó là dấu hiệu của hiện tượng tiêu thụ thứ văn nghệ nghèo nàn.
    Vậy tác giả của những tác phẩm ấy có phạm chánh ngữ không ạ?

    Đầu tiên chị phải nói là : trong các bài pháp dạy về Bát chánh đạo, phần có thể nói chắc chắn nhất đều được đề cập dưới mệnh đề phủ định, Chánh Ngữ là (1) không nói dối, (2) không nói hai lưỡi, (3) không nói lời hung ác, (4) không nói lời phù phiếm.

    Còn để đánh giá một lời nói nào đó có là chánh ngữ không, có phạm chánh ngữ không phải đặt trong hoàn cảnh cụ thể, bởi vì trừ những trường hợp rõ ràng trong 4 giới cấm trên, còn lại phần lớn không thể phân biệt rõ ràng thiện ác mà chúng hòa quyện với nhau tùy theo tâm ý đằng sau lời nói.

    Thúy Kiều sáng tác thiên bạc mệnh, cũng giống như Nguyễn Du sáng tác truyện Kiều, xuất phát từ những tình cảm thực, từ những nhu cầu, những cảm xúc cần giải tỏa, cho dù mang nỗi buồn sâu đậm, nhưng đó là nói thật, cho nên không vi phạm chánh ngữ.

    Đất nước mình đang ở trong tình trang nguy ngập, có rất nhiều vấn đề cần giải quyết, nhưng có nhiều người không nhận ra hoặc là tránh né bằng những bài nhạc buồn. Một phần là do hoàn cảnh bí bách, một phần là do tâm lý nhược tiểu, muốn yên ổn, không có lý tưởng, không có động lực, nên bị hấp dẫn bởi những thứ văn nghệ như em nói. Nhưng không thể đổ tại hoàn cảnh xung quanh hay “văn nghệ đứt ruột” đã tạo ra sự thiếu động lực của giới trẻ, bởi vì có thể chính là điều ngược lại, nhân quả vẫn khó có thể nói cho rõ ràng trong nhà Phật.

    Em vui nhé Thúy Vân.
    Chị H

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s