Mùa xuân Tây Bắc trong tôi

Thế là đã ba cái tết tôi xa Tây Bắc, cũng là ba cái tết ở Thủ Đô phồn hoa và náo nhiệt, nhưng trong tôi vẫn không hề nguôi ngoai cái cảm giác hẫng hụt, như thiếu một cái gì vô cùng thân thiết, đã ăn sâu vào tiềm thức, vào máu thịt.

Dõi mắt về phương xa. Tôi cứ mường tượng đến những dải mây vắt ngang đỉnh Hoàng Liên cao vút, mỗi bình minh lại hồng rực, long lanh muôn sắc như chiếc khăn piêu trên “tằng cẩu” của người con gái Thái. Và đâu đây tiếng cười trong vắt lấp lánh, bay bổng, phấp phới cùng những dải tua mầu như tia nắng của quả còn hội xuân. Những nhịp xòe nồng say rộn ràng ánh lửa, những tấm lưng thon thả dịu dàng, những khuôn ngực thanh tân, những cần rượu thơm lừng mời gọi. Đâu đây mượt mà giai điệu bài “Tình ca Tây Bắc”: “Rừng xanh cây lá muôn đóa hoa mai chào đón xuân về”. Tôi như kẻ bị bỏ bùa mê, bị bao vây trong những bộn bề cảm xúc.

Ôi cái sắc hoa đào, hoa ban cùng muôn loài hoa rừng khoe sắc đua hương, thơm đến từng lá cây ngọn cỏ đã hóa thân trong mỗi nụ cười duyên, mỗi làn da trắng hồng, mỗi búp tay thon như búp măng rừng, mỗi đường nét tuyệt mỹ trên tấm thân ngà ngọc của người sơn nữ. Để rồi người bạn tôi – nhà văn Thế Sinh đã từng không cầm lòng được phải thốt lên: “Kinh côm nôm tẳng” – tiếng Thái là eo thon ngực nở, mà anh từng thả hồn trong cái ký nổi tiếng: “Miền gái xinh”. Còn tôi như say men rượu cần, trước vẻ đẹp nhuần nhị tuyệt mỹ của những cô sơn nữ như ánh bình minh mai sớm: “Nả ấc nọi nôm túm nàm tong” – tiếng Thái là ngực nhỏ nhọn như gai vông đồng, huyền ảo trong tản văn: “Huyền thoại tắm tiên Tây Bắc”!

Mỗi con đèo, mỗi cánh rừng, mỗi dòng suối, những thửa ruộng bậc thang đều như những kiệt tác của tạo hóa ẩn chứa bao huyền thoại cùng khát vọng được sống, được yêu.
Con đường 6 mới được tôn tạo, lên cổng trời hun hút dãy Pha Đin, trong bạt ngàn hoa ban và lau trắng. Mỗi bông hoa ban như lời thơ trong câu chuyện tình bất hủ “Sống chụ son sao” – “Tiễn dặn người yêu” và những bông hoa lau dập dờn trong gió như đang chụm đầu thì thầm lời hẹn những mùa yêu. Đây Thuận Châu, đây Tuần Giáo… Con đèo quanh co gấp khúc hiểm trở xứng với tên gọi: “Pha Đin” – nơi đất gặp trời. Người già kể cho tôi, xưa các thế lực chúa đất bao đời tranh giành nhau đều lấy dãy núi hiểm trở này làm chỗ dựa, vì thế còn có tên gọi khác: Pú Chinh (núi chiến tranh).

Tôi nhớ mãi lần cùng đoàn giáo viên thế hệ năm 1959 lên thăm Sơn La, Thạc sỹ Lò Mai Cương của trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh Sơn La, người đầu tiên của Việt Nam số hóa thành công chữ Thái, cùng phó giám đốc sở Khoa học công nghệ Sơn La – Cà Văn Chung, người số hóa lịch Thái được áp dụng trong nông lịch và bộ lịch Thái tổng hợp 200 năm, cùng các bạn người Thái đón tôi như đón người nhà. Các anh chị khoe những thành tựu của Sơn La và của “Mạng lưới bảo tồn tri thức bản địa dân tộc Thái”. Tôi chia vui cùng các bạn mà lòng không khỏi xao xuyến bồi hồi. Mới ngày nào Sơn La, Tây Bắc còn là vùng đất xa xôi, nghèo nàn và lạc hậu, thì nay đã là những điểm sáng trên bản đồ đất nước.
Tôi miên man đi trong ký ức những Điện Biên, Lai Châu, những con suối “Nậm Na”, “Nậm Rốm”, những tên đất đã trở thành tên lịch sử: “Mường Thanh” – Điện Biên, “Mường Than” – Than Uyên, “Mường Tấc” – Phù Yên, rồi vượt đèo “Khau Phạ” – sừng trời về Mường Lò, Yên Bái, nơi tôi đã từng sống và công tác 30 năm trời. Để rồi trong lòng chợt ngân lên câu ca dao thơm hương nếp mới: “Mường Lò gạo trắng nước trong/ Ai đi đến đó lòng không muốn về”.

