Kinh Chuyển Pháp Luân – Bát chánh đạo: Chánh nghiệp

Chào các bạn,

Triết lý nhà Phật vô cùng gần gũi với đời sống nhưng đồng thời lại vô cùng khó xác thực vì nó chạm đến một vấn đề bí ẩn nhất của cuộc đời: cái chết. Phật giáo đưa ra cả một triết thuyết cặn kẽ để giải thích nguyên lý vận hành của sự sống và cái chết thông qua khái niệm về Nghiệp (tiếng phạn Sankrist là Karma và phạn Pali là Kamma, có nghĩa là tổng số hành động, hành vi, hay sự tạo tác của chúng ta trong kiếp này và các kiếp trước, tác động như nhân để sinh ra quả). Nhưng vì chưa từng có ai quay trở về từ cõi chết kể cả Đức Phật Thích Ca, khiến cho những người chưa giác ngộ, còn mải mê trong vòng sinh tử hoang mang: Điều gì ở phía bên kia sự sống? Chúng sanh sống ở đời này chưa đủ mệt sao mà còn phải lo cho tận tới kiếp sau?

Tuy nhiên, điều đáng lưu ý ngay từ đầu là, Đức Phật xuất phát từ lòng từ bi, thương xót cảnh buồn đau vì bệnh, già, chết của chúng sanh mà đạt đến giác ngộ, sau đó Ngài mới có thể chứng thần thông nhìn được ba đường sáu cõi. Điều đó có nghĩa là hiểu biết chi tiết về luân hồi không phải là mục đích của giáo pháp, mà giác ngộ mới là mục đích tối hậu. Để giác ngộ, thì chỉ có bỏ điều ác, làm điều thiện là điều kiện cần nhưng chưa đủ rốt ráo, vì tâm vẫn còn chấp vào thế giới Nhị nguyên (Tôi đang làm điều Thiện), còn phân biệt giữa Ta và người, điều thiện và điều ác.

Trong kinh điển có những bậc Giác ngộ như Bồ tát, đã thanh tịnh nghiệp nhưng phát nguyện trở đi trở lại luân hồi để cứu độ cho đến khi “U minh giới không còn một ai” (Địa tạng vương Bồ tát) hay “khi nào thế gian hết lời than khóc” (Quán thế âm Bồ tát), khi đó các Ngài mới thành Phật. Như chúng ta đã biết, Bồ tát là bậc đã trực nhận tánh “Không”, biết rõ cuộc đời này chỉ là mộng ảo, tại sao còn phát những đại nguyện cứu giúp cuộc đời, tại sao không cứ để mặc cho luật Nhân quả lớn dạy những bài học đau đớn chẳng phải sẽ tỉnh ngộ nhanh hơn là chúng sanh được cứu độ rồi lại bám chấp vào cuộc đời? Đó là bởi vì, cũng giống như bậc toàn giác Đức Phật Thích Ca, điểm khởi đầu của Bồ tát đạo là lòng từ bi và điểm kết thúc cũng chính là lòng từ bi vô lượng đó.

Dù cuộc đời có mộng ảo hay không, khi đang còn sống trên thế gian này, được gặp một con người có lòng từ chúng ta đã cảm nhận được bình an, tin tưởng, hạnh phúc đến mức nào, huống chi là được biết một bậc thầy tâm linh dạy cho chúng ta biết về lòng từ bi qua chính con người thầy, đó chắc chắn là một ân phúc lớn lao cho chúng ta. Đó cũng có lẽ là lí do các bậc Bồ tát phát tâm đại nguyện, mặc dù rằng dùng tâm Không mà đối đãi với bản năng vô ơn của con người chốn vô thường thì con đường Bồ tát đạo chẳng phải lúc nào cũng được rải hoa thơm cúng dàng mà trái lại đầy nhẫn nhục gian khó.

Kinh Tương Ưng Bộ, chương 45. Tập V: Đại Phẩm_VIII. Phân Tích (S.iv,8) viết:

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh nghiệp ? Này các Tỷ-kheo, chính là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ phi Phạm hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh nghiệp.”

