… Kate Nowak đã nói như thế này trong quyển sách May You Be Blessed của bà:
“Trong tâm trí tôi, tôi thấy một ngọn nến đang được một người khác thắp sáng và rồi đến lượt, nó lại thắp sáng cho một ngọn nến khác. Cho đến khi ánh sáng của một triệu ngọn nến soi sáng thế gian. Một triêu người cảm thấy tốt đẹp hơn về bản thân. Cả triệu người được chúc phúc. Đó là một hình ảnh tuyệt vời và là hình ảnh thường có trong tâm trí tôi. Với sự giúp đỡ của những người khác, có lẽ nó sẽ sớm trở thành hiện thực.”
Và bà đã trích câu danh ngôn sau của Albert Schweitzer. Câu này đã được post trong bài Hãy Cho
Đôi khi ánh sáng của chúng ta lụi đi, nhưng lại được thổi bùng lên bởi một cuộc gặp gỡ với một người nào khác. Mỗi chúng ta biết ơn sâu sắc những ai đã nhen nhóm ngọn lửa nội tâm này.
Mời các bạn đọc bài thơ May You be Blessed dựa theo tác phẩm cùng tên của Kate Nowak
.
NGUYỆN CẦU ÂN PHÚC CHO EM
.
Nguyện cầu ân phúc cho em
Cầu cho niềm vui của em như sao trời không đếm được
Cầu cho thắng lợi của em nhiều hơn cát biển trên tất cả đại dương
Chỉ có thiếu thốn và đấu tranh làm em thêm mạnh mẽ
Và cầu cho cái đẹp, trật tự và sung túc luôn ở bên em
Cầu cho mọi con đường em chọn dẫn đến nơi trong sạch, tốt lành, và đẹp đẽ
Cầu cho mọi nghi ngờ, sợ hãi được thay thế bằng một niềm tin sâu xa, mãi mãi,
khi em thấy được bằng chứng về một SỨC MẠNH LỚN HƠN quanh em.
Và khi chỉ có bóng tối và giông bão cuộc đời bủa vây,
cầu cho trái tim em soi sáng thế gian.
Cầu cho em biết rằng mình luôn được nhiều yêu thương
Cầu cho em sẵn sàng đáp lại tình yêu vô điều kiện
Cầu cho em luôn thấy được che chở và ôm ấp trong tay Chúa như con trẻ dấu yêu
Và khi em muốn phê phán, cầu cho em nhớ rằng chúng ta ĐỀU LÀ MỘT.
Cầu cho mọi ý nghĩ của em vang vọng khắp vũ trụ làm xúc động mọi sinh linh
Và khi em muốn ngăn giữ tình yêu, cầu cho em nhớ rằng
tình yêu đẹp nhất là khi tuôn chảy tự nhiên
Và chính khi cho đi ta nhận được tặng vật lớn nhất của đời
Cầu cho em luôn có được âm nhạc và tiếng cười
Và cầu cho cầu vồng tiếp sau bão tố
Cầu cho niềm tự hào rửa trôi mọi chán nản
Cầu cho niềm vui hoà tan mọi nỗi buồn và tình yêu làm dịu mọi nỗi đau
Cầu cho mỗi vết thương mang lại hiểu biết và cầu cho mọi nỗ lực mang thắng lợi
và từng ngày mới em sống giàu có hơn hôm qua
Cầu cho em được ân phúc và cầu cho những người khác được chúc phúc từ em
Lời cầu chúc chân thành của các anh chị là đây:
Nguyện cầu ân phúc cho em
.
Huỳnh Huệ dịch
.
.
.
MAY YOU BE BLESSED
May you be blessed
with all things good.
May your joys, like the stars at night,
be too numerous to count.
May your victories be more abundant
than all the grains of sand
on all the beaches
on all the oceans
in all the world.
May lack and struggle be always
absent from your life
and may beauty order and abundance
be your constant companions.
May every pathway you choose
lead to that which is pure and good and lovely.
May every doubt and fear
be replaced by a deep abiding trust
as you behold evidence of a Higher Power
all around you.
And when there is only darkness
and the storms of life are closing in
May the light at the core of your being
illuminate the world.
May you always be aware you are loved beyond measure
and may you be willing to love unconditionally in return.
May you always feel protected and cradled
in the arms of God,
like the cherished child you are.
And when you are tempted to judge
may you be reminded that we are all ONE
and that every thought you think
reverberates across the universe,
touching everyone and everything.
And when you are tempted to hold back,
may you remember that love flows best when
it flows freely
and it is in giving that we receive
the greatest gift.
May you always have music and laughter
and may a rainbow follow every storm
May gladness wash away every disappointment
may joy dissolve every sorrow
and my love ease every pain.
May every wound bring wisdom
and every trial bring triumph
and with each passing day
may you live more abundantly than the day before.
May you be blessed
And may others be blessed by you.
This is my heartfelt wish for you.
May you be blessed.
.
Waking up at dawn, knocking light on the sky, listening to every sound, what can I hear, what can you hear, what can the human beings hear? Nothing or many things echo vasty in the infinitive library of the universe. It depends on our minds. The more our wisdom eyes open the more we get. The wisdom eye can see all things as unreal. With the wisdom-eye, even though we are not Bodhisattva, or Zen practitioner, people can take in at a glance all the wonders and inconceivabilities of the spiritual realm to its deepest abyss.
The more with wordiness and intellection, the further astray people go away. Dropping off wordiness and intellection, there is no place where we can not pass freely. And we can understand the others, nevertheless their characters are very opposite with our egos.
As long as you seek for something, you will get the shadow of reality and not reality itself. Because there are still mystic things to hide in the reality. This thoughts exist in my mind, when I think of the friendly and warmly members of our quiet forum. They used to join the ebullient forum, where have many things and persons for arguing or chatting. But as they leave their old forum, and choose the small and quiet one for living, that means they have “their own reasons.
It does not matter who really are they, I myself really respect them. Because I know they write, express their own experiences about the life, the love, and human beings very specially.
By the way, they have their “own trademarks”.
You would like to know who are they, don’t you? Let yourself read all topics in this peaceful forum. You will “see” them.
Vivian
Cảm nhận
Thức giấc khi trời vừa sáng, gõ nhẹ lên khung trời, lắng nghe từng âm thanh, tôi nhận biết điều gì, bạn nhận biết điều gì, cõi người ta nhận biết điều gì? Không có gì, hay có nhiều điều hiển lộng trong tàng kinh các vô thủy vô chung của vũ trụ? Điều này tùy thuộc vào tâm ý của chúng ta. Trí huệ rộng mở nhiều bao nhiêu, chúng ta nhận biết nhiều bấy nhiêu. Con mắt trí huệ thấy vạn vật đều là không ( = vạn hữu giai không). Bằng con mắt trí huệ, cho dẫu không phải là Bồ Tát, không phải là hành giả, người ta vẫn có thể phóng tầm mắt nhìn vào tất cả những điều kỳ diệu, bất khả tư nghi của cảnh giới tâm linh, nhìn thấu tận hố thẳm sâu xa nhất của những điều này.
Càng nói càng tỏ ra khôn ngoan bao nhiêu, người ta càng loay hoay, quẩn quanh lo lắng bấy nhiêu. Buông bỏ ý niệm và tri thức, chúng ta thanh thản, tự do suy nghĩ. Chúng ta có thể thấu hiểu người khác, cho dẫu cá tính của họ rất đối lập với cái tôi của chúng ta.
Khi bạn tìm kiếm một điều gì, bạn sẽ chỉ nhìn thấy cái bóng của thực tại, chứ không phải bạn nhìn thấy chính thực tại. Bởi vì vẫn có điều kín nhiệm, ẩn giấu trong chính thực tại đó. Cảm nhận này phát sinh trong lòng tôi, khi tôi nghĩ đến những thành viên nồng nàn thân ái, trong diễn đàn thầm lặng của chúng tôi. Họ từng tham gia một diễn đàn sôi nổi, nơi có nhiều người, có nhiều vấn đề để tranh luận, hay để trò chuyện.