Vâng Mường Lò không chỉ là đất tổ của người Thái đen Tây Bắc, là cánh đồng rộng thứ hai Tây Bắc. Con suối “Nậm Xia” – suối nước mắt, tên gọi cũ của suối “Nậm Thia” vắt ngang cánh đồng Mường Lò trong nắng xuân ngời muôn ánh bạc. Mỗi con đường mới mở, mỗi cánh rừng, mỗi mầm xuân và trong từng câu “khắp”, điệu “xòe”, ánh mắt giao duyên đều ngời sáng cất lên những cồn cào day dứt và ước mơ của bao thế hệ: “Ngày xưa, có một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết. Cô gái đẹp như trăng rằm, mái tóc đen dài mềm mại. Mỗi khi nàng ngồi bên khung cửi, chim muông, hoa lá như múa vờn trong mỗi đường thêu. Chàng trai khỏe mạnh, giỏi làm nương, săn bắt thú. Mỗi khi tiếng khèn của chàng cất lên, chim rừng ngừng tiếng hót hồi hộp lắng nghe. Nhưng tên chúa đất quyết bắt cô gái về làm người hầu. Hai người rủ nhau chạy lên núi cao để bảo vệ tình yêu đôi lứa. Tên chúa đất cho người đuổi theo. Chàng trai và cô gái kiệt sức gục xuống trên đỉnh núi nọ. Cô gái không cầm lòng được, chỉ biết khóc than cho mối tình tuyệt vọng. Nước mắt của cô chảy mãi hóa thành dòng suối, mái tóc dài thơm hóa thành làn rêu xanh mướt như vẫy gọi. Chàng trai đau đớn nhảy xuống dòng suối, thân thể chàng vừa chạm mặt nước bỗng vỡ tan, hóa thành muôn tảng đá cho làn rêu quấn quýt bám quanh”. Tôi đã bao lần được nhâm nhi chén rượu thơm cất từ những hạt gạo Mường Lò, thấm đẫm huyền thoại kia với món rêu đá thơm, cay, dịu mát, với những chú cá sỉnh mình thon, chắc lẳn, vậy mà xuân này sao nhớ lạ lùng. Những sóng vàng ngày xuân của con suối Thia ấy như muôn bàn tay vẫy gọi.

Tôi chợt nhớ tới hình ảnh nghệ nhân Lò Văn Biến ôm đàn tính thả hồn trong những điệu “khắp”. Ông như pho sử sống của người Thái Mường Lò, đã từng sưu tầm và dịch nhiều tác phẩm của dân tộc Thái, ông đã cùng tôi biên soạn “Bộ tài liệu dạy tiếng và chữ Thái cổ Mường Lò” và dịch tác phẩm thơ: “Cầm Hánh đánh giặc cờ vàng”… Trước tết, khi nhà văn Trần Nhương đưa nhà văn Nguyễn Tiến Lộc từ Canada về, lên Yên Bái và vào thăm Mường Lò, ông nhờ nhà văn Trần Nhương gọi cho tôi dặn đi dặn lại: “Tết về chơi, nhớ lắm đấy!”. Rồi cô gái trẻ Cầm Thị Nghiệp, sinh viên trường Cao đẳng văn hoá nghệ thuật Yên Bái, từng là học sinh xuất sắc lớp chữ Thái cổ do nghệ nhân Lò Văn Biến mở cũng gọi: “Bác ơi, tết về chơi bác nhé, năm nay vui lắm”. Trong tôi cồn lên một nỗi nhớ thật khó gọi tên, con tim cứ nhẩy lên như nhịp trống hội xòe. Những kỷ niệm về những mùa xuân Tây Bắc ùa về lâng lâng trong ký ức, thân thuộc, nhung nhớ đến nao lòng. Và luôn tin rằng Mường Lò, Yên Bái nói riêng và Tây Bắc nói chung, với những người con ưu tú như nghệ nhân Lò Văn Biến, thạc sỹ Lò Mai Cương, phó giám đốc Cà Văn Chung cùng cô sinh viên Cầm Thị Nghiệp… mỗi mùa xuân sẽ thay da đổi thịt rất nhiều. Còn với cô sinh viên Thanh Nga của trường đại học Văn hóa – khoa Dân tộc học, một lần ngẫu nhiên đọc bài viết của tôi về “nét đẹp bài hát mừng dâu mới của người Thái Mường Lò” đã bị chinh phục bởi vẻ đẹp nguyên sơ của phong tục tập quán và các làn điệu dân ca Thái, cô đã quyết định làm đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề này. Thanh Nga cho biết, có một số sinh viên cũng làm đề tài về văn hóa Thái và cô quyết tâm mùa xuân này nhất định sẽ lên Tây Bắc, để hiểu thêm về văn hóa Thái và được mùa xuân Tây Bắc chắp cánh. Thế mới biết sức hút của văn hóa Thái Tây Bắc lớn lao biết chừng nào.

Tôi miên man trong suy tư. Nếu không có mấy chục năm trời gắn bó cùng những mùa xuân Tây Bắc, để rồi cái hơi cái hồn Tây Bắc thấm trong tôi từ lúc nào, thì tôi đâu có được vốn sống phong phú làm nên những trang văn thơ như hôm nay. Những tên đất, con người lịch sử và huyền thoại của Tây Bắc, cùng bao thiên truyện tôi được nghe các nghệ nhân kể bên bếp lửa, bao hội “xòe” cùng những điệu “khắp” Thái, những lễ hội dân gian của các dân tộc cùng hương rượu cần ngọt lịm, là mạch nguồn sáng tạo trong tôi. Nếu thiếu đi hơi ấm của mùa xuân Tây Bắc, chắc cuộc đời tôi sẽ nghèo đi nhiều lắm. “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở. Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” là đây chăng, để rồi xuân này giữa Thủ Đô đang hối hả nhịp sống mới hướng tới lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, tôi chợt nhận ra Tây Bắc mùa xuân với một vẻ đẹp mới, trong sáng vô ngần.

Hà Nội xuân 2010
Trần Vân Hạc

Bộ luật đạo đức của thổ dân da đỏ Mỹ

Chào các bạn,

Khi những người châu Âu lần đi thám hiểm và phát hiện ra châu Mỹ, họ đã gặp những người thổ dân da đỏ ở vùng bắc Mỹ và tưởng nhầm đó là người Ấn Độ. Vì thế họ gọi những người thổ dân này là Indian. Cái tên này về sau gây nhiều nhầm lẫn nên người Mỹ chuyển sang dùng từ Native American để chỉ tới những thổ dân, bộ lạc da đỏ châu Mỹ nhằm phân biệt với những người có nguồn gốc di cư (Non-Native American).