Ba điều trên là 3 giới đầu trong ngũ giới, và người ta thường thêm 2 giới cuối cùng của ngũ giới khi nói về chánh nghiệp. Vậy chánh nghiệp ở mức độ đơn giản và dễ nhất là ngũ giới, tránh làm các điều tội.

1. Từ bỏ sát sanh là không giết người, không giết hại các sinh vật khác.
2. Từ bỏ lấy của không cho là không trộm cắp.
3. Từ bỏ phi Phạm hạnh là không tà dâm.
4. Từ bỏ ác ngữ là không nói dối, không nói lời độc ác, không nói đâm thọc, không nói lời phù phiếm.
5. Từ bỏ say sưa là không uống rượu và các chất say gây nghiện.

Trong năm điều này thì điều thứ tư “từ bỏ ác ngữ” được nói đến trong phần “Chánh Ngữ” của Bát chánh đạo.

Ngũ giới là tượng trưng của Chánh nghiệp. Nhưng nói đến nghiệp là chúng ta cần hiểu mọi hành động, mọi tư duy, và cả những điều ta nên làm mà không làm (như là đứng dửng dưng thấy người gặp tai nạn giữa đường mà không giúp) đều tạo ra nghiệp.

Nghiệp được phân chia làm ba loại là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp, được “khởi duyên” bằng những hành động tạo tác của thân, lời nói và ý thức hay suy tư. Trong năm giới kể trên thì không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm thuộc về thân nghiệp, không ác ngữ thuộc về khẩu nghiệp, và không say sưa thuộc về ý nghiệp.

Trong ba nghiệp này, đạo Phật đặc biệt chú trọng ý nghiệp, như được viết ngay những dòng đầu tiên trong Kinh Pháp Cú (Dammapada):

Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý ô nhiễm,
Nói lên hay hành động,
Khổ não bước theo sau,
Như xe, chân vật kéo.

Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau,
Như bóng, không rời hình.

Nghiệp trong Phật giáo Nguyên thủy được giảng giải trong Kinh tiểu nghiệp phân biệt và Kinh đại nghiệp phân biệt (thuộc Kinh Trung Bộ) như sau:

135. Kinh tiểu nghiệp phân biệt

Thanh niên Subha Todeyyaputta bạch Thế Tôn:

Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì giữa loài Người với nhau, khi họ là loài Người, lại thấy có người liệt, có người ưu?

Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi thấy có người đoản thọ, có người trường thọ; chúng tôi thấy có người nhiều bệnh, có người ít bệnh; chúng tôi thấy có người xấu sắc, có người đẹp sắc; chúng tôi thấy có người quyền thế nhỏ, có người quyền thế lớn; chúng tôi thấy có người tài sản nhỏ, có người tài sản lớn; chúng tôi thấy có người thuộc gia đình hạ liệt, có người thuộc gia đình cao quý; chúng tôi thấy có người trí tuệ yếu kém, có người có đầy đủ trí tuệ.

Này Thanh niên, các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu.

Đại ý câu trả lời này, Đức Phật giải thích sự khác biệt nhau về hoàn cảnh cuộc sống là do sự khác biệt về Nghiệp, con người liên tục tạo nhân và nhận quả tương ứng trọn vẹn cho những hành động thân khẩu ý của mình, không chỉ trong một kiếp này, mà liên tục qua vô lượng kiếp. Quá trình đó dường như nhằm mục đích để chúng ta học hỏi trong đời sống cho đến khi đạt tới sự hoàn thiện về tâm linh.

Kinh tiểu nghiệp phân biệt được Đức Thế tôn giảng cho hàng cư sĩ tại gia nên dùng những ví dụ cụ thể quan sát trong đời sống thường ngày, chỉ nêu ra hiện tượng để khuyến khích dừng nghiệp (bỏ làm điều ác) và chuyển nghiệp (khuyên làm điều lành), mà không đề cập rốt ráo đến triết lý giải thoát.

