Tạp Thi – Vương Duy

Thưa các anh chị và các bạn.

Ngọc Hoa đã giới thiệu Nguyễn Hữu Vinh qua bài viết “Nguyễn Hữu Vinh- Kẻ lưu đày trên đảo xanh” post ở dotchuoinon ngày 10-12-2009. Hôm nay Ngọc Hoa gởi đến các anh chị một bài Thơ Đường trong “50 bài thơ Đường chọn lọc” do Nguyễn Hữu Vinh dịch. Sẽ đăng các bài khác từ từ.

Chúc các anh chị và các bạn một ngày tươi sáng.

Ngọc Hoa


雜 詩

    王 維

君自故鄉來
應知故鄉事
來日綺窗前
寒梅著花未

Tạp thi

Quân tự cố hương lai
Ưng tri cố hương sự
Lai nhật ỷ song tiền
Hàn mai trước hoa vị

Vương Duy

Dịch nghĩa

Anh từ quê xưa của mình tới đây
Dĩ nhiên biết rõ chuyện ở quê nhà
(Không biết) ngày anh rời quê cất bước ra đi
Cây hoa mai trước nhà bên song cửa đã nở hoa chưa nhỉ ?

Dịch thơ

Bác từ quê mình tới
Hẳn rõ chuyện quê xưa
Ngày đi bên song cửa
Mai vàng đã nở chưa ?

Chú thích : Hàn mai: Mai gầy chưa nở hoa trong mùa đông lạnh

Nhẹ nhàng, từ từ, không ồn ào, không sáo ngữ nhưng để lộ nỗi nhớ quê tha thiết. Nhớ nhưng không nói là nhớ. Không nói là nhớ mà chỉ quan tâm tới một vài điều đơn giản và tầm thường ở quê nhà, đủ để nói lên một nỗi nhớ quê thiết tha, dào dạt

(Nguyễn Hữu Vinh dịch và bình)

Một suy nghĩ 13 thoughts on “Tạp Thi – Vương Duy”

  1. Chào mừng Vinh đến với ĐCN. Cám ơn chị Ngọc Hoa đã rinh Vinh vào.

    Đọc Đường Thi mà có người ở Đài Loan dịch và dẫn giải dùm thì chẳng còn gì hơn.

    Vinh dịch rất hay, nghiên cứu rất kỹ (mình đã đọc bài Tĩnh dạ tư, về chữ “sàng”), và lời bình rất tốt. Giúp cho anh em được nhiều.

    Từ “hàn mai” trong bài thơ này thật là thần kỳ. Một từ giản dị, mang biết bao là cảm xúc và ý tưởng. Thiên tài!

    Chờ tiếp các bài Đường thi đây 🙂

    Số lượt thích

  2. Chào chị Ngọc Hoa. anh Vinh. anh Hoành!
    Ái cũng thích bài thơ này từ lâu.
    Hình ảnh hàn mai cũng làm Ái ngờ ngợ thích thú.
    Anh Hoành chú thích thêm thì lại càng thú vị đó anh, anh nói rõ hơn chút nữa đi!

    Số lượt thích

  3. Hi Tấn Ái, để anh nói một tí về từ “hàn mai” vậy.

    Nhưng đây là nói theo cảm xúc của mình, annamít. Không hẳn hoàn toàn giống cảm xúc một người Hán đọc thơ Vương Duy; điều này thì chỉ nhờ Vinh thôi.

    Anh cũng nói đến những gì mà anh nghĩ là cây mai mang đến tự nhiên trong tâm thức chúng ta, và không chú tâm đến “‎ý nghĩa của hoa mai” mà các nhà bán hoa nói, mà ta có thể thấy trên Internet.

    • Hầu như nhà nào cũng có một gốc mai, nến nói đến mai là nói đến nhà, đến đất, đến quê hương.