Nhưng khi họ từ bỏ sân chơi cũ, chọn một nơi thầm lặng để sinh hoạt, có nghĩa là họ có “lý do riêng”.
Không cần biết họ thực sự là ai, bản thân tôi thật rất tôn trọng họ. Bởi vì tôi biết họ viết, truyền đạt những kinh nghiệm của họ về cuộc đời, về tình yêu, về nhân loại vô cùng đặc biệt. Nói cách khác, họ có “thương hiệu riêng”.
Phải chăng bạn muốn biết họ là ai? Hãy đọc tất cả những chủ đề trong diễn đàn thanh an này. Bạn sẽ “thấy” họ.
Có 1 ông già sống ở 1 trang trại trên núi ở phía đông bang Kentucky với đứa cháu trai nhỏ của ông. Mỗi sáng, ông ta dậy sớm ngồi trong bếp và đọc kinh Koran.
Cháu trai của ông ấy muốn được như ông và cố gắng bắt chước ông ta mọi cách mà cậu có thể. Một ngày nọ, cậu hỏi “Ông ơi, cháu đã cố gắng đọc kinh Koran như ông nhưng cháu không hiểu nó, và những thứ cháu hiểu thì cháu lại quên ngay khi gấp sách lại. Đọc kinh Koran sẽ có ích gì ạ ?”
Ông ta lặng lẽ lấy than bỏ vào lò và quay lại đáp: “Hãy mang cái rổ than nay xuống dưới sông và mang lại cho ta một rổ nước” Cậu bé làm theo những gì ông nói nhưng nước chảy hết ra ngoài trước khi chú bé về đến nhà. Ông ta cười và nói: “Lần tới, cháu phải chạy nhanh hơn 1 chút” và ông sai cậu ra sông để thử lại với cái rổ .
Lần này, cậu bé chạy nhanh hơn, nhưng lại 1 lần nữa, rổ lại rỗng trước khi cậu chạy về nhà. Thở đứt hơi, cậu nói với ông rằng việc lấy nước bằng 1 cái rổ là không thể và cậu đi lấy 1 cái xô để thay thế.
Ông nói: “Ta không muốn 1 xô nước, ta muốn 1 rổ nước cơ. Cháu chỉ không đủ cố gắng thôi”. Và ông ấy đi ra cửa xem cậu ta thử lại.
Tới lúc này, cậu bé biết rằng đây là 1 việc bất khả thi nhưng cậu ấy muốn cho ông ấy thấy rằng dù mình chạy nhanh hết sức nhưng
nước sẽ chảy hết trước khi cậu về tới nhà.
.
Một lần nữa, cậu nhúng rổ xuống sông và chạy thật nhanh nhưng khi cậu tới được chỗ ông thì cái giỏ lai trống không
Hổn hển thở, cậu nói: “ông thấy không,thật vô dụng thôi!”
“Thế cháu nghĩ nó vô dụng sao?” Ông ta nói “nhìn cái giỏ kìa”
Cậu bé nhìn cái giỏ và nhận ra nó khác hẳn. Cái giỏ than đã chuyển từ cũ, dơ bẩn và bây giờ thì nó sạch từ trong tới ngoài
“Cháu à, đó là những gì xảy ra khi con đọc kinh Koran. Con có thể không hiểu hoặc nhớ tất cả mọi thứ, nhưng khi con đọc nó, con sẽ được thay đổi, bên trong lẫn bên ngoài.. Đó là việc của Chúa trong cuộc sống của chúng ta.”
Phạm Hoàng Hiệp dịch
Lớp 6 THCS Tân Lợi
.
A BASKET OF WATER
An old man lived on a farm in the mountains of eastern Kentucky with his young grandson. Each morning Grandpa was up early sitting at the kitchen table reading his Quran.
His grandson wanted to be just like him and tried to imitate him in every way he could. One day the grandson asked, “Baba, I try to read the Quran just like you but I don’t understand it, and what I do understand I forget as soon as I close the book. What good does reading the Quran do?”
The Grandfather quietly turned from putting coal in the stove and replied, “Take this coal basket down to the river and bring me back a basket of water.” The boy did as he was told, but all the water leaked out before he got back to the house. The grandfather laughed and said, “You’ll have to move a little faster next time,” and sent him back to the river with the basket to try again.
This time the boy ran faster, but again the basket was empty before he returned home. Out of breath, he told his grandfather that it was impossible to carry water in a basket, and he went to get a bucket instead.
The old man said, “I don’t want a bucket of water; I want a basket of water. You’re just not trying hard enough,” and he went out of the door to watch the boy try again.
At this point, the boy knew it was impossible, but he wanted to show his grandfather that even if he ran as fast as he could, the water would leak out before he got back to the house.
The boy again dipped the basket into river and ran hard, but when he reached his grandfather the basket was again empty.
Out of breath, he said, “See Baba, it’s useless!”
“So you think it is useless?” The old man said, “Look at the basket.”
The boy looked at the basket and for the first time realized that the basket was different. It had been transformed from a dirty old coal basket and was now clean, inside and out.
“Son, that’s what happens when you read the Quran. You might not understand or remember everything, but when you read it, you will be changed, inside and out. That is the work of God in our lives.”
.
Yamaoka Tesshu, lúc còn là một thiền sinh trẻ, thăm hết thiền sư này đến thiền sư nọ. Chàng đến thăm Dokuon ở chùa Shokoku.
Muốn chứng tỏ là mình đã ngộ, Yamaoka nói: “Tâm, Phật, và mọi sinh linh, rốt cuộc, đều không hiện hữu. Bản chất thật của mọi hiện tượng là không. Không có đạt đạo, không có ảo ảnh, không có thánh nhân, không có phàm phu. Không có bố thí, không có nhận bố thí.”
Dokuon, đang hồi hút thuốc yên lặng, chẳng nói gì. Đột nhiên Dokuon lấy ống píp tre đánh Yamaoka. Chàng thiền sinh tức giận.
“Nếu không có gì hiện hữu,” Dokuon thắc mắc, “vậy thì cơn giận này đến từ đâu?”
.
Bình:
• Chàng thiền sinh trẻ Yamaoka này về sau thành thầy của Thiên hoàng.
• Nói rằng mọi sự “có” tức là “chấp có”, nói rằng mọi sự “không có” là “chấp không”. Cả hai chấp đều là chấp.
Con đường Phật pháp là “trung đạo” (đường giữa)—có mà là không, không mà là có (sắc bất dị không, không bắc dị sắc—sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc).
Có đó mà mất đó. Đóa hoa hôm nay thấy đây, ngày mai có thể héo tàn rủ chết.
Con người của ta hôm qua đã chết rồi, và hôm nay đã là một người mới. Sinh tử sinh tử nối tiếp từng sát-na ngắn ngủi trong dòng sống. Trong bài Tái sinh trong nguồn sáng, chúng ta có nói: “Mỗi giây đồng hồ, từ 200 ngàn đến 3 triệu tế bào trong cơ thể chúng ta chết đi và được thay thế bằng tế bào mới. Sau một giây đồng hồ, ta đã là con người mới với ngần ấy tế bào mới. Đời ta là một chuỗi của vô lượng cuộc tái sinh như thế, cũng như một đường kẻ thẳng chỉ là một chuỗi các điểm chấm nằm sát nhau.”
Đó là chuyển dịch liên tục, thay đổi liên tục. Đó là “vô thường” (không cố định, không thường hằng).