Mặc dù vậy từ Native American không có nghĩa rằng mọi thổ dân trên vùng bắc Mỹ đều có cùng một nguồn gốc, văn hóa như nhau. Trên thực tế ở Mỹ có hàng chục bộ lạc, dân tộc khác nhau như Hopi, Lakota, Sioux…Sau khi giành được quyền tự cai trị từ chính phủ Mỹ, các bộ tộc da đỏ Mỹ sống trong các khu bảo tồn gọi là Indian Reservations. Ở Mỹ hiện nay có hơn 300 khu như vậy, một số mở cửa cho khách du lịch viếng thăm để tìm hiểu đời sống của người da đỏ.

Các bộ lạc da đỏ ở Mỹ nổi tiếng về sự giàu có trong đời sống văn hóa và tâm linh. Dưới đây là một số nguyên tắc của thổ dân da đỏ Mỹ được sưu tầm lại, các bạn cùng nghiên cứu nhé.

Chúc các bạn một ngày tươi hồng,

Hoàng Khánh Hòa

.

Bộ luật đạo đức của thổ dân da đỏ Mỹ

1. Thức dậy với ánh mặt trời để cầu nguyện. Cầu nguyện một mình. Cầu nguyện thường xuyên. Thánh Linh Cao Cả sẽ lắng nghe, nếu bạn chịu nói.

2. Hãy khoan dung với những người lạc lối. Si mê, tự cao, tức giận, ghen tị, và lòng tham bắt nguồn từ một tâm hồn đi lạc. Cầu nguyện cho họ tìm thấy chỉ dẫn.

3. Hãy tự mình đi tìm chính mình. Đừng để người khác làm đường cho bạn. Đó là con đường của bạn, và chỉ của bạn thôi. Những người khác có thể đi trên đường đó cùng bạn, nhưng không ai đi giùm bạn cả.

4. Đối đãi với khách trong nhà bạn một cách rất cẩn thận. Mời họ thứ đồ ăn tốt nhất, cho họ chiếc giường tốt nhất, và đối xử với họ với sự tôn trọng và tương kính.

5. Không lấy cái gì không phải của mình, dù là từ người khác, từ cộng đồng, từ nơi hoang dã hay từ một nền văn hóa. Nó không do làm lụng hay do người ta cho mình. Nó không phải là của mình.

6. Tôn trọng tất cả mọi thứ trên trái đất này – dù đó là con người, động vật hay cây cỏ. Trân trọng Thánh Linh trong mọi thứ.

7. Trân trọng suy nghĩ, ước muốn và lời nói của những người khác. Không bao giờ ngắt lời người khác, hay chế nhạo, hay nhái họ. Cho phép mỗi người quyền được thể hiện bản thân.

8. Không bao giờ nói xấu về người khác. Năng lượng tiêu cực mà bạn đưa vào vũ trụ sẽ nhân lên khi chúng quay trở lại với bạn. Tất cả mọi người đều mắc lỗi,. Và tất cả lỗi lầm có thể được tha thứ. Những suy nghĩ xấu gây ra ốm đau về trí óc, cơ thể, và tinh thần. Rèn luyện tính lạc quan.

9. Thiên nhiên không dành cho chúng ta, nó là một phần của chúng ta. Chúng là một phần của gia đình vật chất của bạn.

10. Trẻ em là hạt giống của tương lai chúng ta. Gieo trồng tình yêu trong trái tim chúng và tưới cho chúng bằng trí tuệ và các bài học sống. Khi chúng lớn lên, cho chúng không gian để trưởng thành.

11. Tránh làm đau trái tim của người khác. Thuốc độc từ nỗi đau bạn tạo ra sẽ quay trở lại với bạn.

12. Thành thật mọi lúc. Thành thật là bài kiểm tra y’ chí của con người trong vũ trụ này.

13. Giữ bản thân cân bằng. Trí óc, tinh thần, cảm xúc và cơ thể bạn – tất cả cần mạnh mẽ, trong sạch, và khỏe mạnh. Tập thể dục cho cơ thể để làm tinh thần mạnh lên. Làm giàu tinh thần để chữa những bệnh hoạn về cảm xúc.

14. Xác định rõ ràng rằng bạn sẽ là ai và bạn sẽ hành động như thế nào. Chịu trách nhiệm cho những hành động của bạn.

15. Tôn trọng chuyện riêng và không gian riêng của người khác. Không đụng vào tài sản cá nhân của người khác – đặc biệt là những đồ vật linh thiêng và có tính tôn giáo. Đây là điều cấm kị.

16. Hãy thành thật với bản thân đầu tiên. Bạn không thể nuôi dưỡng và giúp đỡ người khác nếu bạn không thể nuôi dưỡng và giúp đỡ chính bạn trước.

17. Tôn trọng niềm tin tôn giáo của người khác. Không áp đặt niềm tin của bạn vào người khác.

18. Chia sẻ sự may mắn của bạn với những người khác. Tham gia từ thiện. Sẵn sàng cho lại mọi người, để Dân Tộc sẽ sống.

Hoàng Khánh Hòa dịch
.

Native American Code of Ethics:

Rise with the sun to pray. Pray alone. Pray often. The Great Spirit will listen, if you only speak.

Be tolerant of those who are lost on their path. Ignorance, conceit, anger, jealousy and greed stem from a lost soul. Pray that they will find guidance.

Search for yourself, by yourself. Do not allow others to make your path for you. It is your road, and yours alone. Others may walk it with you, but no one can walk it for you.

Treat the guests in your home with much consideration. Serve them the best food, give them the best bed and treat them with respect and honor.

Do not take what is not yours whether from a person, a community, the wilderness or from a culture. It was not earned nor given. It is not yours.

Respect all things that are placed upon this earth—whether it be people, animal or plant. Honor the Spirit in all things.

Honor other people’s thoughts, wishes and words. Never interrupt another or mock or rudely mimic them. Allow each person the right to personal expression.

Never speak of others in a bad way. The negative energy that you put out into the universe will multiply when it returns to you. All persons make mistakes. And all mistakes can be forgiven. Bad thoughts cause illness of the mind, body and spirit. Practice optimism.

Nature is not for us, it is a part of us. They are part of your worldly family.

Children are the seeds of our future. Plant love in their hearts and water them with wisdom and life’s lessons. When they are grown, give them space to grow.

