Category Archives: trà đàm

Vài nguyên tắc tâm linh để nhớ

Chào các bạn,

Mình sẽ tóm tắt ở đây vài nguyên tắc sống tâm linh – tức là sống bằng trái tim linh thiêng của chính ta – mà mình đã lập đi lập rất nhiều lần trong các bài trà đàm, để các bạn tiện phân biệt đâu là tâm linh, đâu không là tâm linh.

1. Trước hết, một nguyên tắc chung cho các nguyên tắc tâm linh là mọi quy luật tâm linh, mọi cách sống tâm linh, đều không hợp lý, nếu nói theo lý lẽ thông thường.

Thông thường: Hợp lý là hợp với lý luận của con người, như anh đánh tôi thì tôi đánh lại. Sống thì phải làm nên sự nghiệp lớn. Đó là hợp lý, hợp luật, hợp đạo đức của con người. Continue reading Vài nguyên tắc tâm linh để nhớ

Tự do tuyệt đối

Chào các bạn,

Dù bạn thực hành đường lối tâm linh nào, con đường chính luôn cho bạn tự do tuyệt đối.

Đường Phật gia dạy bạn không dính mắc vào đâu, không vướng vào đâu, không chấp vào đâu (vô chấp, vô trụ, vô tâm, vô niệm). Không dính vào đâu là tự do tuyệt đối. Làm được hay không là do bạn, nhưng con đường thì rất dễ hiểu (Kiểu như đi dây, rất dễ hiểu, chỉ cần bước cẩn thận trên dây, giang hai tay và thân thể uyển chuyển để giữ thăng bằng. Đi được hay không là do bạn, nhưng lý thuyết thì chẳng có gì phải nói nhiều). Continue reading Tự do tuyệt đối

Thử để biết người

Chào các bạn,

Đây là câu chuyện về Huệ Năng và ngũ tổ Hoằng Nhẫn, do chính Huệ Năng kể lại trong Pháp Bảo Đàn Kinh:

Huệ Năng quê quán ở Phạm Dương, cha bị giáng chức đến Lãnh Nam, lưu lạc làm dân Tân Châu. Thân thế chẳng may cha lại mất sớm, mẹ là goá phụ, nhà ở Nam Lộ, nghèo khổ phải đi bán củi ngoài chợ. Lúc ấy có vị khách mua củi nhờ mang đến nhà, Huệ Năng được tiền đi ra, gặp một vị khách đang tụng Kinh, Huệ Năng nghe được lời Kinh tâm liền khai ngộ, bèn hỏi khách tụng Kinh gì? Khách nói là Kinh Kim Cang.

Hỏi: Ở đâu có Kinh Điển này?

Khách nói: Tôi từ Chùa Đông Thiền, huyện Huỳnh Mai Kỳ Châu đến. Chùa ấy do Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn Đại Sư chủ hoá, môn đồ hơn ngàn người, tôi đến đó lễ bái lãnh thọ Kinh này. Ngũ Tổ thường khuyên Tăng tục trì Kinh Kim Cang thì được kiến tánh, trực liễu thành Phật.

Huệ Năng nghe nói, lại cũng vì xưa kia có duyên, nên được một người khách cho mười lượng bạc để cho mẹ già được sinh sống và bảo đi ngay đến Huỳnh Mai tham lễ Ngũ Tổ. Huệ Năng sắp xếp cho mẹ xong, liền từ giã lên đường. Trải qua hơn ba mươi ngày đường, đến huyện Huỳnh Mai lễ bái Ngũ Tổ.

Tổ hỏi: Ông là người phương nào, muốn cầu việc gì? Huệ Năng nói: Đệ tử là dân Tân Châu Lãnh Nam, từ xa đến lễ bái, chỉ cầu làm Phật, chẳng cầu việc gì khác.

Tổ nói: Ông là người Lãnh Nam, cũng là người kém văn hoá, làm sao có thể làm Phật được?

Huệ Năng nói: Người có Nam Bắc, Phật tánh vốn chẳng có Nam Bắc, thân hèn hạ này với thân Hoà Thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai biệt!

Ý Ngũ Tổ còn muốn nói thêm, nhưng thấy đồ chúng đứng xung quanh, nên bảo theo chúng làm việc.

Huệ Năng bạch Hoà Thượng: Tự tâm của đệ tử thường sanh trí huệ chẳng lìa tự tánh, tức là phước điền, chưa rõ Hoà Thượng bảo làm việc gì?