• Cô Bình hôm qua rất là sừng sộ, dữ dằn. Nhưng có thể cô Bình đó đã chết rồi và cô Bình hôm nay là một cô Bình mới có thể đầy yêu thương và nhân ái. Cho nên đừng lấy hình ảnh cô Bình hôm qua để đối xử với cô Bình hôm nay.
Thái độ rộng mở như vậy gọi là “vô chấp”.
Vì thế gian “vô thường”, nên ta cần “vô chấp.”
• (Đối với mọi người phần bên trên là đủ, phần này chỉ thêm cho người rất vững về lý luận. Người chưa thật vững về lý luận thì không nên đọc, hoặc nếu đọc vì tò mò thì sau khi đọc xong hãy quên ngay đi).
Khi chúng ta nói “mọi sự đều là Không” (tạm thời dùng chữ “Không” viết hoa), thì Không đây không có nghĩ là không có, mà là bản tính thật của mọi sự, với cái tên là Không.
Thí dụ dễ hiểu nhất là nước và sóng. Đứng nhìn biển ta thấy sóng—sóng là hiện tượng vô thường, biến hiện từng giây đồng hồ, sóng sinh ra rồi sóng tan, để con sóng mới đến… Sóng thì phù du vô thường, nhưng nước thì luôn luôn ở đó. Sóng là “hiện tượng” vô thường (non-permanent phenomenon), nước là “bản tính” thường hằng (permanent essence).
Thí dụ cao hơn: Hãy tưởng tượng vũ trụ là một khoảng Không vĩ đại. Từ khoảng Không đó mọi thứ sinh ra – cây cỏ, trái đất, tinh tú, tôi, bạn…–và khi sự gì chết đi thì lại trở về với khoảng Không đó. Mọi sự có sống có chết là hiện tượng vô thường (non-permanent phenomenon). Khoảng Không chẳng bao giờ thay đổi đó là bản tính thường hằng (permanent essence).
Suy tưởng mức cao hơn: Tất cả mọi thứ trong vũ trụ mà ta có thể tưởng tượng được đều là phù du vô thường (non-permanent phenomenon) hay “tương đối” (relative), và đều được sinh ra từ một cái nền vĩ đại thường hằng (permanent essence) hay “tuyệt đối” (absolute)–cái thường hằng vĩ đại này là Không, là Thượng Đế, là Allah, là Tuyệt Đối.
Đó là liên hệ giữa tương đối (relative) và tuyệt đối (absolute) mà mọi triết thuyết đông tây đều cố gắng khai triển.
Mọi tương đối đều từ Tuyệt Đối mà ra và luôn luôn nằm trong Tuyệt Đối.
Nhà Phật nói rằng mọi sự là Không, từ Không mà đến, và lại trở về Không là như thế. Đây là chữ Không của Bát Nhã Tâm Kinh.
(Đổi chữ Không thành chữ Chúa hay Allah, thì thành câu nói Thiên chúa giáo hay Hồi giáo: Mọi sự từ Chúa/Allah mà đến, và lại trở về Chúa/Allah).
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Nothing Exists
Yamaoka Tesshu, as a young student of Zen, visited one master after another. He called upon Dokuon of Shokoku.
Desiring to show his attainment, he said: “The mind, Buddha, and sentient beings, after all, do not exist. The true nature of phenomena is emptiness. There is no realization, no delusion, no sage, no mediocrity. There is no giving and nothing to be received.”
Dokuon, who was smoking quietly, said nothing. Suddenly he whacked Yamaoka with his bamboo pipe. This made the youth quite angry.
“If nothing exists,” inquired Dokuon, “where did this anger come from?”
Đề tài này là ba điều căn bản cho chính bản thân mỗi người chúng ta, và cũng cho đất nước của ta—cho ta và cho đất nước ta cùng một lúc. Sở dĩ thế vì thường là điều gì tốt cho ta thì cũng tốt cho đất nước–đất nước chỉ là các cá nhân chúng ta tụ lại mà thành.
Nhưng tại sao chúng ta muốn nói đến “ta” và “đất nước” như cặp bài trùng? Thưa, vì đó là một điều tương đối hiển nhiên nhất để sống với cái “ta” không vị kỷ. Ta mà chỉ là “tôi” thì rất vị kỷ. Ta cho “cô hàng xóm” bên cạnh, cũng rất vị kỷ. Ta cho “gia đình” của ta, thì ít vị kỷ một tí hơn “tôi”, nhưng vẫn còn rất vị kỷ.
Ra khỏi gia đình mới bắt đầu hết vị kỷ–làng xóm, thành phố, đất nước. Cho các tập thể ngoài gia đình, “dân tộc” hay “đất nước” thường được sử dụng nhiều nhất để nói đến cái tâm phục vụ, cái tâm vị tha của con người. Nếu ta nói “nhân loại” thì càng tốt hơn cả “đất nước.” Nhưng “nhân loại” thường quá rộng và quá trửu tượng cho những người trung bình để họ có thể nắm được ý tưởng, trong khi “đất nước” thì rất rõ ràng cho đa số người trên thế giới, nên ở đây ta dùng “đất nước.”
Cho cả ta và đất nước, có ba điều cản bản mỗi chúng ta cần thành thục:
1. Tính sáng tạo: Nếu không sáng tạo thì năm nay đang ngủ trong hốc đá như người ở động đá (caveman), một ngàn năm nữa con cháu vẫn ngủ trong hốc đá.
Tính sáng tạo đòi hỏi ta đặt câu hỏi thường xuyên: Tại sao không ngủ ngoài trời? Tại sao không làm cách nào để ngủ gần bờ biển thay vì trên núi? Tại sao ta không ngủ bất cứ nơi nào ta đang đứng ban đêm? Làm sao để thực hiện được các ý định đó? Tại sao cha ông ta làm điều này? Tại sao ta nên làm theo? Tại sao ta nên làm khác đi?…
Phân tích (hỏi) và phê phán là điều kiện tiên quyết để sáng tạo. Không hỏi và phê phán—chỉ biết gọi dạ bảo vâng ăn ngủ–thì không thể có sáng tạo.
2. Tính hành động: Hỏi 100 năm cũng chẳng được gì nếu ta không hành động. Hành động là… hành động. Nếu khu xóm ta nhiều rác quá, ngưng xả rác và bắt đầu nhặt rác, ít nhất là quãng ngay trước nhà mình.
Việc này không cần suy tính, chiến lược chiến thuật, vận động tuyên truyền. Cứ làm đi, ngay lúc này, làm được việc gì có thể làm lúc này. Hành động làm cho thế giới thay đổi. Hành động là sáng tạo ra điều mới, là biến tư tưởng sáng tạo thành hiện thực sáng tạo.
3. Kỹ năng làm việc nhóm (teamwork)
Đây là kỹ năng yếu nhất của người Việt. Nếu bỏ tất cả mọi sự và kể đến chỉ một điểm yếu của người Việt mà ta cho là đầu mối của tất cả mọi nghèo đói của dân ta, thì ta có thể nói đến “teamwork.”
Và vấn đề teamwork chúng ta đã có cơ hội nghiên cứu nó 35 năm liền trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Đây là một môi trường lý tưởng để nghiên cứu vấn đề rất rộng lớn này. Ở trong nước thì xưa nay vẫn không được tự do ăn nói và tổ chức như ở nước ngoài, cho nên nghiên cứu về teamwork không được tốt.