Avoid hurting the hearts of others. The poison of your pain will return to you.

Be truthful at all times. Honesty is the test of one’s will within this universe.

Keep yourself balanced. Your mental self, spiritual self, emotional self, and physical self—all need to be strong, pure and healthy. Work out the body to strengthen the mind. Grow rich in spirit to cure emotional ails.

Make conscious decisions as to who you will be and how you will react. Be responsible for your own actions.

Respect the privacy and personal space of others. Do not touch the personal property of others—especially sacred and religious objects. This is forbidden.

Be true to yourself first. You cannot nurture and help others if you cannot nurture and help yourself first.

Respect others religious beliefs. Do not force your belief on others.

Share your good fortune with others. Participate in charity. Be willing to give back to the people, so that People will live.

Terri Jean

Thiền của Joshu

Joshu bắt đầu học Thiền lúc 60 tuổi và tiếp tục cho đến 80, lúc ngài đạt Thiền.

Joshu dạy Thiền từ năm 80 cho đến 120 tuổi.

Một ngày nọ môt đệ tử hỏi Joshu: “Nếu con không có gì trong tâm hết, con phải làm gì?”

Joshu trả lời: “Ném nó ra.”

“Nhưng con không có gì hết, làm sao mà ném ra được?” người đệ tử hỏi tiếp.

“Vậy thì,” Joshu nói, “khiêng nó ra.”
.

Bình:

• “Không có gì trong tâm” sao lại hỏi?

Có nguyên một câu hỏi nặng vậy mà nói là không có sao được!

Lần thứ nhất thầy bảo ném nó ra ngoài. Nhưng lại hỏi tiếp, thầy biết là câu hỏi này nặng quá, không ném được, phải khiêng ra ngoài.

• Tâm Thiền là tâm rỗng lặng, chẳng có gì trong đó hết–Vô tâm (no-mind).

• Joshu là tên Nhật của thiền sư Trung Quốc tên Triệu Châu, mà chúng ta đã nói đến qua công án Con Chó Của Triệu Châu trong bài Dạy kiểu hà tiện

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Joshu’s Zen

Joshu began the study of Zen when he was sixty years old and continued until he was eighty, when he realized Zen.

He taught from the age of eighty until he was one hundred and twenty.

A student once asked him: “If I haven’t anything in my mind, what shall I do?”

Joshu replied: “Throw it out.”

“But if I haven’t anything, how can I throw it out?” continued the questioner.

“Well,” said Joshu, “then carry it out.”

# 41

Văn hóa sáng tạo

Chào các bạn,

Chúng ta thường nói đến sáng tạo như là một kỹ năng: 30 quy luật để sáng tạo, kỹ‎ thuật động não, k‎ỹ thuật đặt câu hỏi, v.v… Dĩ nhiên là sống ở đời chuyện gì cũng có một số kỹ năng và kỹ thuật liên hệ. Nhưng sáng tạo không phải là kỹ năng. Sáng tạo là bản tính của một người, cũng như là lễ độ, chẳng hạn. Lễ độ không phải là các kỹ năng lễ độ, mà là bản tính của một người. Một người lễ độ không phải vì người ấy biết các kỹ năng lễ độ, mà vì người ấy có bản tính lễ độ và sống lễ độ với mọi người.

Sáng tạo cũng vậy. Người sáng tạo là người luôn luôn sáng tạo, đi đâu cũng sáng tạo, làm gì cũng sáng tạo, sáng tạo một ngày 24 tiếng (có thể sáng tạo ngay trong khi ngủ). Sáng tạo là bản tính của anh ta, là máu chảy trong người, lâ từng hơi thở, từng nhịp đập.

Bởi vì vậy, chúng ta không thể nghiên cứu và giải quyết vấn đề thiếu sáng tạo như là một vấn đề kỹ thuật (hay kỹ năng) thuần túy, và ta phải xem đó như là một vấn đề văn hóa của một người—tức là về cách sống, về môi trường sống, về mọi người chung quanh anh ta.

Môi trường sống thường tạo ra con người—môi trường cướp bóc thường tạo ra người cướp bóc, môi trường từ thiện thường tạo ra người từ thiện, môi trường thiếu sáng tạo thường sinh ra người thiếu sáng tạo.

Muốn sáng tạo chúng ta phải thiết lập một môi trường sống sáng tạo.

Có nhiều điều tạo ra môi trường. Nhưng giản dị hóa đến tận cùng thì môi trường sống của chúng ta gồm có chính ta và những người chung quanh ta. Ta và vòng người quanh ta tạo thành môi trường sống của ta.

Hãy tưởng tượng một người đứng giữa vòng muốn làm cái gì đó mới lạ, và đa số hay tất cả những người đứng ở mấy trăm vòng tròn quanh anh ta, biển người quanh anh ta, nói “không”, thì liệu anh ta có sáng tạo được không?

Có thể là một trong triệu người vẫn sáng tạo được, nhưng đại đa số chắc là không.

Nhận xét này đưa đến suy luận sau đây: Nếu chính ta muốn sáng tạo mà mọi người chung quanh ta chống sáng tạo thì rất khó sáng tạo.

Tuy vậy, khi nói đến “khoa học” sáng tạo, chúng ta thường chỉ chú tâm đến người đứng giữa vòng tròn: “Làm thế nào để tôi biết cách suy nghĩ sáng tạo?” Nhưng, nếu tôi biết cách suy nghĩ sáng tạo mà mọi người chung quanh tôi chống sáng tạo, thì có lẽ là tôi cũng bỏ cuộc sớm thôi.

Quảng cáo tuyên truyền của Sở Nước Denver

Vì vậy, chúng ta phải đặt vấn đề ngược lại: Làm thế nào để những người chung quanh tôi khuyến khích và ủng hộ tôi sáng tạo?

Đổi góc nhìn: Tôi đứng ở vòng bên ngoài, nhìn vào người đứng giữa vòng, câu hỏi sẽ là “Làm thế nào để tôi khuyến khích anh ta sáng tạo?”