    Nếu hỏi về người — anh Ba thế nào? chị Bảy thế nào — thì không gợi ra được quê hương. Vì người thì chuyển động, và người có thể rời quê hương.

    Nhưng cây đứng một chỗ. Cây là đất. Cây là quê hương.

    • Mai sống rất lâu, có thể hơn cả một đời người, cho nên khi nói đến gốc mai nhà mình, gốc mai trong làng mình, là nói đến cả một lịch sử dài của căn nhà, của làng, của quê hương. Với rất nhiều kỷ niệm của đời mình (khi mình sống gần cây mai đó).

    • Cây mai thường có hình dáng gầy gò khúc khuỷu – mình hạc xương mai – cho nên thường gợi đến tuổi tác cao, gầy ốm, nhưng sức chịu đựng cao—như là “mẹ già”.

    • Hàn mai có thể gợi đến mẹ già gầy lạnh.

    • “Hàn mai nở hoa chưa?” có thể gợi cảm tưởng lo lắng cho mẹ già.

    Nhưng rõ hơn là,

    (1) Cây mai vẫn bình thương chứ? Nếu cây mai vẫn còn đó và vẫn trổ bông đúng mùa hàng năm, thì mọi sự cũng khá ổn trong thời gian qua, và

    (2) Trời đã ấm chưa? Lòng tôi mong xuân ấm đến để mọi người ở quê nhà hết khổ vì đông lạnh.

    • Tôi thực là nhớ quê da diết, muốn biết hết mọi thứ, muốn nghe hết về mọi người, nhưng nhiều câu hỏi quá, nhiều cảm xúc quá, làm tôi choáng ngợp, chẳng biết bắt đầu từ đâu để hỏi bác, nên hỏi… chẳng đâu vào đâu cả.

    Đây là các cảm xúc và ‎ý tưởng anh thấy ngay khi đọc từ “hàn mai.” Nếu có gì đó đang ở trong tiềm thức mà mình không biết, khi nào nó trồi lên thì sẽ post tiếp.

    Ái khỏe nha 🙂

    Số lượt thích

  4. Cảm ơn anh nhé, anh Hoành!
    Em rất thích ý hàn mai gợi hình ảnh song thân, và có nghĩ đến, chưa lí giải,cũng đồng hướng với anh.
    Cái ý lòng tôi choáng ngợp lạ và hay lắm, em chưa nghĩ tới, mà thấy thật có lí.
    Em mơ hồ thoáng thấy tư cách đại diện cho tứ quí của hàn mai, với ý bạn tâm giao giờ ra sao, theo anh thì có ý đó không?
    Anh nói tiếp nếu có ý mới nhé anh!

    Số lượt thích

  5. Hi Ái,

    Đọc thơ xem tranh nghe nhạc, hiểu thế nào là quyền của người đọc người nghe. Tác giả đâu có quyền đó. Cho nên mình muốn hiểu thế nào thì cũng được thôi 🙂

    Nhưng anh chưa nghĩ đến tứ quý có lẽ là vì mai tứ quý hơi đặc biệt hơn là từ “mai” chung chung, tức là mai vàng nhà mình. Nhưng nếu có gì đó đề nối tứ quý vào mai một cách tự nhiên trong tâm thức của mình, thì có chết chóc gì đâu 🙂

    Còn một điều nữa là mình đang hiểu chữ “hàn” như là một tĩnh từ mà thôi. Nhưng nếu sau này Vinh khám phá ra được Hàn Mai (viết hoa) là tên của một loài mai đặc biệt nào đó vào thời đó, thì ta lại có thêm ý mới. 🙂

    Tiên đây, anh ghi vài từ tiếng Anh vào đây, vì thấy trên Internet chẳng mấy ai biết tên tiếng Anh của hoa mai.