Ở nước ngoài, người Việt chúng ta có tự do muốn nói gì thì nói, muốn viết gì thì viết, muốn thành lập hội hè bè nhóm gì đó thì tha hồ. Và hậu quả 35 năm liền cho thấy, chúng ta chưởi bới nhau, đì nhau, hạch sách nhau, sát phạt nhau… thường xuyên, hàng ngày, đủ mọi cách… dù cho mọi người than phiền chán nản, dù cho mọi cố gắng để “đoàn kết”, dù cho người “trí thức” hay “chân tu” nhúng tay vào … dù cho… dù cho… Nếu tụ 10 người Việt ngồi lại làm việc, rất có khả năng lớn là trong một thời gian rất ngắn, 10 người này sẽ chia thành ba nhóm thanh toán nhau… tìm cách đì nhau… Dù cho ai có giải thích khuyên lơn thế nào cũng vô ích. Câu chuyện “teamwork” của người Việt ngày nay vẫn còn nóng hổi với các spam mail mà các bạn nhận hàng ngày, và nếu các bạn đã từng bỏ vài giây liếc qua các spam mail là thấy ngay các đấu đá. Chẳng có gi đáng ngạc nhiên.
Điều quan trọng là, mọi người trong cuộc đều có lý đo để tin rằng họ hành động kiểu trẻ con và bệnh hoạn như vậy là đúng—vì hắn gian đối, vì hắn tự kiêu, vì hắn không biết teamwork, vì hắn quá cực đoan, vì hắn quá bảo thủ, vì hắn chẳng hiểu gì, vì hắn… vì hắn…
Các “vì hắn…” này luôn luôn đúng, thế mới chết. Ít nhất là đúng với người nói ra từ “vì hắn.” Và nếu bạn nghĩ là người đó nói sai, thì bạn chẳng hiểu gì hết. Không thể giả thiết là mọi người nói sai hết như vậy.
Thông thường là, người nói “vì hắn…” có một vài căn bản nào đó trên thực tế để quyết đoán điều “vì hắn…” này. Và chính vì vậy mà người nói “vì hắn” thường nói đúng một phần nào đó, dù chưa chắc đúng 100%; ít ra là thế trong đầu họ. Và vì vậy, người đó thực sự có vấn đề “với hắn” và “với cả team.”
Và chính vì “vì hắn” thường có căn bản chủ quan “đúng” như thế, cho nên người Việt chúng ta có vấn đề teamwork rất lớn, không thể giải quyết được.
Nếu so sánh tác phong teamwork của người Việt và người Mỹ (là nhóm dân mình có kinh nghiệm quan sát rất kỹ), thì người Mỹ cũng có hàng triệu cái “vì hắn…” chẳng khác ta một tí nào. Điểm khác biệt duy nhất là ta dùng “vì hắn” để đập vỡ team, thì người Mỹ tự động gạt tất cả các “vì hắn…” ra khỏi đầu khi ngồi vào team.
Khi ngồi vào team người Mỹ có một thái độ duy nhất: Cả team phải làm việc với nhau thế nào để làm lủng lưới địch thủ. Tất cả mọi tư tưởng khác về đồng đội sẽ tự động bị gạt ra ngoài suy tưởng—tên này hay tranh công, tên này hay giữ bóng trong chân hắn, tên này hay ba hoa, tên này hay kiêu căng… Tất cả các định giá này vẫn có đó, nhưng không ai nghĩ đến nó khi làm việc cho team. Nếu cần thì nhắc một câu “Cậu đừng giữ bóng trong chân lâu quá” hay “cậu đừng ham tranh công nhiều thế, có hại”—nhưng dù là gì, thì tất cả đều không ảnh hưởng đến mục tiêu duy nhất trong các nhóm viên là “làm việc chung để thắng.”
Trong một nhóm chỉ có một tư tưởng là đúng: “Làm việc chung để thắng.” Tất cả các chuyện khác–vì hắn… vì mày… vì anh…–không bao giờ được cho phép ảnh hưởng gì cả trong một team Mỹ. Một người có thể mắng người kia việc gì đó—stupid, tham lam, v.v…–và những lời mắng như vậy, đù đúng hay sai, thường bị gạt ra ngoài đầu ngay lập tức. (Nếu ấm ức, thì thắng xong có thể ra ngoài uống cà phê hỏi lại cho rõ. Nhưng khi đang làm việc team thì chẳng ai thắc mắc. Nếu có người thắc mắc, họ sẽ nhận được những cái nhìn ngạc nhiên tròn xoe. “Sao lại nói chuyện đó lúc này?”).
Đây là văn hóa sống, văn hóa team, ta không thể nói “Tại sao họ không giải quyết xong các ‘vì hắn’ trước khi ngồi vào team?” Câu trả lời là “không thể”, vì ta luôn luôn có hàng chục “vì hắn” cho mỗi người—và “không cần”, vì ta đã gạt bỏ hết mọi “vì hắn” như là không quan trọng khi ta làm việc nhóm. Hắn có kiêu căng hay lười biếng hay thích tranh công cũng chẳng ai quan tâm, miễn hắn chuyền bóng tốt cho anh em là được.
Chúng ta đã may mắn có 35 năm kinh nghiệm và quan sát để biết được vấn đề teamwork của chúng ta nằm ở đâu, mạnh đến thế nào, và thế nào để giải quyết. Và chúng ta phải giải quyết nó, nếu ta muốn đất nước ta ra khỏi cái nghèo hèn truyền kiếp.
Và cách giải quyết rất giản dị: “Khi ngồi vào team chỉ có một qui luật là đúng: Làm việc chung để thắng.” Tất cả mọi “tại vì… vì hắn… vì anh…” đều phải đặt bên ngoài đầu, và đều phải xem là sai khi nó chúng còn ở trong đầu.
Qui luật giản dị. Nhưng việc quan sát teamwork của chúng ta trong 35 năm qua cho biết đây là vấn đề khó khăn hàng đầu cho người Việt, không gì khó hơn. Chỉ vì ta… không làm thế được.
Nhưng dù được hay không thì vấn đề vẫn rất giản dị: Tương lai của mỗi người chúng ta và của đất nước nằm trong tay teamwork này.
Người cha trở về nhà trong lòng đang đầy những lo lắng về công việc dở dang của một người nhạc sĩ.
Cô con gái nhỏ vẫn vô tư đùa nghịch với chiếc váy và quay khắp nhà trong tiếng nhạc.
Cô đâu biết ông đang còn có biết bao việc phải làm tối nay.
Đôi mắt ngây thơ ngước lên nhìn cha.
“Ba ơi, nhảy cùng con nhé. Chỉ còn một tuần nữa là đến buổi tiệc rồi. Con sẽ gặp một hoàng tử ở đó và con muốn mình thật ấn tượng. Con muốn tập nhảy. Ba dạy con nhé?”
Tất nhiên rồi, có người cha nào lại có thể từ chối một lời yêu cầu dễ thương như thế, dù con gái có biết là cha đang còn bao nhiều việc phải làm tối nay không?
Nhưng cha cũng không thể bỏ lỡ cơ hội để nhảy cùng với Lọ Lem bé nhỏ đang nằm trọn trong vòng tay cha.
Vì cha biết rằng, khi đồng hồ điểm 12 tiếng lúc nửa đêm, Lọ Lem của cha sẽ biến mất.
So I will dance with Cinderella
While she is here in my arms
‘Cause I know something the prince never knew
Oh, I will dance with Cinderella
I don’t want to miss even one song
‘Cause all too soon the clock will strike midnight
And she’ll be gone
She will be gone
Đây là câu chuyện của nhạc sĩ người Mỹ Steven Curtis Chapman với cô con gái Maria Sue Chapman, con nuôi người gốc Trung Quốc của ông. Tiếc rằng Lọ Lem Maria đã biến mất thực sự khỏi cuộc đời nhạc sĩ sau một tai nạn gia đình năm 2008.
Bài hát này hiện đang là một trong những bản nhạc gospel được yêu thích nhất ở Mỹ trong tháng 3 năm 2010.
Các bạn cùng lắng nghe bài hát và câu chuyện đáng thương của Maria Sue.
Chúc các bạn một ngày tươi hồng.