136. Kinh đại nghiệp phân biệt

Này Hiền giả Potaliputta, nếu một ai có dụng ý làm thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, có khả năng đưa đến lạc thọ, người ấy sẽ cảm giác lạc thọ. Này Hiền giả Potaliputta, nếu một ai có dụng ý làm thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp có khả năng đưa đến khổ thọ, người ấy sẽ cảm giác khổ thọ. Này Hiền giả Potaliputta, nếu một ai có dụng ý làm thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp có khả năng đưa đến bất khổ bất lạc thọ, người ấy sẽ cảm giác bất khổ bất lạc thọ. Và lại nữa, này Ananda, những kẻ du sĩ ngoại đạo ngu si, kém học, họ sẽ hiểu được đại phân biệt về nghiệp của Như Lai, này Ananda, nếu Ông nghe Như Lai phân tích đại phân biệt về nghiệp.

Chắc chắn có ác nghiệp, có quả báo ác nghiệp.

Chắc chắn có thiện nghiệp, có quả báo thiện hạnh.

Hoặc là một ác (thiện) nghiệp đưa đến cảm giác khổ (lạc) thọ do người ấy làm từ trước, hay một ác (thiện) nghiệp đưa đến cảm giác khổ (lạc) thọ do người ấy làm về sau, hay trong khi mệnh chung, một tà (chánh) kiến được người ấy chấp nhận và chấp chặt, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy phải lãnh thọ quả báo được khởi lên ngay hiện tại hay trong một đời khác.

Kinh Đại nghiệp phân biệt được Đức Thế tôn giảng cho hàng tu sĩ xuất gia, cho nên được giảng với những khái niệm trừu tượng hơn và triết lý giải thoát rốt ráo hơn. Trong phân tích đại phân biệt về nghiệp, hai câu khẳng định “Chắc chắn có ác nghiệp, có quả báo ác nghiệp”“Chắc chắn có thiện nghiệp, có quả báo thiện hạnh” là điều đã được giảng qua các ví dụ cụ thể trong Kinh tiểu nghiệp phân biệt, tuy nhiên được mở rộng trọn vẹn hơn.

Thứ nhất, quả báo thiện/ác tương ứng với từng nghiệp là chắc chắn, nhưng thời điểm nhận quả báo thì có thể gần hoặc xa “ngay hiện tại hay trong một đời khác”. Nghiệp thiện là nghiệp được chỉ đạo bởi tâm không tham không sân không si. Nghiệp ác là nghiệp được chỉ đạo bởi tâm tham sân si.

Nói một cách dễ hiểu là hành động nào mang một ý thức tốt đẹp, thì hành động ấy sẽ mang lại một kết quả tốt đẹp và ngược lại. Đức Phật không lý giải cặn kẽ cách làm việc của Nhân quả mà chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh “nghiệp quả tương ưng”, hơn nữa nghiệp riêng của một người (biệt nghiệp) lại luôn nằm trong mối liên hệ với những người cùng thời (cộng nghiệp), lại có thể được chuyển hóa bởi những nghiệp thiện lành hoặc hồi hướng công đức, thậm chí còn có thể “ghi nợ” cho đến khi đủ cơ duyên và đủ mạnh để trả quả (xem thêm: Những bí ẩn của cuộc đời _ Nguyễn Hữu Kiệt dịch)

Thứ hai, quan trọng hơn, Đức Phật đưa ra khái niệm “bất khổ bất lạc thọ” là đầu mối của giải thoát và giác ngộ. Khi còn phân biệt giữa khổ thọ và lạc thọ, thì vẫn còn tạo nghiệp, cho dù biết tu tập để chuyển nghiệp thì vẫn là loanh quanh trong sáu nẻo luân hồi, chưa thoát ra được. Chưa kể là, nếu cứ phân biệt, chấp dính vào thiện ác, thì không thể dứt trừ vọng tưởng và sai lạc, vì đâu là thiện đâu là ác, ai đúng ai sai, khi nào đúng khi nào sai, hay mọi lúc ta đều đúng và đều sai đồng thời.

Cho nên, còn phân biệt là ta còn chấp vào vọng tưởng. Để thanh tịnh nghiệp, phải vượt lên bên trên vọng tưởng để hiểu được mọi sự thiện ác đều cùng một bản tính Không. Bồ tát vẫn làm những hạnh bố thí độ tha nhưng không chấp vào ta và người, không chấp khổ và lạc, không chấp thành tựu (quả), cũng không chấp vào hành động bố thí (nhân). Khi Bồ tát hành đạo, luôn thuận theo tự nhiên mà có biện pháp, phương tiện phù hợp, vạn pháp từ “Không” mà sinh ra, cho nên “cứu giúp mà như không làm gì”. Mọi hành động của Bồ tát đều là Không.