Đây chính là mấu chốt căn bản nhất của vấn đế: Làm thế nào để chúng ta khuyến khích những người khác trong xã hội của ta sáng tạo?

Tập trung của ta không nên nhắm vào “Làm thế nào để tôi sáng tạo?” Câu này mang xuống ưu tiên hai.

Ưu tiên đầu nên là: Làm thế nào để tôi khuyến khích người khác sáng tạo?

Và khi ta hỏi như thế thì ta sẽ được cả hai, vì nếu cả ngày ta khuyến khích ngưởi khác sáng tạo thì đương nhiên ta sẽ trở thành sáng tạo.

Như thế, muốn tạo một môi trường sáng tạo, cho mình và cho tất cả mọi người, mỗi chúng ta phải tích cực khuyến khích người khác sáng tạo luôn luôn trong cuộc sống.

• Bạn bè khuyến khích nhau.
• Anh chị em khuyến khích nhau.
• Bố mẹ khuyến khích con cái.
• Thầy cô khuyến khích học trò.
• Chỉ huy khuyến khích thuộc hạ.
• Nhà nước khuyến khích nhân dân.

Nhưng, khuyến khích sáng tạo cách nào?

• Luôn luôn kêu gọi mọi người có ‎ ý tưởng mới, phương cách mới, tư duy mới…

Tập tự động khen cái mới về tính mới của nó (Ô, mới lạ nhỉ!) Đúng hay không, để đó tính sau. Đã là mới thì khó biết đúng sai. Nhưng mới thì ít ra cũng hay về “tính sáng tạo” (creativity).

• Tính sáng tạo (creativity) luôn luôn nên là một phần điểm trong tổng số điểm.

• Thấy ‎ý tưởng mới hay phương cách mới chói tai mình, thì cũng đừng chống đối. Vẫn nên khen, “Đây là một ý tưởng mới. Hay đấy. Cho tôi ít thời gian để suy gẫm thêm.”

• Đừng ép người khác, nhất là người thấp hơn mình, đồng ‎ý với mình luôn luôn. Khuyến khích họ có lập trường của họ. Nếu không đồng ý được thì “ta đồng ‎ý là ta bất đồng ý.”

• Khuyến khích người thấp hơn mình khám phá mọi sự, thay vì cứ nhồi họ vào cái khuôn của mình.

Có bố mẹ nào nói với con, “Nhà mình công giáo (hay phật giáo). Nhưng có nhiều đạo khác ngoài kia, con đã lớn rồi, nên nghiên cứu và khám phá. Rồi mai mốt con có thể tự quyết định nên giữ đạo mình hay theo đạo khác”?

• Điều càng mới, nghe càng điên rồ. Cho nên ta cần ủng hộ và khuyến khích người có ‎ ý tưởng “điên rồ”. Thành hay bại là chuyện của họ. Ủng hộ họ là chuyện của mình.

(Sáng tạo để cái mới vào khuôn cái cũ thì cũng như không! “Em sáng tạo cho anh môt cái bánh tráng mới giống y hệt cái bánh tráng truyền thống mình đang ăn”. Em nghiêng người, lấy một cái bánh tráng có sẵn trên bàn: “Đây anh, em đã sáng tạo được cái giống hệt cái bánh truyền thống cho anh đây”).

Nói chung là tâm ta phải yêu sáng tạo, yêu thay đổi, yêu cái mới, đến mức mà đi đâu ta cũng muốn mọi người có cái mới, ý tưởng mới, phương pháp mới thường xuyên.

Dĩ nhiên ta muốn nâng cao giá trị truyền thống, nhưng truyền thống là nền để ta đứng trên đó sáng tạo cái mới. Truyền thống không phải là cái khuôn làm bánh in, 100 năm cũng chỉ ra một kiểu bánh.

Trên ĐCN, chúng ta nói đến những truyền thống rất lâu đời của ta—từ Phật pháp, đến Thánh kinh, đến Lĩnh Nam Chích Quái, ngay cả thơ cổ như Thiền thi và Đường Thi, để làm nền cho chúng ta sáng tạo tư tưởng mới cho đời sống mới, không phải để ta láp nháp toàn những điều xưa cũ như vẹt, mà không suy nghĩ biến hóa gì.

Nếu ta thực tâm yêu sáng tạo mãnh liệt, thì tự nhiên ta biết làm thế nào để khuyến khích tất cả mọi người quanh ta sáng tạo. Cho nên nơi cuối cùng, và cũng là khởi điểm đầu tiên, vẫn là tâm ta. Nếu ta chỉ nghĩ đến sáng tạo như là một kỹ năng công việc, mà chưa yêu nó say mê như yêu phở, yêu bánh cuốn, thì ta có vấn đề rất lớn. Hãy để ý tâm mình, và hãy suy tư về sáng tạo cho đến lúc mình bị tiếng sét ái tình với nó.

Đây là chuyện trăm năm, nghìn năm, của đất nước. Mong các bạn cẩn trọng.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Maya Angelou và Danh ngôn

Ngoài rất nhiều bài thơ hay được dùng trong chương trình giảng dạy các cấp trung học và đại học, bà rất nổi tiếng và được yêu mến với nhiều danh ngôn.

Các bạn sẽ xem một file Power Point về danh ngôn của Maya Angelou do chị Trần Lê Tuý Phượng soạn rất công phu với hơn 30 hình ảnh minh hoạ là những bông hoa thật đẹp được hai anh chị Trần Liệt Hùng và Phạm Kiêm Yến ghi lại

Xin các bạn click vào hình bên dưới để xem và download file


.