Hoàng Khánh Hòa
.
Lời bài hát.
She spins and she sways
To whatever song plays
Without a care in the world
And I’m sitting here wearing
The weight of the world on my shoulders
It’s been a long day
And there’s still work to do
She’s pulling at me
Saying “Dad, I need you
There’s a ball at the castle
And I’ve been invited
And I need to practice my dancing
Oh, please, Daddy, please?”
So I will dance with Cinderella
While she is here in my arms
‘Cause I know something the prince never knew
Oh, I will dance with Cinderella
I don’t want to miss even one song
‘Cause all too soon the clock will strike midnight
And she’ll be gone…
She says he’s a nice guy and I’d be impressed
She wants to know if I approve of the dress
She says, “Dad, the prom is just one week away
And I need to practice my dancing
Oh, please, Daddy, please?”
So I will dance with Cinderella
While she is here in my arms
‘Cause I know something the prince never knew
Oh, I will dance with Cinderella
I don’t want to miss even one song
‘Cause all too soon the clock will strike midnight
And she’ll be gone
She will be gone
Well, she came home today with a ring on her hand
Just glowing and telling us all they had planned
She says, “Dad, the wedding’s still six months away
But I need to practice my dancing
Oh, please, Daddy, please?”
So I will dance with Cinderella
While she is here in my arms
‘Cause I know something the prince never knew
Oh, I will dance with Cinderella
I don’t want to miss even one song
‘Cause all too soon the clock will strike midnight
And she’ll be gone
Ta đánh rơi tuổi trẻ của mình
Trên cuốn sách bẹp dí
Ngày yêu thương chờ đợi
Những ngôi sao rơi không có trọng lực
Chẳng thích thú nữa em ơi năng lượng dư thừa
Ngôi sao bơi trên biển Đông
chiếc thuyền đánh cá trên bến cảng
Ta cất súng vào kho tuổi trẻ thừa
Trong nhà hàng ta uống nhừ
Chẳng biết nước dâng lên mặt biển
Sự thật như đôi mắt em mà ngỡ cái giếng làng.
Lên lầu mình, ngắm trăng không,
Trời in đáy nước, trăng lồng bóng khơi.
Hỡi người cùng ngắm trăng ơi,
Cảnh xưa còn đó, người nơi nao rồi?
Đinh Đức Dược dịch
Nguyên văn:
Giang lâu hữu cảm
Độc thượng giang lâu tứ tiểu nhiên
Nguyệt quang như thủy thủy như thiên
Đồng lai ngoạn nguyệt nhân hà tại
Phong cảnh y hi tự tích niên
Triệu Hổ
Dịch nghĩa:
Cảm nghĩ khi ở lầu sông
Một mình lên lầu trên sông lòng buồn man mác
Trăng sáng như nước, nước trong như trời
Người cùng ngắm trăng với ta nay đâu rồi?
Phong cảnh nầy vẫn y như năm trước
Tuổi thơ luôn gắn với những mơ ước. Mơ ước của chung của nhiều cô cậu học trò là đừng học mà vân có kiến thức, điểm vẫn cao.
Nơi tôi ở và dạy học gần nhiều buôn của đông bào Ê Đê . Lên cấp hai nhiều em đến học ở trường tôi công tác, mỗi lớp có chừng bốn hoặc năm em ( bây giờ thì nhiều hơn). Các em hiền ngoan nhưng phần nhiều có kết quả học tập lẹt đẹt, cá biệt mới có em đạt tiên tiến . Nhiều lần trong giờ học- nhất là sau mỗi lần phát bài hiểm tra, tôi đọc thấy trên nét mặt nhiều em đang nhìn tôi nét gì đó rất thương vẻ như là ân hận, như là khát khao . Những lúc ấy tôi nghĩ giá có phép màu tôi sẽ giúp các em tiếp thu nhanh, dễ thuộc bài để các em không còn vẻ khác thường ấy nữa. Và tôi viết truyện ngắn này.
***
LÁ THUỘC BÀI
“Này . Của cậu đây. Cất nhanh kẻo mấy đứa khác thấy”
“Sao ít thế này? Tớ không chịu đâu”
“Thì cậu chả bảo là không thể nào học thuộc bốn môn là gì . Vậy phần cậu bốn lá là phải rồi”
“Ai bảo bốn . Sử, Địa, Sinh học, Công nghệ, Anh văn cả môn Văn nữa mà”
“ Rõ lắm chuyện. Thôi. Cầm lấy.”
“Tớ chả thèm nữa đâu. Cậu tham lắm. Cầu cho phép thần không đến với cậu.”
Nhỏ Hải vùng vằng với nhỏ Hằng rồi hất tay nó đang cầm nắm lá gói trong giấy bóng khiến nó rơi xuống chân H’Rơm .
“Hải, Hằng. Hai em mất trật tự. Lên bảng ngay”
Tiếng thầy Tuấn giận dữ khiến hai đứa xanh mặt, đùn đẩy nhau rồi líu ríu theo nhau đi.
Từ nãy giờ H’Rơm không nén nỗi tò mò khi nghe hai đứa thầm thì với nhau về sự thần kỳ của một loại lá. Hai đứa hí hửng ra mặt với nhau rằng từ nay sẽ chơi thoả thích, không cần học mà vẫn thoát khỏi nạn “ chào cờ ” như bấy nay khi bị thầy cô kiểm tra bài trên lớp. H’Rơm vừa phải cố ngồi nghiêm nghe thầy giảng,vừa căng tai hết cỡ mới lỏm bỏm biết công dụng và cách thức sử dụng loại lá thần đó và không cưỡng được ý muốn thấy tận mắt. Nhưng đời nào hai nhỏ đó chịu cho xem Thật may, cơ hội đã đến. Nhân lúc thầy đang hỏi tội hai nhỏ xí xọn, H’Rơm cúi nhặt lên và sững sờ. Thì ra lá thần là đây. Lá này đầy ở hiên nhà cô Mai hôm cô ốm cả lớp đến thăm, Rơm cũng đi cùng. Mình sẽ xin cô. Chỉ cần ba lá thôi.Ba lá cho ba môn Văn học, Địa lý và Anh văn. Chẳng cần đến năm như nhỏ Hải. H’Rơm mong sao giờ học qua thật mau. Kìa ! Thầy Tuấn đã cho hai đứa về chỗ sau khi cho mỗi đứa hai thước kẻ vào tay. Phải làm như không hay biết gì kẻo hai cái miệng đó xúm lại la lối thì khốn. Chút nữa tan học, đợi lớp về hết mình sẽ ghé nhà cô Mai. Nhà cô ở gần trường,trên đường về thôi mà.
H’Rơm không ham chơi như hai nhỏ Hải và Hạnh. Nhưng thuộc hết các môn học thì quá khó đối với em. Sau buổi tới trường em còn phải chăm hai con bò nữa. Hai con này là con, cháu của con bò cái mà Ama H’Un – già làng khá giả và tốt bụng cho Amí, Ama em mượn nuôi xoá nghèo. Con bò hồi đó được trả lại sau khi đẻ cho nhà em một con bê cái và bây giờ con bê đó đã là mẹ. Chúng là tài sản lớn của gia đình. Em biết thế và ra sức chăm chút. Nhưng còn việc học nữa.Nhiều môn học quá. Mỗi cô giáo có giọng nói khác nhau, em tập trung hết sức mới hiểu phần nào những gì các cô giảng. Nhất là môn Toán do thầy Tuấn dạy .May có cô H’Phương cùng là người trong buôn nên em nghe hiểu dễ dàng. Tiếc là cô chỉ dạy thể dục, môn học không cần phải thuộc từng lời. Buổi chiều đưa bò đi ăn cỏ, H’Rơm luôn mang theo vở để học Nhưng hai mẹ con nhà bò maĩ chơi lắm. Nhiều khi vừa nhẩm đọc bài được vài giòng thì chúng đã biến đâu mất, báo hại em phải tìm hụt hơi. Sợ nhất là chúng vọt ra đi lơ ngơ trên đường nhựa, xe cán thì nguy. Có lần chính mẵt em thấy con bê nhà Y Zen bị xe máy của một người chẹt chết làm Y Zen khóc sưng cả mắt bên con bê bẹp dúm.Thật tội nghiệp.