Chỉ một vài điểm khái quát về Nghiệp trong Phật giáo, chúng ta đã thấy được mức độ bao quát sâu rộng trong cả cuộc sống thực và trong triết lý, vì Nghiệp chính là biểu hiện của Luật Nhân Quả tuyệt đối. Biết được khái niệm này, chúng ta cần phải cẩn thận hơn nữa với từng ý niệm của mình, bởi nhiều khi người ta đi lạc đường chỉ vì nhìn luật Nhân quả với tâm hả hê cay nghiệt: “Nhân quả báo ứng, cho đáng đời!”. Chúng ta hay nghe nói câu: “Khi trực nhận tánh Không thì mở lòng thương xót”, nhưng cũng chính vì “mở lòng thương xót” cho nên mới có thể “trực nhận tánh Không”. Chỉ với tấm lòng thương xót chúng ta mới có thể tiến được trên con đường mở rộng trái tim linh thiêng và trí tuệ của mình.

06/01/2014
Phạm Thu Hường

Các bài cùng chuỗi:
Kinh Chuyển Pháp Luân: Trung Đạo
Kinh Chuyển Pháp Luân: Tứ Diệu Đế
Kinh Chuyển Pháp Luân– Bát Chánh Đạo: Chánh Kiến
Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh Tư Duy
Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh nghiệp
Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh ngữ
Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh mạng
Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh Tinh Tấn
Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh niệm
Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh định

Một suy nghĩ 17 thoughts on “Kinh Chuyển Pháp Luân – Bát chánh đạo: Chánh nghiệp”

  1. Cám ơn Thu Hường đã tiếp cận đề tài này một cách rộng rãi và đầy đủ.

    Chánh nghiệp (Sammà Kammata) thường được dịch sang tiếng Anh là Right Actions (hành động đúng), và người ta, nhất là kinh sách tiếng Anh, chỉ nói đến 3 hành động không nên làm: sát sinh, trộm cắp, tà dâm. Rất hẹp.

    Thu Hường nói đến “nghiệp” như là Karma (Kamma). Anh nghĩ đó mới là nghiệp. Và Kammata là “hành động tạo nghiệp” thì đúng hơn chỉ là “action”.

    Và khi nói đến “nghiệp” với ý nghĩa là Kamma như thế, thì Hường đã viết một cách rất đầy đủ về nghiệp.

    Số lượt thích

  2. Em cảm ơn anh Hoành đã sửa bài viết cho em khiến nó trở nên sâu sắc và gần với chánh pháp hơn. Em viết về Phật giáo Nguyên thủy mà lại dùng lý luận về Bồ tát đạo và tánh Không của Bát Nhã Đại thừa! là bởi vì em đọc Đại thừa nhiều hơn thành ra tư tưởng cứ chuyển đến đó. Em sẽ tập trung đọc PGNT nhiều hơn (về tu Thanh Văn, Bích Chi Phật và A-la-hán)

    Cảm ơn em Thu Hương đã động viên chị, chị hiểu được thì chắc chắn em sẽ hiểu ngay thôi, thực hành mới khó em nhỉ ! Quyển “Những bí ẩn cuộc đời” chị để link trong bài thú vị lắm đấy, nói về một chuyện có thật về ông tên là Cayce có khả năng soi kiếp cho người khác trong khi bị thôi miên, nhưng ông ấy là người Thiên Chúa giáo nên không biết về bản chất Nhất nguyên và triết lý nhà Phật đâu, chỉ là khả năng tự nhiên bất ngờ mà có thôi.