Tổ nói: Tên kém văn hoá này căn khí lanh lợi, ngươi đừng nói nữa, hãy ra nhà sau đi!

Huệ Năng lui đến nhà sau, có một cư sĩ sai Huệ Năng bửa củi giã gạo, trải qua hơn tám tháng. Một ngày kia Tổ thình lình đến gặp Huệ Năng nói:Ta nghĩ cái thấy của ngươi dùng được, vì sợ có kẻ ác hại ngươi, nên chẳng nói chuyện với ngươi, ngươi có biết chăng?

Huệ Năng nói: Đệ tử cũng biết ý của Thầy, nên chẳng dám đi đến nhà trước.

Người đọc chuyện này thường để ý đến câu trả lời rất hay của Huệ Năng, nhưng ít để ý đến sự sâu sắc của câu hỏi của Hoằng Nhẫn. Đó là một câu hỏi rất xúc phạm: “Ông là người Lãnh Nam, cũng là người kém văn hoá, làm sao có thể làm Phật được?”

Lãnh Nam hay Lĩnh Nam là vùng đất phía Nam sông Dương Tử (còn gọi là Trường Giang), thuộc vùng Quảng Đông, Quảng Tây và sâu hơn về Nam, như vùng đất ngày nay là Bắc Việt Nam.

Chúng ta có sách Lĩnh Nam Chích Quái, nhưng Lĩnh Nam thì rộng hơn đất Âu Lạc hay Nam Việt khi xưa, trừ khi ta nói hàm hồ rằng Quảng Đông và Quảng Tây cũng là đất của ta ngày trước. “Việt” có nghĩa là vượt, như trong “siêu việt”. Lãnh địa người Hán nằm ở Trung nguyên, là vùng đồng bằng giữa hai sông Hoàng Hà ở phía Bắc và sông Dương Tử ở phía Nam. Các giống dân ở phía Nam sông Dương Tử người Hán gọi là gười Việt, tức là phải “vượt” sông Dương Tử qua bờ Nam mới đến Lĩnh Nam – lĩnh vực phía Nam sông Dương Tử – đến các giống dân Việt. Sử Việt Nam có nói đến Bách Việt (trăm Việt) là nói đến rất nhiều nhóm “người Việt/vượt” ở Lĩnh Nam. Người Việt Nam ta là Lạc Việt, chỉ một trong những nhóm Việt đó.

Mình đã đọc được một bài của một tác giả Trung quốc, nói chuyện ngày nay, và vẫn gọi người Trung quốc ngày nay ở phía Nam sông Dương Tử là người Việt. (Nhưng mình mất bài đó rồi). Tự điển Hán Việt Trích Dẫn có nói đến từ Việt/vượt này:

”Giống Việt, ngày xưa các vùng Giang, Chiết, Mân, Việt đều là nói của giống Việt ở gọi là Bách Việt 百越. ◎Như: giống Âu Việt 甌越 thì ở Chiết Giang 浙江, Mân Việt 閩越 thì ở Phúc Kiến 福建, Dương Việt 陽越 thì ở Giang Tây 江西, Nam Việt 南越 thì ở Quảng Đông 廣東, Lạc Việt 駱越 thì ở nước ta, đều là Bách Việt cả. § Có khi viết là 粵.”

Ở Hồng Kông, Quảng Đông, mình nghe người TQ gọi người Việt Nam ngày nay là “Nam nhân” (người Nam). Có vài tác giả Việt Nam, chỉ vì chữ “Lĩnh Nam” mà nói Huệ Năng là người Việt Nam thì mình nghĩ là kết luận đó hơi hàm hồ. (Đọc Lục tổ Huệ Năng, bài nói Huệ Năng không là người Việt Nam).

Dù sao thì, Lĩnh Nam thời Huệ Năng được xem là đất của dân man di, dốt nát (vì không phải là dân Hán). Cho nên, Hoằng Nhẫn mới nói: “Ông là người Lĩnh Nam”, tức là ông là dân man di mọi rợ. “Cũng là người kém văn hóa”, tức là lại không có học, dốt nhân 2, “làm sao có thể làm Phật được?” Dù có ý gì trong câu hỏi, thì đây cũng là câu hỏi sỉ nhục rất nặng.

Huệ Năng có thể trả lời ba cách.