    Mai vàng (thông thường nhất ở VN): Ochna integerrima
    Mai tứ quý: Ochna serrulata
    Nói chung chung “mai” thì dùng “Ochna” là đủ.
    Và Ochna là cây mai. Hoa mai là Ochna flower

    Ái khỏe nha 🙂

    Số lượt thích

  6. Ngọc Hoa cảm ơn anh Hoành đã thêm THƠ ĐƯỜNG vào danh mục bài viết cũng như sự cỗ vũ của anh Hoành, Tấn Ái dành cho NHV và thơ Đường. Hy vọng trong thời gian tới gia đình dotchuoinon có dịp thưởng thức những áng thơ bất hủ , tìm hiểu về thân thế sự nghiệp và tác phẩm của các Đường thi gia phần sưu tập của NHV.

    Số lượt thích

  7. Anh!
    Em nghĩ tứ quí là tùng trúc cúc mai cơ. Nên nghĩ đến tư cách đại diện.
    Và “hàn” trở nên có nghĩa. Chịu lạnh.( Không phải là danh từ)
    Mai thường theo mô típ thì không tượng trưng cho người quân tử ( trong tứ quí thì phải là tùng trúc), nhưng chợt nhớ Cao Bá Quát có lúc xem mai như quân tử vậy:
    Nhất sinh đê thủ bái mai hoa.
    Nên băn khoăn, có phải ý rằng: Người vẫn đến nhà ta xưa chừ còn được như xưa chăng?
    Tiếc là em có đọc Vương Duy , nhưng chỉ là giới thiệu, chưa phải là tiểu sử. Nếu không thì em đã hiểu rồi. Nện mới hỏi anh đó.
    Đáng lưu ý rằng bài thơ nằm trong thi đề “ức hữu”, và quán tính cảm nhận càng làm cho mình khó tránh khỏi những khuôn mẫu.
    Ý của em đó anh,anh trao đổi thêm về ý của anh nhé!

    Số lượt thích

  8. Hi Tấn Ái,

    Mình quên mất Cao Bá Quát. Dùng mai mà ví là người quân tử thì rất hay.

    Ái dùng từ “quán tính” rất hay. Khi đọc thơ/làm thơ mình hay chú tâm đến quán tính của mình và của người người đọc. Dĩ nhiên ý nguyên thủy của tác giả mình cũng cần biết để có thể thấm bài thơ sâu sắc hơn. Nhưng dù sao đí nữa thì một bài thơ sống lâu năm nhờ nó thích hạp quán tính của mọi người qua nhiều niên đại. Và thường là quán tinh của người đọc cho bài thơ một đời sống mới, phong phú hơn lúc nó mới sinh. Như vậy thì thơ cổ mới được ưa thích trong thời đại mới. Như là nhạc cổ điển vậy thôi. Trong thời đại mới nhiều dàn nhạc đổi cách trình tấu làm cho nó nghe hợp với khán giả đương đại hơn.

    Đọc các cổ thư (thánh kinh, kinh điển..) cũng vậy. Nhiều khi mình đọc bản văn cũ mình phải có nhiều ý mới cho đời sống mới, mà ngày xưa không có nguyên thủy. Như vậy thì sách mới “sống” được, và cách đọc của mình mới là “sáng tạo.”

    À, nói lại về mai, dùng mai mà ví như người quân tử thì anh có cảm tưởng là khái niệm quân tử này rất Phật gia hay Đạo gia (Lão Tử), vì nó rất tĩnh–hoa mai, nhất là gốc mai, là hình ảnh tĩnh. (Có lẽ là Phật gia nhiều hơn là Đạo gia. Cái tĩnh cũa Phật gia là tĩnh lặng–Không. Cái tĩnh của Đạo gia là tĩnh động của gió và nước–có lẽ dùng từ “tự nhiên” thì đúng hơn là từ “tĩnh” cho Đạo gia)

    Anh có cảm tưởng, cây tre (trúc) thì hạp với hình ảnh quân tử của Khổng giáo–thẳng và khá động. “Quân tử”, nguyên thủy, đến từ Khổng giáo.