    Số lượt thích

  3. Cám ơn bài viết của Hường với những giảng giải về nghiệp và nhân-quả. Mình đã đọc 3 lần, tuy rằng thấy dễ hiểu hơn những bài trước. 🙂

    Mình thú vị với việc Hường phân tách sự nhận biết về luật nhân quả và tâm đằng sau cái nhìn nhân quả. Trước đây, mình khá không thích nói về nhân quả, và giờ thì mình hiểu rằng đó là vì mình không thích cái tâm thường có khi người đời nói về luật nhân quả:

    1. Khi nói nhân tốt sẽ có quả tổt, thường mang trong đó tâm mong cầu. Mình thích làm những việc sẽ góp phần tạo quả tốt nhưng không cần phải quá chú trọng đến việc quả cuối cùng là như thế nào.

    2. Khi nói nhân xấu sẽ có quả xấu, thương mang trong đó tâm lo sợ (cho mình) hay tâm hả hê, cay nghiệt về người như Hường đã đề cập. Mình thích làm việc tốt vì đó là việc muốn làm hơn là vì lo sợ quả báo. Và với người, mình muốn giữa một tâm bao dung, thấu cảm, và mong rằng người dù có lỡ làng gieo nhân xấu thì cũng sẽ kịp hóa giải, gỡ gạc chứ không phải gặp quả xấu.

    “Khi trực nhận tánh Không thì mở lòng thương xót”. Mình cảm thấy được điều này, phần nào. Có lẽ vì khi trực nhận tánh Không, ta sẽ thấy rằng chẳng có gì phải lo cho ta nữa, và nhìn sang những người khác còn quay cuồng trong đau khổ, cảm nỗi khổ của người thì ta sẽ mở lòng thương xót. Người biết thì tự nhiên sẽ muốn chỉ cho người không biết.

    Liked by 1 person

  4. Hường có thể đọc Phật giáo Nguyên thủy để nắm được căn bản giản dị của giáo pháp. nhưng dùng đó để suy tư rộng ra Đại thừa thì hay hơn là dính cứng trong Nguyên thủy. Phật giáo Nguyên thủy rõ ràng, dễ hiểu là căn bản cộng trừ nhân chia. Đại thừa là phương trình bậc hai. Nắm vững căn bản để có căn bản, nhưng cần đi xa hơn.

    Số lượt thích

  5. Dạ, em cảm ơn anh Hoành, vậy là em dùng cách tiếp cận này được phải không ạ, em lại cứ lo là viết như vậy thì không đúng quy củ (trộn lẫn tư tưởng Nguyên thủy và Đại thừa). Nhưng chị Quỳnh Linh lại nói bài này em viết dễ hiểu hơn, nên chắc là chỉ cần em nói rõ những gì em nắm được thì mọi người đọc dễ hơn là em bám cứng vào một truyền thống.

    Chị Linh ơi, em cũng có ấn tượng rất mạnh với câu “Khi trực nhận tánh Không, thì mở lòng thương xót” (em đọc được ở link này Chúng tôi học kinh, đoạn cuối cùng của trang), em sẽ viết cụ thể những gì em cảm nhận về câu này. Thật vui khi “lôi kéo” được chị vào tìm hiểu những triết lý Phật pháp, nói thâm sâu thì rất thâm sâu, nhưng nói đơn giản thì cũng rất đơn giản, phải không chị?

    Em nghĩ Phật giáo là một nền văn hóa trí tuệ, ảnh hưởng tiềm thức lên dân tộc mình là rất trọng tri thức, trí tuệ, nhưng thể hiện lên ý thức không hiểu sao lại biến thành… trọng bằng cấp !!! Điều em quan tâm nhất trong những lời Phật nói là về xóa bỏ ý thức về giai cấp, tâm không phân biệt là tâm coi mọi người bình đẳng như nhau. Nhưng trong dân gian, thì đạo Phật lại được lưu truyền mạnh nhất về khía cạnh luân hồi. Dù sao mình cũng cứ tìm hiểu rồi ghép từng mảnh một, chị nhỉ!

    Em H

    Số lượt thích

  6. Hello Việt Nam ^^

    Cảm ơn Nam đã có duyên với ĐCN và hứng thú với bài viết của mình.