1. Chào từ giã, hay không thèm chào: “Ông kiêu căng thế thì tôi cóc cần học ông”. Thế thì khỏi học.

2. Hoặc nói: “Đệ tử ngu si, mong thầy dạy bảo.” Thì có lẽ cũng được nhận, nhưng không có gì đặc biệt.

3. Hoặc trả lời như Huệ Năng đã trả lời: “Người có Nam Bắc, Phật tánh vốn chẳng có Nam Bắc, thân hèn hạ này với thân Hoà Thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai biệt!”

Câu trả lời này cho Hoằng Nhẫn hiểu rất nhiều về Huệ Năng. Trước hết, đây là người tĩnh lặng, không có cái tôi, không tự ái vặt. Sau đó là tự tin: “Thân hèn hạ này với Hòa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai biệt.” Và cuối cùng, quan trọng nhất, là đã nắm được tinh yếu của Phật pháp: Mọi người đều có Phật tính như nhau, chẳng ai hơn ai thua ai. Biết được mình có Phật tính như thầy (dù mình dốt học, thầy lại rất thông thái) thì đó là nắm được bản tánh thật của mình (và của mọi người) mà chẳng mấy người hiểu được hoặc dám nắm.

Chỉ một câu đó thôi đủ cho Hoằng Nhẫn hiểu Huệ Năng đã nắm được tinh yếu của Phật pháp trước khi học, và đủ tư cách kế vị ngôi tổ.

Bài học thực tế cho chúng ta là: Thầy sỉ nhục mình, hay bất kì ai sỉ nhục mình, không là điều phải để ý. Điều cần để ý là mình đã nắm được giáo pháp đến đâu. Hay mình đã tĩnh lặng và trí tuệ (prajna) đến đâu.

Chúc các bạn nắm được Phật tính của mình.

Mến,

Hoành

© copyright 2017
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Vô chấp trong đời sống kinh doanh

Chào các bạn,

Chúng ta thường chỉ nghĩ đến vô chấp trong kinh sách và đời tu Phật pháp. Vậy rất là thiếu sót, vì chúng ta cần vô chấp trong toàn đời sống bình thường của ta. Vô chấp là một thái độ sống – sống thì sống khắp mọi nơi mọi lúc, chẳng chỉ sống khi ngồi Thiền và khi khác, như kinh doanh, thì chết. Continue reading Vô chấp trong đời sống kinh doanh

Chối bỏ vật chất?

Chào các bạn,

“Chối bỏ vật chất” là vấn đề chúng ta ít nhất đã phải suy nghĩ đến vài lần, mỗi khi chúng ta nói đến “không tham”, “không tôi”, “không bám vào vật chất”, “không mê vật chất”, “không chạy theo vật chất”, “sống đời đơn giản”, “sống đời thanh đạm”… Những điều này có phải là “chối bỏ vật chất” không?

Tạm thời, hãy định nghĩa “chối bỏ vật chất” là: Vất bỏ vật chất, từ chối vật chất, chạy trốn vật chất, không muốn có chút vật chất nào… kiểu như là lên rừng, sống trong chòi tranh, chẳng có gì ngoài thức ăn, một ít áo quần, và vài vật dụng cần thiết. Continue reading Chối bỏ vật chất?

Phật tính và chúng ta

Chào các bạn,

Các bạn có biết tại sao chúng ta cảm thấy khó sống với Phật tính của ta không?

Tại vì, chúng ta không được dạy sống như thế từ nhỏ. Từ nhỏ và lớn lên, dần dần, chúng ta được học, qua tác phong của người lớn, tranh giành, hơn thua, gian dối, ganh tị, ghen ghét, tham lam, sân hận, kiêu căng… Còn Phật tính thì mấy người nghĩ tới? Continue reading Phật tính và chúng ta

Tin vào chính mình

Chào các bạn,

Có lẽ chúng ta đã biết, “tự tin”, tức là “tin vào chính mình”, là một điều khó, vì chúng ta có nhiều nỗi sợ – mình không giỏi, không có tài, không nhiều may mắn, không có cha ông làm lớn… Đầu kia của vấn đề là “điếc không sợ súng”, gặp gì cũng nói là dễ ợt, không biết phục ai điều gì, và đương nhiên là không có kinh nghiệm gì nên mới như thế.

Ở một mức cao hơn, ở mức độ tâm linh, số người tin vào chính mình lại càng cực kỳ hiếm. Mọi người thường mù quáng tin vào gì đó – giáo hội, thánh nhân, kinh sách, guru, đại sư phụ… Đó là vấn đề của chúng ta. Continue reading Tin vào chính mình

Tập trung

Chào các bạn

Sau nhiều năm quan sát đời sống, mình đi đến một kết luận rất chắc chắn là: Con người lạc lối vì thiếu tập trung. Con người ở đây là loài người, quốc gia, xã hội, và mỗi cá nhân chúng ta.