    Ái khỏe nha 🙂

    Số lượt thích

  9. Đọc thơ Vương Duy cũng nên biết qua tiểu sử của ông tí chứ nhỉ:

    Vương Duy: (701-761) người Hà Đông (nay là Vĩnh Tế, Sơn Tây), tên chữ là Ma Cật, xuất thân trong một gia đình quan lại lớn, đỗ tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ 9 (721), từng làm Hữu tập di, Thượng thư hữu thừa… Cuối đời theo Phật, được người đời tôn là Phật Thi; Ngoài thơ ca, ông còn là một họa sĩ thủy mặc rất nổi tiếng.
    Tác phẩm: “Vương Ma Cật tập”.

    Số lượt thích

  10. Vương Duy (701-761) tự là Ma Cật 摩詰 giỏi thơ, họa và thư pháp. Ðược tôn là thủy tổ của phái vẽ đời Nam Tống 南宋. Tô Ðông Pha 蘇東坡 khen rằng “Thi
    trung hữu họa, họa trung hữu thi 詩中有畫,畫中有詩 Trong thơ có tranh vẽ, trong tranh vẽ có thơ. Là một nhà thơ lớn đời Ðường.

    Thơ VD mộc mạc, thật, tình cảm đậm đà, không phù phiếm, không yếm thế, cô đọng và dễ khích động tim người, nhất là về tình bạn, tình quê.

    Trong bài thơ trên đây “hàn mai” , thiết nghĩ, chỉ đơn giản nói đến cây mai trước mùa xuân tới! Mọi việc xảy ra có y như người xa quê vẫn thường nghĩ trong tâm tưởng không…”Bây giờ sắp sang xuân, ừ thì cây mai trước nhà bên cửa phòng của mình lúc trước, giờ chắc cũng sắp nở hoa rồi nhỉ”. Rất nhẹ nhàng và kín đáo, nhưng hé rõ tâm tư nhớ quê, nhớ nhà của tác giả!

    Cây mai này trong thơ của VD thuộc loại mai trắng, như phần nhiều Mai được nhắc nhở trong thơ Đường.
    Ở đây người dịch sửa thành mai vàng cho hợp lẽ thôi.

    Số lượt thích

  11. Đọc TẠP THI của Vương Duy
    Bùi Công Thuấn

    Vương Duy 王 維 (699–759), người tỉnh Sơn Tây(TQ). Từ nhỏ đã nổi tiếng tài hoa. Đàn hay, vẽ giỏi, văn chương xuất chúng. Năm 21 tuổi, thi đậu tiến sĩ và được bổ làm quan. Đời làm quan của ông nhiều thăng trầm. Sau loạn An Lộc Sơn(755), Vương Duy được phục chức và làm đến Thượng Thư Hữu Thừa. Ông ưa thú tiêu dao. Ông thường gảy đàn, thổi sáo và làm thi phú ở trang viên riêng của mình. Thơ VD còn lại khoảng 400 bài. Phần nổi bật quan trọng của thơ ông là thơ thiên nhiên. Thơ ông còn đắm trong tư tưởng hỷ xả từ bi của Phật. Ngoài tài thơ ra, Vương Duy còn sành âm nhạc, giỏi thư pháp và hội họa. Tranh sơn thủy của ông mở đầu cho lối họa Nam Tông. Người ta thường khen ông là: “Trong thơ có họa, trong họa có thơ” (Thi trung hữu họa, Họa trung hữu thi). Ðối với Phật giáo đương thời, Vương Duy có địa vị cao trong Nam phái thiền tông. Người đời sau gọi ông là Thi Phật. (Thivien.net)

    Tạp Thi là bài thơ thể hiện tình yêu quê hương của Vương Duy. Ông thiết tha hỏi thăm bạn về quê hương, về cây mai trước nhà mình. Bài thơ là lời đối thoại của tác giả với bạn

    Quân tự cố hương lai,
    Ưng tri cố hương sự.