*
Thập thò một lúc H’Rơm mới dám đẩy cổng nhà cô Mai. Em giật mình khi thấy mở cửa đi ra không phải là cô mà là một anh dáng người cao. Chắc là em trai cô.
“Có việc gì vậy em? Muốn gặp cô giáo hả? Cô đi thăm bà ngoại rồi” Vừa định thụt lùi thì anh ấy lên tiếng không có vẻ gì là đáng sợ ngược lại nghe cũng ấm áp như giọng cô Mai. Thêm can đảm, em bày tỏ ý định khi đến đây.
“ Tưởng gì khó mới phải chờ có cô. Việc ấy dễ ẹt”
Vừa vui vẻ trả lời, anh vừa với tay chọn bẻ cho H’Rơm mấy nhánh thật xanh.
“Chắc là sưu tầm lá phải không ?”
“ Dạ”
H’Rơm nhận lá, mừng thầm là cô sẽ không hay biết việc này. Ít nữa khi có giờ Văn, nếu mình được kiểm tra bài mà thuộc chắc cô sẽ khen mình chăm, có tiến bộ chứ hoàn toàn không hay biết gì về “ bí quyết ” em vừa học lóm ở hai nhỏ Hải và Hạnh. Như vậy đỡ xấu hổ. Cô không cho là mình lười nhác.
“Em cảm ơn anh. Em chào anh để về”
“Ừ. Về thôi kẻo trưa lắm rồi. Mí mong lắm đó” Bỏ cẩn thận nắm lá vào cặp, H’ Rơm nhón chân chạy. Em biết mình sẽ có mặt ở nhà muộn hơn thường lệ. Biết nói thế nào với Ama,Amí đây . Nhất là Amí vốn rất nghiêm khắc.
* *
Một tuần trôi qua nhẹ nhàng.
Thứ ba tuần sau. Giờ tiếng Anh.
“Hải. Em hãy đọc và viết từ số một đến hai mươi” Cô Vân cao giọng gọi khiến nhỏ Hải giật thốt. Nhưng khác mọi khi hôm nay nó lên bảng một cách tự tin, thậm chí còn kịp ngoái lui nguýt trả câu “ Nghiêm. Chào cờ. Chào” của thằng Kiên.
“One, two, three, four …..” Cả lớp sửng sốt khi nhỏ Hải đếm rành rọt, và càng kinh ngạc hơn khi thấy nó viết không sai một nét.
“ Khá lắm. Bạn Hải hôm nay rất tiến bộ. Cô ghi điểm mười. Cả lớp cố gắng như bạn Hải nhé!”
Hải đỏ mặt sung sướng nghe cô Vân khen, trên đường về chỗ nó nheo nheo mắt với bọn thằng Kiên ra điều tự đắc. H’Rơm thoáng thấy đầu lá thuộc bài nhú ra từ cuốn sách nó cầm theo. Nó không làm sao biết H’Rơm đang mừng thầm với phép màu chỉ nó và nhỏ Hằng nắm giữ.
*
Thứ bảy.
“Cả lớp lấy giấy làm bài 15 phút”
Cô Nga chưa kịp ngồi vào bàn đã ra lệnh. Lớp loạt xoạt tiếng xé vở. H’Rơm hồi hộp lắm. Chiều hôm qua khi đi chăn bò em cũng đã mang theo sách Địa lý học như thói quen dù trước đó đã thận trọng ép lá vào sách, lầm rầm câu thần chú được nghe lóm và để tăng phần linh ứng em còn con bắt chước Amí khấn cả Giàng với thần Cây nữa. Địa lý là môn em rất sợ. Cô Nga có giọng rin rít nói lại nhanh khiến em không sao kịp nghe hiểu, mà vì không kịp hiểu hết nên học rất khó thuộc.
“Hãy cho biết tại sao có hiện tượng ngày đêm kế tiếp nhau khắp nơi trên trái đất”
Vừa đi lại cô vừa đọc câu hỏi chứ không ghi lên bảng như nhiều thầy cô khác. Lớp yên ắng lạ lùng Tiếng ngòi bút rào rào trên mặt giấy. Khe khẽ có tiếng hỏi nhau. H’Rơm kịp kết thúc câu trả lời khi cô hạ lệnh thu bài .
“ Hạnh hãy trình bày lại câu trả lời của em” cô Nga cất tập bài vào túi xách,dỏng dạc.
Nhỏ Hạnh luống cuống rồi cũng hoàn thành. Cô Nga chăm chú nghe và thủng thẳng tuyên bố ai trả lời như nhỏ Hạnh là đúng và sẽ được điểm cao. Cả lớp được thể hò reo khiến cô Nga phải gõ thước xuống bàn vãn hồi trật tự. H’ Rơm mừng ghê.Bài làm của em y sì ý nhỏ Hạnh vừa nói. Như vậy lá thuộc bài rất linh nghiệm. Nhỏ Hải rồi nhỏ Hạnh và cả em nữa đều có kết quả học khác hẳn mấy tuần trước.
*
Lại một tuần nữa trôi qua.
Sáng nay có giờ Tiếng Việt. Cô Mai đến lớp với chiếc áo dài đỏ thắm nhưng không làm sao bớt “ lạnh” cho bốn mươi học trò của cô. Tiếng Việt là môn “ kinh hoàng” với những định nghĩa rối rắm, với các bài tập hóc búa. Không riêng gì H’Rơm mà cả đứa giỏi như Lan ,Tuyết, Đăng cũng mong giờ học qua mau hoặc không bị kiểm tra bài dù ai nấy đều quí mến cô Mai vì cô rất tận tâm mà lại hiền. Tay mở sổ điểm, mắt nhìn xuống lớp cô thông báo sẽ kiểm tra ba bạn với ba nội dung đã học tuần trước. H’Rơm không ngờ kẻ thứ ba lại là mình.
“Em hãy cho biết cụm danh từ là gì? Cho ví dụ”
“Thưa cô, cụm danh từ là ..là …”
“Em cứ bình tĩnh trả lời” Cô Mai nhìn em trấn an .
“Thưa cô . Cụm danh từ là …..”
Tiếng xì xào bắt đầu.Thằng Kiên thè lưỡi trêu. Nhỏ Hoà che miệng nhắc.Tất cả khiến H’Rơm rối tinh lên. Vừa lúc em kịp hiểu ra từ mở đầu của câu định nghĩa nhỏ Hoà vừa khẽ đọc thì cũng là lúc hình ảnh Ama Y Rôkin đáng ghét hiện ra. Tối qua sau khi ăn cơm cả nhà bắt tay vào việc. Amí, Ama tẻ bắp; anh Y Ngun và H’Rơm ngồi học bài thì Ama Y Rôkin, một người nát rượu xuất hiện. Sau khi rít nhiều hơi thuốc dài Ama Y Rôkin chép miệng đòi uống rượu. Nhà không sẵn. Ama Y Rokin nhìn sang H’Rơm ngụ ý bảo em đi mua. Đang đánh vật với bài Tiếng Việt khó nhớ lại bị giục đi mua rượu H’Rơm vờ không nghe, xếp vở đi ngủ bụng bảo dạ là đã có thần lá hộ mệnh cho bài học. Bây giờ, hình ảnh của Ama Y Rôkin tối qua mồn một trong đầu em nhưng bài Tiếng Việt thì mù mịt. H’Rơm nhìn cô Mai. Chả lẽ nói với cô điều này. Cô có tin không. Lá thuộc bàiMà cô tin thì mình cũng có lỗi. Anh mắt em khiến cô Mai mềm lòng. Cô nén tiếng thở dài thất vọng lật từng trang vở của em vừa để kiểm tra vừa tìm chỗ ký. Bỗng cô cầm lên nhánh lá mảnh như tơ vừa hiện ra giữa hai trang kín chữ. Cô nhìn H’Rơm. Cô săm soi nhành lá. Một chớp loé bừng trong mắt cô. H’Rơm run lên chờ đợi .