    Mình đã đọc những bài viết tư duy tích cực của anh Hoành vài năm nay và sau khi thực hành khiêm tốn, tĩnh lặng trong đời sống hàng ngày (không sân giận, thành thật và cổ vũ sự trung thực, kiên nhẫn với yếu kém của mình và của người khác,… ) mình đọc lại Phật pháp cảm thấy hiểu hơn ngày xưa và anh Hoành đã khích lệ mình viết lại những khái niệm căn bản theo cách hiểu và nhìn nhận của mình. Mình viết rất chậm và rất ít vì mình biết những điều này dễ gây ngộ nhận rằng như thế đã là “hiểu rõ” Phật pháp, trong khi chỉ có sống với những điều này mới có ý nghĩa mà thôi.

    Nam đọc thêm bài “Tâm linh là thực hành” nhé https://dotchuoinon.com/2014/02/11/tam-linh-la-thuc-hanh/
    Chúc Nam vui

    TH

    Số lượt thích

  7. Cám ơn chị Thu Hường nhiều.
    E có đọc một đoạn chị viết “phật thích ca nhịn ăn 6 năm mới biết đi sai đường”. Chị có thể kể chi tiết giúp em ko? E đang chưa thông ở vấn đề “ăn”

    Số lượt thích

  8. Hi Nam,

    Lịch sử Phật giáo có ghi lại trong 6 năm tu hành khổ hạnh của Đức Phật Thích Ca: “Thái tử ở trong rừng ăn rất ít, thậm chí một ngày chỉ ăn một hạt mè, một hạt lúa tẻ. Vì thế, thân thể của Ngài ngày càng gầy gò ốm yếu, mắt hóp sâu, xương gò má lòi cao. Khổ hạnh như vậy được sáu năm nhưng vẫn chưa khai ngộ, thái tử tự xét lại mình, biết rằng khổ hạnh không phải là phương pháp cứu cánh.”

    Sau này khi đã giác ngộ, Ngài đi giáo hóa dân chúng về “làm điều lành, bỏ điều ác, giữ tâm trong sạch” và có khuyên nhủ giữ giới, ăn chay (không ăn thịt). Vấn đề “ăn uống không cần khổ hạnh” và “ăn chay” có rất nhiều lớp ý nghĩa:

    * Thứ nhất, khi chúng ta được sinh ra trên đời này, tự nhiên cho chúng ta quyền được tồn tại và phát triển. Chúng ta có thể không ăn thịt mà vẫn đủ chất cho sức khỏe để tồn tại.
    Các loài thú dữ ăn thịt như sư tử đuổi bắt ăn các con vật khác, không đi ngược lại với tự nhiên vì đó là bản năng sinh tồn. Nhưng nếu con người dùng việc sát hại động vật để vui chơi, để khoái khẩu, để làm đẹp làm khỏe cho thân mình, là điều can thiệp thô bạo vào thiên nhiên và sẽ phải chịu tội cho những hành động đó.

    * Thứ hai, Đức Phật nói rằng trong các loài động vật cũng là kiếp người đọa đày, cho nên không nên tàn sát lẫn nhau.

    * Thứ ba, thực ra trong khi đi khất thực, người dân cúng dường thức gì, Ngài và các môn đệ ăn thức đó, có thể chay có thể không. Điều này nói lại một lần nữa về quyền được tồn tại và phát triển cho nhu cầu tối thiểu.

    * Thứ tư, ăn chay thì mới có thể giác ngộ, hay là giác ngộ rồi phát sinh lòng thương xót chúng sanh rồi mới ăn chay? Câu này em tự suy nghĩ thêm xem có trả lời được không nhé ^^

    Chị có vài ý kiến riêng như vậy về “ăn”
    Chúc em luôn “đủ ăn” ^^
    Chị H

    Liked by 1 person

  9. Cảm ơn em Phương! Chị thấy em đang tìm đọc lại Bát chánh đạo và chiêm nghiệm về lời Phật phải không 🙂

    Em làm chị nhớ lại cảm xúc huyền diệu và bay bổng của chị khi đắm mình trong ĐCN, trong kinh Phật và sau đó là Thánh Kinh, được khơi mở và nâng đỡ rất nhiều trong thời gian tâm lý bất ổn. Thật sự những tài liệu gốc rễ này có tác dụng nâng đỡ tinh thần rất lớn, chỉ muốn đắm chìm dựa dẫm trong đó, thế nhưng để mưu sinh lâu nay chị không suy niệm nhiều nữa, chị chỉ cố gắng sống với tinh thần đó cố nhớ đến cái cốt lõi.