Tiếp theo mời các bạn xem một file video với những hình ảnh về hoạt động và cuộc đời của nữ thi hào Mỹ da đen Maya Angelou mà ba bài thơ của bà đã được anh Trần Đình Hoành và Lê Vĩnh Tài dịch trên ĐCN
.
http://www.youtube.com/watch?v=QiImfyTBiUY

Bài hát Tiếng Anh là nhạc nền trong file này là When I See You Smile với ca từ như sau:

*
Sometimes I wonder
How I’d ever make it through
Through this world
without having you
I just wouldn’t have a clue
And sometimes it seems
Like this world’s closing in on me
And there’s no way of breaking free
Then I see you reach out for me
Sometimes I wanna give up
Wanna give in
I wanna quit the fight
then one look at you baby
can make everything all right
make everything alright

When I see you smile
I can face the world
Oh you know that I can do anything
When I see you smile
I see a ray of light
Oh I see it shining
right through the rain
When I see you smile
Baby when I see you smile at me

Baby there’s nothing in this world that could ever do
What the touch of your hands can do
It’s like nothing I ever knew
ooooohhhh
And when the rain is falling
I don’t feel it
Cause you’re here with me
and one look at you baby
It’s all that I’ll ever need
It’s all that I’ll ever need

When I see you smile
I can face the world
Oh you know that I can do anything
When I see you smile
I see a ray of light
Oh I see it shining
right through the rain
When I see you smile
Baby when I see you smile at me

Sometimes I wanna give up
wanna give in
wanna quit the fight
Then one look at you baby
can make everything alright
make everything alright

When I see you smile
I can face the world
Oh you know that I can do anything (that i can do anything)
When I see you smile (baby when i see you smile)
I see a ray of light( I see a ray of light)
Oh I see it shining
right through the rain (baby when i see you smile)
When I see you smile
I can face the world
Oh you know that I can do anything
When I see you smile
Baby when I see you smile at me
when i see you smile.. baby when i see you smile..
aaaattt me..aaattt me
*
.

Ngoài ra xin giới thiệu một file video để luyện nghe tuyệt vời. Đó là lời giới thiệu của Maya Angelou về cuốn sách của bà
Letter to My Daughter (ấn bản được bán từ tháng 9/ 2008).
Về cuốn sách này sẽ có một bạn trẻ dịch mấy lời đề từ của tác giả giới thiệu (song ngữ)trên ĐCN ngày mai
.

Thân ái chúc các bạn một ngày vui với công việc, gia đình và Đọt Chuối Non </em

Thứ hai, 22 tháng 2 năm 2010

Bài hôm nay

Nguyễn Thanh Tùng: Cậu bé mù trở thành đại sứ âm nhạc, Nhạc Xanh, Video, Chứng Nhân, Văn Hóa, anh Trần Đình Hoành.

Phát triển ở Singapore, Nghiên Cứu Xã Hội, anh Trần Đình Hoành.

Tây Nguyên: Tết yên vui ấm lòng người nghèo, Thông Tin, chị Hoàng Thiên Nga.

Một số sinh hoạt liên hệ đến người Việt vùng vịnh San Francisco , Thông Tin, anh Trần Đình Hoành.

Giao thừa , Danh Ngôn, song ngữ, anh Nguyễn Hoàng Long.

Thực hiện giấc mơ, Danh Ngôn, song ngữ, chị Trần Thị Thu Hiền.

Lời của Giọt Sương, Thơ, chị Hoa Trang Giọt Sương Tím.

Xuân ngẫu hứng đi tìm, Thơ, anh Phạm Lưu Đạt.

Một đêm trừ tịch , Văn, chị Vivian Hoàng Nhất Phương.

Giải Nobel văn chương cho Việt Nam, tại sao chưa? , Văn Hóa, Trà Đàm, anh Inrasara.

Trong giấc mộng , Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Nguyễn Thanh Tùng: Cậu bé mù trở thành đại sứ âm nhạc

Chào các bạn,

Mình rất thích tiếng đàn bầu, cây đàn một dây thuần túy Việt Nam. với những âm thanh ai oán của dân nhạc miền nam.

Dĩ nhiên là đàn bầu có thể phát ra âm thanh cho mọi lọai nhạc, kể cả rock and roll của Mỹ, nhưng đàn bầu chỉ đạt được đỉnh cao của nó với những lời nhạc đứt ruột của dân ca miền nam–dân ca của những người biệt xứ, từ bắc hay trung bị đày vào miền nam làm đồn điền cao su cho Pháp, hay đào sình đắp mương để khai phá miền Nam. Những lời ca của những kẻ xa nhà, tâm tư heo hút.

Và tiếng đàn của chàng nghệ sĩ mù Nguyễn Thanh Tùng có lẽ là tiếng đàn bầu hay nhất mình đã từng được nghe. Hôm nay chúng ta sẽ đọc về cuộc đời lạ thường và tiếng đàn tuyệt diệu của Nguyễn Thanh Tùng qua bài báo Thanh Niên năm 2007 và một số youtube videos.

Thứ hai, 2/4/2007

Cậu bé mù trở thành đại sứ âm nhạc

Từ một cậu bé khiếm thị vì nhiễm chất độc dioxin, không trường học nào dám nhận, đến một nhân vật được chào đón khắp nơi trên thế giới, Nguyễn Thanh Tùng đã trở thành biểu tượng sống của con người biết vượt lên nỗi đau.

Nguyễn Thanh Tùng sinh ngày 20/10/1979 tại Hà Nội. Cha anh là Nguyễn Thanh Sơn, cựu chiến binh. Những năm tháng khốc liệt ở chiến trường Trường Sơn, ông bị nhiễm chất độc dioxin. Di chứng đã khiến đứa con gái đầu của ông bị câm điếc, mù, bại liệt toàn thân và thiểu năng tuần hoàn não. Còn Nguyễn Thanh Tùng bị khiếm thị bẩm sinh, một mắt chỉ thấy lờ mờ. Để gia đình có điều kiện chăm sóc đứa con bại liệt, ông nội đưa Tùng về nuôi lúc chỉ tròn 8 tháng tuổi.

Năng khiếu âm nhạc bộc lộ từ khi Tùng lên 4. Cậu thường ngấu nghiến các chương trình âm nhạc trên sóng phát thanh. Khi nghe được một bản nhạc độc tấu bằng đàn bầu, cậu đã bị mê hoặc. Để vui lòng cháu, ông nội làm cho Tùng một cây đàn từ nửa thân cây luồng, một khúc tre, một cái lon sữa và một cái ruột phanh xe đạp. Được chạm vào cây đàn, niềm đam mê âm nhạc trong Tùng bùng lên dữ dội. Cậu ấp ủ một ngày nào đó chính mình sẽ chơi được các bản nhạc từ cây đàn bầu.