“Thôi được. Hôm nay cô cho H’Rơm nợ. Cô sẽ kiểm tra lần khác”
Giữ lại nhành lá , cô trả vở và đứng dậy tỏ ý kết thúc phần kiểm tra bài. H’Rơm nhẹ nhõm nhưng nỗi xấu hổ khiến em không dám ngẩng nhìn ai nhất là đám mấy đứa con trai hay đùa ác.
“Lá này có tên là thuộc bài. Đẹp quá phải không các em ?” Khác hẳn mấy giây trước đó, cô Mai sôi nỗi hẳn, giọng nói vốn đã trong càng thánh thót hơn .
“Ai biết lá có từ đâu ?” Cô bước khỏi bục, hỏi.
Cả lớp nhìn nhau ngơ ngác. Chả lẽ cô không biết lá có từ cây! Mà cây thì mọc trên đất. Hay cô định đố gì đây. Chỉ vào nhỏ Hương cô hỏi lại câu hỏi kỳ cục một lần nữa.
“Thưa cô, từ cây ạ!”
“Cây có từ đâu?” Chỉ vào thằng Tý đang lén che miệng cười, cô lại hỏi.
“Thưa cô … Từ ….đất ạ” Tý đứng dậy mặt đỏ vì nín cười, lúng búng trả lời. Chợt nhớ ra nó tiếp luôn một hơi như sợ quên.
“Thưa cô. Cây mọc từ đất. Cây sinh ra cành, nhánh. Từ cành nhánh sinh ra lá, hoa. Hoa sinh ra trái. Trái có hạt. Đem hạt gieo xuống đất ta lại có cây ạ! Ngoài ra cây cũng có thể sinh từ một ….”
Tý lúng túng, nó không biết phải gọi là gì khi nhớ ra cây khoai mì mọc từ một khúc cây mì khác, hoặc cây lá bỏng mọc từ một lá bỏng khác và càng hết sức lúng túng khi cả lớp cười rần rần trước kiến thức về môn sinh học mà thường ngày nó rất tệ được trình bày một cách ngon ơ .
“Bạn Tý nói rất đúng”
Cô Mai lên tiếng chặn bốn chục cái miệng đang lợi dụng cơ hội để ngoác hết cỡ mà cười rung lớp học không chừng sẽ bị ban giám hiệu phê bình .
“Vậy muốn cây có nhiều quả thì ta phải làm gì?”
“ Ô hay. Cô Mai của chúng em ơi!” Cả bốn chục cái đầu thầm nghĩ và chúng đồng thanh nói thầm bằng ánh mắt đắc chí. “ Phải chăm bón, tưới nước cho cây chứ còn sao nữa. Quanh đây nhà nào chẳng trồng cà phê. Cô không thấy sao “
“Cô biết các em định nói gì rồi. Vậy cô hỏi cả lớp, điểm học tập là cây hay quả?”
Cô Mai gây bất ngờ thêm . Ừ nhỉ. Bốn chuc bộ óc lại bị khuấy động. Cây hay quả? Quả hay cây? À. Phải rồi. Điểm được ghi vào mục kết quả học tập. Vậy điểm học tập là quả rồi chứ còn gì nữa. Vậy học trò cũng là cây luôn.
Bốn chục cái miệng, không – ba chín thôi vì H’Rơm bận há ra thích thú, đồng thanh reo:
“Quả. Quả.Quả.”
“Thế là các em đã hiểu. Điểm học tập của ai là thứ quả do ngươi đó quyết định. Ai thông minh chăm chỉ thì quả tròn đẹp. Ai chậm trí mà không cần cù hoặc mải chơi thì quả nhỏ, lép. Phải vậy không các em?”
Giơ cao cánh lá mỏng manh cô Mai tủm tỉm:
“Chiếc lá thuộc bài tự kể chuyện mình. Đó là đề bài làm thêm cho tiết tập làm văn tuần đến mà cả lớp cần chuẩn bị. Nghe chưa?”
Hướng về phía H’Rơm cô cười ý nhị. Em ngượng quá, cúi mặt chẳng dám nhìn cô nhưng bụng nói với cô rằng “Còn em. Em sẽ kể chuyện cô giáo dạy văn của em. Thưa cô”
Cô Mai không hề hay biết rằng nhỏ Hải và nhỏ Hạnh đang len lén thả ra khỏi mấy cuốn vở những nhành lá mỏng manh như lá cô đang cầm trên tay với vẻ nâng niu dường kia. Những lá thuộc bài chao nhẹ xuống gầm bàn đậu lại chân H’Rơm.
Em cúi nhặt, tự nhủ “ Mình sẽ giữ mãi, nhưng không phải để dễ thuộc bài”.
The American Dream – Giấc mơ Mỹ là khái niệm lần đầu tiên được sử dụng bởi James Truslow Adams trong cuốn sách The Epic of America của ông viết năm 1931.
Giấc mơ Mỹ là “giấc mơ về một mảnh đất trong đó cuộc sống nên tốt hơn và giàu có hơn và đầy đủ hơn với tất cả mọi người, với cơ hội cho mỗi người tùy theo khả năng hoặc thành tích. Nó là một giấc mơ khó khăn đối với tầng lớp thượng lưu châu Âu để hiểu được một cách tương đối, và cũng nhiều người trong chúng ta tự cảm thấy mệt mỏi và nghi ngờ nó. Nó là không chỉ là một giấc mơ về chiếc ô tô và mức lương cao, mà là một giấc mơ về trật tự xã hội trong đó mỗi người đàn ông và phụ nữ có thể giành được vị trí cao nhất tùy theo khả năng bẩm sinh của họ, và được công nhận bởi những người khác vì chính con người họ, mặc cho hoàn cảnh ngẫu nhiên về mặt sinh trưởng hay vị trí.
Cội rễ của tư tưởng này không đâu khác là từ bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, trong đó có câu:
…tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng họ được Tạo hóa ban cho những quyền bất di bất dịch, trong số đó là Sinh sống, Tự do và mưu cầu Hạnh phúc.
Tuy vậy theo thời gian khái niệm Giấc mơ Mỹ cũng đã có nhiều biến đổi cùng với lịch sử của nước Mỹ. Trong giai đoạn công nghiệp hóa thế kỉ 19 và 20, từ những ý nghĩa lớn lao ban đầu, Giấc mơ Mỹ đã dần dần biến đổi thành một thứ triết lý “get rich quick”, làm giàu nhanh . Với đa số người dân Mỹ, Giấc mơ Mỹ một sự theo đuổi giàu có về vật chất: có nhà, có xe và có việc. Người Mỹ ngày càng bị cuốn vào vòng xoáy: làm việc nhiều giờ hơn để có những chiếc ô-tô lớn hơn, những ngôi nhà đẹp hơn, mua sắm nhiều hơn. Có điều là họ ngày có ít thời gian hơn để hưởng thụ chính sự thịnh vượng mà mình tạo ra.
Một Giấc mơ Mỹ ngày càng xa vời
Nếu hiểu Giấc mơ Mỹ theo nghĩa hẹp là sự theo đuổi vật chất như trên thì các con số thống kê gần đây cho thấy Giấc mơ Mỹ đang ngày càng kém lung linh và xa vời hơn trong mắt người dân Mỹ.