    Chị nhớ có lần Anh Hoành cũng nói con người chỉ chạy đến chân Chúa Phật khi gặp chuyện quá sức, lúc đó mới nhớ đến Chúa Phật và cầu khẩn! Lâu nay chị rất lơ là, nhưng vẫn nhớ tinh thần ĐCN, và cầu nguyện được tha thứ.

    Chị tặng Phương câu này chị thích nhất và luôn nhớ nằm lòng: Jn 8:32 “Then you will know the truth, and the truth will set you free”. The Truth là điều chung nhất chị cảm nhận được giữa hai truyền thống tâm linh Phật và Chúa.

    Chúc em luôn sống với Sự Thật.

    Thân mến,
    c. Hường

    Liked by 1 person

  10. Hi chị Hường,

    Cảm ơn chị Hường chia sẻ ạ.

    Thực em rất thích đọc những bài chị Hường viết. Rất đơn giản, chi tiết và dễ tiếp cận. Có thể đọc giả sẽ cảm thấy hơi dài, nhưng phải viết như vậy để có thể tiếp cận được nhiều người và hy vọng mọi người có thể hiểu được.

    Em thực sự cảm được tâm tư qua đôi dòng comment của chị. Cuộc sống gia đình với một em bé nhỏ nơi xa thật là không dễ dàng, nhất là với cơ địa của một người phụ nữ. Em không biết nói gì hơn là xin Chúa Phật yêu thương và nâng đỡ chị cùng gia đình. Mong tình yêu vô lượng của Đất Trời sẽ giúp chị phục hồi và vững mạnh. Em rất thích xem hình và clip bé Pippi. Bé thật là đáng yêu chị ạ. Cho em hôn bé một cái và ôm cả nhà ❤

    Em Phương

    (Thời gian gần đây, em bị hấp dẫn bởi Phật học. Và cảm giác rằng mình có thể tìm thấy "trụ cột vững mạnh" từ Đức Phật. Cảm ơn Trời Phật là em thấy ra được một chút chị ạ)

    Liked by 1 person

  11. Chào bạn VCN,
    Đối với “Thiên cổ kỳ thư Chuyển Pháp Luân” hay là kinh sách của Đại Pháp Luân Công bạn giới thiệu, Đọt Chuối Non đã có quan điểm rất rõ ràng : “ĐCN và CVD sẽ không cho đăng bất kỳ tin gì hay comment nào có tính cách hỗ trợ Pháp Luân Công. VN đã có đủ vấn đề về hiểu biết tâm linh chính đạo, không cần có thêm những nhóm điên tối ngày tuyển mộ người thiếu hiểu biết chạy theo.” Bạn có thể đọc thêm những thảo luận về vấn đề này tại các comment trong bài: HỌC VIÊN PHÁP LUÂN CÔNG LÃNH 3 NĂM TÙ

    Về nhận định của cá nhân mình, dù là Pháp Luân Công có giá trị hướng thiện và có một số bài tập khí công rất tốt cho sức khỏe (gốc là mượn bên Khí công của Đạo gia), tuy nhiên trong tư tưởng cao nhất thiếu sự tinh tuyền của Tình Yêu tuyệt đối, Khiêm tốn tuyệt đối như trong các Đạo lớn khác. Ví dụ, Chương đầu tiên của cuốn Chuyển Pháp Luân Công nhấn mạnh nhiều lần: “Chân-Thiện-Nhẫn là tiêu chuẩn duy nhất để nhận định người tốt xấu” (trang 15-18). Ngay trong lý luận cao nhất về Chân Thiện Nhẫn đã thấy có vấn đề về tư tưởng vì chánh đạo thực sự đứng cao hơn thiện ác, vì trời mưa trên khắp nhân gian, “Thượng đế làm mưa trên người công chính và kẻ bất công”, chúng ta cần vô chấp để yêu tất cả mọi người không loại trừ ai.
    Thân,
    PTH

    Liked by 2 people

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s