    “Anh từ quê xưa tới, Chắc biết chuyện quê xưa.”
    Bài thơ mở đầu bằng tiếng “quân”[君], là tiếng xưng hô trân trọng với người đối diện (Quân là anh, bác –thí dụ : đã bấy lâu nay bác tới nhà –Nguyễn Khuyến ). Điều này giúp ta hiểu tác giả đang trong một cuộc đối thoại tiếp khách ở hiện tại. Chữ “cố hương” (quê cũ, quê xưa- quê hương mà hiện tại ta cách xa đã lâu ngày) được lặp lại hai lần trong hai câu thơ liên tiếp, diễn tả thái độ vồn vã, sự mong đợi của VD về “quê cũ”. Thái độ ấy bộc lộ tấm lòng của VD với quê xưa. Có lẽ VD đã xa quê lâu ngày, gặp được bạn quen từ quê ra, chưa kịp hỏi thăm bạn ra sao, nhà thơ đã săn đón hỏi chuyễn “cố hương”. Nhà thơ mong muốn được nghe chuyện quê cũ vì đoán chắc bạn biết chuyện quê của mình. Hẳn đây phải là một người nhà quê chân chất. Tại sao VD lại nóng lòng về chuyện cố hương vậy? Có thể lúc này đang loạn lạc chăng. An Lộc Sơn chiếm kinh thành Trường An (năm756), sát hại nhiều người. Đường Huyền Tông và Dương Quốc Trung hối hả bỏ chạy vào Thục[9]. Quân lính nhà Đường vô cùng hỗn loạn. Huyền Tông đành bắt Quý Phi thắt cổ ở Mã Ngôi.Trong hoàn cảnh ấy, Vương Duy cũng bị bức bách làm chức Cấp sự trung, sau bị câu lưu tại chùa Bồ Ðề. Phải chăng từ hoàn cảnh đó, VD mới nóng lỏng hỏi thăm bạn về “cố hương “.(Lưu ý: quê VD ở Sơn Tây- Trường An ở Thiểm Tây TQ)
    Có một khoảng lặng im trong bài thơ giữa hai câu đầu và hai câu sau. Người đọc không nghe người bạn VD nói gì về tình cảnh “cố hương”. Có thể cố hương của ông không xảy ra điều gì đau thương trong cơn ly loạn ấy, hoặc đó là những chuyện chỉ nói riêng giữa hai người. Ngôn ngữ bây giờ là ngôn ngữ im lặng. Cho nên người đọc không nghe ông nói gì sau những câu ông dồn dập hỏi người bạn. Trong thế giới lặng im của “ý tại ngôn ngoại” ấy, vang lên tình yêu với quê hương với con người quê hương . Lời thơ nhường chỗ cho tiếng nói tâm hồn . Và tiếng nói tâm hồn nhường chỗ cho tình tri kỷ giữa hai người bạn. Với VD, tình bạn, tình quê là rất quý giá. Có lần xa nhà ông đã thốt lên :
    Đất lạ đơn côi làm khách lạ
    Mỗi lần tiết đẹp nhớ nhà hoài
    Vẫn hay huynh đệ lên cao đấy
    Đều cắm thù du thiếu một người.
    (Ngày trùng cửu nhớ huynh đệ ở Sơn Đông -Người dịch: Đông A)
    (* Thù du : Tên một loại thảo. Tiết Trùng Cửu người ta lên cao bẻ cành thù du
    cắm vào một chỗ biểu tượng tình anh em gắn bó)

    Trở lại Tạp Thi, câu thơ đang từ đối thoại đột ngột trở thành độc thoại

    Lai nhật ỷ song tiền,
    Hàn mai trứơc hoa vị.