Một nghiên cứu cho thấy mức độ bất bình đẳng giữa mức lương của CEO và công nhân Mỹ đang ngày càng tăng theo cấp số nhân.
Mức lương của một CEO ở Mỹ trong năm 1980 gấp 40 lần mức lương trung bình của một nhân viên cùng công ty, trong khi ngày nay con số đó là 500 lần.
Trong suốt 20 năm từ năm 1979 đến năm 2000, mức lương trung bình của một công nhân Mỹ chỉ tăng có 11.5 cents một giờ mỗi năm (tính theo giá $ năm 2001). Số nhân công không có bằng cấp lên tới 100 triệu, chiếm 72.1% lực lượng lao động và mức lương trung bình của những công nhân này vào cuối năm 2000 còn thấp hơn cả so với năm 1979.
Trái lại, mức lương và thưởng của các CEO Mỹ đang không ngừng tăng nhanh chóng. Từ năm 1989 đến năm 2000, lương tăng 79%. Trong khi nếu tính cả thưởng bao gồm các khoản như thưởng quản lý, bán cổ phiếu, thưởng cổ phiếu mới, thưởng đặc biệt vv..thì con số này là 342%. Tính theo giá trị thực thì mức lương thưởng trả cho một CEO Mỹ trung bình là 2.4 triệu $ năm 1989 và 10.7 triệu $ năm 2000.
Một vấn đề nữa là lương cơ bản giảm, tức là khoảng 10 triệu người dân Mỹ đang phải chịu mức lương này và phần lớn trong số đó là những bà mẹ nuôi con một mình hoặc đàn ông là trụ cột gia đình. Năm 1979 mức lương cơ bản là 6.55$, và năm 2003 chỉ còn 4.94$ một giờ, giảm 21.4%.
Lương cơ bản giảm là nguyên nhân khiến cho nhiều người phải làm hai việc hay làm nhiều giờ hơn để đảm bảo nuôi sống gia đình. Trong khi số giờ làm việc ở các nước châu Âu như Đức giảm từ 1764 giờ xuống 1562 giờ từ năm 1979 đến năm 1998, thì ở Mỹ con số này tăng từ 1905 lên 1966. Nhiều gia đình người chồng phải đi làm hai việc còn vợ cũng phải đi làm thêm bán thời gian, thậm chí hai việc khác nhau, để có đủ tiền trang trải chi phí.
Một cuộc trưng cầu dân ý của đại học Xavier đã cho thấy rằng giấc mơ Mỹ dường như đang ngày càng vượt quá tầm tay của đại đa số dân chúng Mỹ, và họ ngày càng mất niềm tin đạt được nó.
– 68% cho rằng thế hệ con cái họ sẽ khó khăn hơn để đạt được giấc mơ Mỹ. Trừ những người dân Mỹ da đen thì lại cho rằng thế hệ họ và con cháu họ thấy dễ dàng hơn.
– 58% nghĩ rằng giấc mơ Mỹ đang trên đà đi xuống
– Những người hiểu giấc mơ Mỹ theo nghĩa là sự đảm bảo về tài chính có xu hướng tiêu cực hơn là những người nhìn nhận giấc mơ Mỹ là cơ hội, tự do và gia đình.
Nhiều người Mỹ đã nhận ra mặt trái của sự theo đuổi một Giấc mơ Mỹ về vật chất. Họ mệt mỏi vì làm việc quá nhiều, rồi mua sắm quá nhiều, rồi lại tiếp tục phải đi làm nhiều hơn để trả các hóa đơn đang ngày càng chồng chất. Rõ ràng là xét về mặt bảo đảm về vật chất, nhiều người dân Mỹ đã không có được giấc mơ của mình mà thậm chí còn là nạn nhân của chính sự theo đuổi Giấc mơ đó. Khi đặt những mục tiêu vật chất làm trọng, họ cũng đã không có được hạnh phúc hay tự do như những ý nghĩa cao đẹp nhất mà Adams đã khởi xướng.
Đồng cảm với ông, Marianne Williamson đã nhấn mạnh lại điều cốt lõi nhất của Giấc mơ Mỹ:
Giấc mơ Mỹ, khi được hiểu đúng nhất, không phải là một thứ vật chất. Hơn thế, đó là một thực tế rằng chúng ta có quyền để mơ mọi thứ. Đó là quyền để kì vọng rằng những tài năng và khả năng và sự tận tụy của chúng ta – chứ không phải là thành kiến của người khác – sẽ quyết định bản chất cuộc sống mà chúng ta sống.
Nhìn lại Giấc mơ Mỹ để thấy rằng những giá trị nhân bản sẽ luôn trường tồn với thời gian. Ngược lại sự theo đuổi vật chất không phải là con đường đi tới hạnh phúc như nhiều người trong chúng ta vẫn tưởng. Một đất nước mạnh và giàu có như nước Mỹ không có nghĩa là người dân nước đó hạnh phúc và xã hội đó phát triển bền vững.
Một giấc mơ quốc gia – Giấc mơ Việt Nam
Không chỉ có Mỹ mới có một Giấc mơ quốc gia, một giấc mơ của đại đa số dân chúng, mà còn có Giấc mơ Châu Âu, Giấc mơ Úc, Giấc mơ Canada… Mỗi một dân tộc, dựa trên hoàn cảnh lịch sử và văn hóa của mình, đều có thể có một giấc mơ chung.
Còn bạn, bạn nghĩ thế nào về một Giấc mơ Việt Nam?
Liệu rằng khi chúng ta cùng chia sẻ những suy nghĩ về giấc mơ của cá nhân mình, chúng ta có thể có được một giấc mơ chung cho toàn dân tộc?
Gasan đang ngồi bên giường thầy của mình, Tekisui, ba ngày trước khi thầy qua đời. Tekisui đã chọn Gasan làm truyền nhân.
Một ngôi chùa đã bị cháy gần đây và Gasan đang bận rộn xây chùa lại. Tekisui hỏi Gasan: “Khi xây xong chùa rồi con sẽ làm gì?”
“Khi thầy khỏe lại, tụi con muốn thầy giảng ở đó,” Gasan nói.
“Nếu như thầy không sống đến lúc đó thì sao?”
“Thì con sẽ tìm một người khác,” Gasan trả lời.
“Nếu con không tìm được người khác thì sao?” Tekisui tiếp tục.
• Các câu hỏi này rất ngớ ngẩn. Có lẽ là Tekisui đang trong trạng trái nửa mê nửa tỉnh, sắp chết.
Gasan chỉ muốn Tekisui tích cực (nghĩ đến lúc mình hết bệnh) hay là nằm nghỉ.
• Bên ngoài các lý lẽ thường tình này, Thiền là sống ở đây lúc này. Thiền sư chẳng quan tâm đến các chuyện chưa tới “nếu này… nếu nọ…” Các câu bắt đầu bằng chữ “nếu” luôn luôn làm cho người ta sống với những cái “nếu” chưa đến, và không bao giờ sống thực.
Người mà cứ lo “nếu” hoài thì mê sảng như người bệnh sắp chết.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Just Go to Sleep
Gasan was sitting at the bedside of Tekisui three days before his teacher’s passing. Tekisui had already chosen him as his successor.
A temple recently had burned and Gasan was busy rebuilding the structure. Tekisui asked him: “What are you going to do when you get the temple rebuilt?”
“When your sickness is over we want you to speak there,” said Gasan.
“Suppose I do not live until then?”
“Then we will get someone else,” replied Gasan.
“Suppose you cannot find anyone?” continued Tekisui.
Gasan answered loudly: “Don’t ask such foolish questions. Just go to sleep.”