Nhưng khi Tùng đến tuổi đi học thì không trường nào nhận. Nỗi thất vọng vỡ òa trong tâm hồn cậu bé mù lòa. Hai ông cháu về nhà mày mò tự học qua các câu chuyện. Ông nội vừa học, vừa chỉ cho Tùng chơi guitar. Năm 1986, Cung Thiếu nhi Hà Nội mở cuộc thi đơn ca và kể chuyện lần 1, Tùng đã tham gia. Câu chuyện Sự tích chùa Một Cột của Tùng đã đoạt giải đặc biệt, còn tiết mục đơn ca Tiếng chày trên sóc Bombo, vừa hát vừa đệm guitar, thì giành huy chương vàng. Đây là một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Tùng.

Tùng được trường THCS Vân Hồ nhận vào học lớp 1, nhưng với điều kiện “phải biết đọc, biết viết”. Hai ông cháu mừng vui khôn xiết. Ông hì hục viết các chữ cái, các dấu thanh, các con số lên một tấm bìa để Tùng nhận diện và học theo. Qua 3 tháng, Tùng được nhận vào lớp 1, lúc đó đã 8 tuổi. Một buổi học văn hóa ở trường, một buổi Tùng học kể chuyện và đàn bầu ở Cung văn hóa Thiếu nhi. Cứ thế, cậu miệt mài nhích từng bước để mong ngày chạm tới ước mơ…

Nhưng cuối học kỳ 1 năm lớp 6, một biến cố lớn xảy ra. Khi Tùng đang ngồi học thì đầu óc quay cuồng, mắt tối sầm lại. Kể từ đó, cuộc sống của Tùng hoàn toàn là bóng đêm… Ông nội đến trường Nguyễn Đình Chiểu mượn sách và đồ dùng học tập về kèm cho Tùng học bằng phương pháp chữ nổi.

Khi Nhạc viện Quốc gia Hà Nội mở lớp học thí điểm cho trẻ khuyết tật tại trường, Tùng được tuyển chọn. Bằng đam mê và nỗ lực phi thường, cậu học hết sơ cấp, trung cấp, sau đó học tiếp khoa Âm nhạc truyền thống của Nhạc viện quốc gia Hà Nội. Tùng phải nhờ ông nội đọc tài liệu chuyên môn để tự chuyển qua chữ nổi. Sau này các bạn cùng khoa tình nguyện đọc giúp Tùng. Cứ thế, Tùng miệt mài như con tằm rút ruột nhả tơ trong suốt quá trình học. Một ngày đều đặn 4 lần ông chở Tùng đi học trên chiếc xe đạp cà tàng.

Năm 1996, Tùng được mời lưu diễn ở TP HCM. Thời gian này, Tùng bị một cơn đau mắt dữ dội. Các bác sĩ khuyên anh phải nghỉ học, nghỉ chơi đàn một thời gian. Đây là một việc quá khó. Anh tâm sự: “Có thể bắt tôi hy sinh một cái gì đó trong cuộc sống, nhưng nghỉ chơi nhạc thì không thể”. Trong một buổi học về lịch sử âm nhạc thế giới, cô giáo giảng về Beethoven và bản giao hưởng Định mệnh, viết khi ông vừa trải qua một cú sốc lớn trong cuộc đời: hỏng thính giác. Định mệnh sau đó đã trở thành một tác phẩm vĩ đại, hút người nghe từ nốt nhạc đầu tiên đến nốt nhạc cuối cùng.

Tùng nghiệm ra rằng, tiếng gõ cửa của định mệnh có thể đến với bất kỳ ai và bất cứ thời điểm nào. Nhưng quan trọng là sau tiếng gõ cửa đó người ta sẽ tiếp tục sống thế nào. Cuộc giao tranh giữa niềm đam mê và nỗi đau thể xác kéo dài đằng đẵng. Năm 1997, Tùng quyết định phải bước lên một bước bằng việc thi vào khoa Lý luận sáng tác và Chỉ huy của Nhạc viện. Sau đó anh tiếp tục học thêm piano.

Đại sứ âm nhạc

Nguyễn Thanh Tùng và ông nội. Ảnh: Thanh Niên.

Tốt nghiệp ĐH loại giỏi, Tùng được mời đi biểu diễn nhiều nơi trong và ngoài nước. Hội nghị thượng đỉnh APEC cuối năm 2006 tổ chức ở Hà Nội, Tùng cũng vinh dự được mời biểu diễn. Trước đó, năm 2005, trong cuộc vận động quốc tế ủng hộ nạn nhân chất độc da cam ở VN, Tổ chức Vietnam les enfants de la dioxin đã mời Tùng qua Pháp biểu diễn.

Từ đó, anh liên tục được mời đi diễn ở Đức, Bỉ, Hà Lan… Tại Bỉ, Tùng vinh dự được biểu diễn với cây đại thụ của Nhạc viện Brussels, giáo sư Phil Deli. Trong đêm hòa nhạc, bà để Tùng ngồi trên bục cao hơn mình, xung quanh thắp nến. Tùng đề nghị được ngồi cùng nhưng bà nói: “Anh là một nghệ sĩ đặc biệt. Tôi muốn mọi người nhìn anh rõ hơn để tôn vinh ý chí và nghị lực của con người VN”. Những tiếng hô: “Thanh Tùng, Việt Nam” luôn vang lên ở những nơi anh đến.

Ở những nơi đó, người ta dàn dựng cho Tùng một chương trình riêng và mong muốn được thưởng thức âm nhạc truyền thống VN qua tiếng đàn bầu của anh. Nhưng Tùng thường biểu diễn ba mảng: dân ca VN, tác phẩm của các nhạc sĩ VN soạn cho đàn bầu và chơi các bản giao hưởng kinh điển của Mozart, Brahms, Schubert, Beethoven… đã được chuyển thể.