Thực sự là điều gì cũng khá dễ trên đời. Một việc chỉ thành khó khi ta không tập trung vào nó, mà để đầu óc chạy lang bang khắp chốn.

Năng lực không tập trung được, chạy tản mạn, thì ta không có sức. Giản dị thế. Continue reading Tập trung

Ứng xử với Chúa Phật

Chào các bạn,

Các bạn có biết Chúa Phật đến với chúng ta để làm gì không?

Đương nhiên là các vị đến vì muốn chúng ta hay hơn, tốt hơn, hạnh phúc hơn, bằng cách dạy chúng ta vài điều trong cách sống. Chấm hết.

Các vị không đến với ta để các vị được hạnh phúc, để được chúng ta tung hô, để được chúng ta lễ bái, để được chúng ta đánh nhau bảo vệ các vị hay bảo vệ giáo pháp của các vị. Continue reading Ứng xử với Chúa Phật

Bố thí

Chào các bạn,

Bố thí (giving) là một trong Lục độ ba-la-mật (tiếng Phạn Sanskrit: 6 paramitas), tức là 6 cách (phương tiện, methods, tools, virtues) trong Bồ tát đạo (Bodhisattva way) để độ chúng ta, đưa chúng ta từ bờ khổ vượt sông mê đến bờ giác ngộ.

Bố thí là độ đầu tiên, tức là căn bản nhất, trong Lục độ: Bố thí (Dana-paramita) , Trì giới (Sila-paramita), Nhẫn nhục (Ksanti-paramita), Tinh tấn (Virya-paramita), Thiền định (Dhyana-paramita), Trí tuệ (Prajna-paramita). Continue reading Bố thí

Ánh sáng trong chính ta

Chào các bạn,

Chúng ta nói Phật tính trong ta, Chúa trong ta, đó là ánh sáng trong ta. Trong ta đã có ánh sáng.

Điều này quan trọng, vì nếu nguồn sáng đã có trong ta thì (1) ta chỉ cần tìm lại nguồn sáng đó, chẳng cần đi đâu cả, và (2) nguồn sáng thì dễ tìm nếu ta muốn tìm, vì nếu tìm mãi mà không ra thì có lẽ đó là nguồn tối chẳng phải mặt trời. Continue reading Ánh sáng trong chính ta

Tâm linh mới – Giáo dục mới

Chào các bạn,

Chữ “mới” ở đây là mới mà là cũ, và cũ mà là mới.

Cũ vài ngàn năm, tức là cổ, đồ cổ quý giá, vì chúng ta nói đến trái tim linh thiêng của ta như Phật nói, như Chúa nói, vài ngàn năm trước – cao diệu (ta là Phật đang thành, ta là con yêu của Thượng đế với hơi thở – Thánh linh – của Thượng đế trong ta), sáng tạo, và tích cực. Continue reading Tâm linh mới – Giáo dục mới

Trái tim yêu thương

Chào các bạn,

Chúng ta nói nhiều đến yêu người, yêu mọi người, một chiều, vô điều kiện. Đó là trái tim Bồ tát. Đó là trái tim của Chúa trong ta.

Nhưng chúng ta cần hiểu bản chất của tình yêu. Phần chính của tình yêu là cảm xúc và tình nguyện. Anh yêu em vì anh cảm thấy yêu em. Anh cầu nguyện cho em, tặng hoa cho em, rủ em đi chơi… vì anh thích làm thế, chẳng ai bắt ai làm. Continue reading Trái tim yêu thương

Tâm linh và không tâm linh

Chào các bạn,

Có lẽ các bạn đọc mình thường thì đã hiểu khá rõ ràng điều gì là tâm linh, điều gì là không tâm linh. Nhưng mình cũng muốn thỉnh thoảng nhắc lại để mọi người cùng rõ.

Tâm linh là trái tim linh thiêng của mỗi người chúng ta. Tâm là trái tim. Linh là linh thiêng. Trái tim linh thiêng là nơi sâu thẳm nhất của trái tim ta, ở đó ta sống với cách sống cao nhất, như cách sống của thánh nhân, của Bồ tát. Continue reading Tâm linh và không tâm linh