    Ta hình dung thế này, sau khi nghe bạn nói chuyện quê xưa, VD ngẩn người ra tư lự, rồi nhìn về xa xăm mà thốt lên : cây mai trước cửa sổ, Đông lạnh nở hoa chưa ? Bản dịch có chỗ chưa rõ. “Lai nhật” là “ngày bạn đến đây” hay là “khi ngày đến “ hoặc :” ngày ngày” (lai nhật : nghĩa từ nguyên là mặt trời đến) . Phép đối giữa câu 3 và câu 4 chỉ ra rằng , “lai nhật “ là từ đối với “hàn mai”. Cả hai cùng là danh từ. “Hàn mai” là mai lạnh , thì “lai nhật” là mặt trời đến, có nghĩa là “ngày ngày” (BCT). Điều này hợp lý hơn vì diễn đạt được nỗi mong đợi của VD. Trong ký ức của ông bây giờ là hình ảnh ngôi nhà ở quê, trước nhà có cây mai. Ông thường ngồi trong cửa sổ nhìn ra cây mai, đối thoại với cây mai, hoặc ít ra đó cũng là một người bạn bên ông mỗi khi mặt trời đến (bắt đầu một ngày). Ông nhớ lại cây mai và hỏi mai lạnh đã nở hoa chưa (Hàn mai trước hoa vi) Mai lạnh là mai mùa đông. Mai nở là mùa xuân. VD đang chờ mùa xuân đến ? Đây là thời gian hiện thực hay là một hình ảnh ẩn dụ? Có thể thực tại loạn lạc ông đang sống là mùa đông, và ông mong mùa xuân thanh bình đến? Dù thế nào, hình ảnh cây mai cũng bộc lộ cốt cách quân tử của ông. Trong thi pháp thơ cổ điển, tùng, cúc, mai, trúc là hình ảnh biểu tượng cho người quân tử. Cây mai trước cửa sổ ấy cũng chính là tác giả VD. Trong khoảnh khắc của ký ức, VD đã hoá thân vào cây mai quê hương, ông sống với chốn quê, với người quê. Và cũng chính ở quê nhà, VD mới giữ được cốt cách người quân tử, mới giữ được tâm hồn hướng về muà xuân trước mặt?

    Bài thơ chỉ có 20 từ nhưng diễn đạt được hai tình cảm lớn là tình quê và tình nhà. Bốn câu thơ thực ra chỉ là hai câu hỏi. Câu đầu là câu hỏi từ thực tại, câu sau là câu hỏi trong ký ức. Những câu hỏi ấy diễn tả nổi trăn trở đau đáu của VD với quê nhà. Điều này khác rất xa với những bài thơ an nhiên của VD. Xin đọc :

    Núi trống vắng tanh người,
    Chỉ nghe vọng nói cười.
    Nắng vào trong núi thẳm,
    Lên ðám rêu xanh soi.
    (Trại hươu – Người dịch: Trần Trọng San)

    Điều đáng quý ở VD là, tuy được người đời tôn là Phật Thi, vì thơ ông nói về cái tâm KHÔNG của Phật, nhưng VD vẫn nặng tình đời, tình người, tình quê. Nơi chốn ấy có những con người chân chất (Quân tự cố hương lai) , có cảnh sắc thanh cao (cây mai trước cửa sổ đẹp). Chính nơi ấy mới là chốn nuôi dưỡng hồn thơ ông, mới đem thơ ông đến với cuộc đời, và thơ ông mới vang lên những tình tự vọng đến ngàn sau. Ngày nay đọc lại thơ VD, ta gặp bóng dáng Nguyễn Khuyến trong con thuyền, hồ nước, chén rượi của VD (bài Lâm Hồ Đình) , gặp bước chân Phạm Thiên Thư trong những tứ thơ vừa rất đỗi trần tục vừa vô cùng thanh khiết của Phật Thi. (bài Mạnh Thành Ao)

    Số lượt thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s