Trước mỗi buổi hòa nhạc, Tùng đều nói lên mục đích chuyến đi. Ngoài việc giới thiệu âm nhạc truyền thống VN, Tùng kêu gọi sự ủng hộ cho các nạn nhân chất độc da cam VN. Sau buổi hòa nhạc, khán giả không chỉ ký tên ủng hộ mà còn nhận hồ sơ của từng nạn nhân chất độc màu da cam. Họ trao học bổng, mua sắm các nhạc cụ, máy thêu, máy may, máy vi tính… Thấy ai có năng khiếu về cái gì thì họ tập trung ủng hộ để các em có điều kiện phát triển.

Tùng tâm sự rằng, bản thân anh cũng mới bắt đầu, chưa có điều kiện để giúp các em về vật chất. Tùng muốn thông qua âm nhạc để nói với bạn bè quốc tế về nỗi đau da cam VN. Và một điều nữa, Tùng muốn thay đổi cách nhìn về các nạn nhân. Họ không phải đã tàn phế. Có người vẫn tiếp tục sống, làm việc. Với phần sức khỏe còn lại, họ cố gắng tiếp cận tri thức để làm người có ích cho cuộc đời.

Hiện tại Nguyễn Thanh Tùng đã cho ra đời một số tác phẩm có giá trị như Tự sự viết cho violon; Ánh xuân viết cho violon và piano hòa tấu… Tác phẩm Sông trăng viết cho tam thập lục và bộ gõ đã đoạt giải đặc biệt trong cuộc thi sáng tác do Nhạc viện Quốc gia Hà Nội, Viện Nghiên cứu âm nhạc VN và Quỹ Phát triển văn hóa phối hợp tổ chức năm 2004.

Tùng kể rằng, Sông trăng ra đời trong một đêm anh mất ngủ vì bị cơn đau hành hạ. Nằm nhớ lại những ngày thơ ấu được ông nội dắt đi bên bờ sông mát rượi dưới một đêm trăng vằng vặc, qua lời ông mô tả, anh tưởng tượng ánh trăng sóng sánh dát bạc trôi trên mặt sông êm đềm. Và anh nghĩ cuộc đời mình cũng giống như dòng sông, phải trải qua bao bão tố, thác ghềnh mới có được những phút bình yên…

28 năm qua, mỗi bước chân Tùng đi đều có sự dìu dắt của ông nội. Ông là người thày đầu tiên, là người đồng hành với Tùng trong cuộc chinh phục niềm đam mê. Đã 82 tuổi, nhưng trông ông rất tráng kiện. Râu tóc bạc phơ, da hồng hào, mắt sáng, trán cao. Ông sẽ tiếp tục đồng hành để Tùng làm tròn vai trò một đại sứ âm nhạc mà cuộc đời đã giao phó.

(Theo Thanh Niên)

Sau đây mời các bạn nghe tiếng đàn bầu Nguyễn Thanh Tùng qua Ru Con (dân ca nam bộ), Sông Trăng (Nguyễn Thanh Tùng sáng tác cho đàn bầu), Người Ơi Người Ở Đừng Về (quan họ Bắc Ninh), Lên Ngàn (nhạc Hoàng Việt).
.

Ru con Nam Bo (Lullaby from South Vietnam) – Thanh Tung đàn bầu (monochord)

.

Sông Trăng – Nguyễn Thanh Tùng sáng tác


.

Người ở đừng về (Please stay) – Quan họ Bắc Ninh – Nguyễn Thanh Tùng đàn bầu (monochord)


.

Lên ngàn (To the woods) – nhạc: Hoàng Việt – Nguyễn Thanh Tùng đàn bầu (monochord)

Phát triển ở Singapore

Chào các bạn,

Câu hỏi Nghiên Cứu Xã hội tuần này là:

“Điều gì bạn nghĩ là quan trọng nhất trong phát triển ở Singapore?”

và 6 câu trả lời là:

Chính quyền trong sạch
Chế độ chính trị
Dân singapore sáng tạo
Dân Singapore đoàn kết
Dân Singapore thông minh
Other (Thêm câu trả lời)

Chúc các bạn trả lời vui vẻ !

Mến,
Hoành

Tây Nguyên: Tết yên vui ấm lòng người nghèo

Ngoài niềm vui lớn được thụ hưởng dự án quốc gia về việc cấp điện cho 116.000 hộ thuộc các thôn, buôn chưa có điện vùng Tây Nguyên với tổng vốn đầu tư hơn 1.200 tỷ đồng, hàng vạn hộ nghèo và gia đình chính sách còn được nhận nhiều phần quà tết đầy tình nghĩa. Đặc biệt, số doanh nghiệp chung tay góp công, góp của làm công tác từ thiện ngày càng nhiều hơn. Ước tính tổng số quà chi từ nhiều nguồn cả trong và ngoài ngân sách đã được trao tặng giữa các đơn vị kết nghĩa tại các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Đắk Nông lên tới hàng trăm tỉ đồng .

Ban Đại diện báo Tiền Phong khu vực Tây Nguyên đã chuyển 50 triệu đồng quà tết quyên góp từ những tấm lòng nhân ái đến những nơi cần giúp đỡ. Trong đó có 1 triệu đồng tiền lì xì tết của bạn đọc và phóng viên góp tặng Tổ ấm Tình thương làng Kon T’Nẽ, xã Đăk T’ Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum; Và 196 phần quà gồm bánh, mứt, kẹo, mì tôm, phong bao lì xì v.v… mỗi phần trị giá 250.000đ. Không ngại khó khăn vất vả trong những ngày bận rộn giáp tết, nhiều độc giả thiện nguyện đã cùng cán bộ phóng viên Ban Đại diện đến tận các buôn làng xa xôi hẻo lánh để trao: 106 phần quà cho các hộ đồng bào nghèo ở buôn Cư K’nao xã Hòa Hiệp huyện Cư Kuin ; 45 phần quà cho đồng bào nghèo ở 2 buôn H’Đơk, H’Wiê xã Ea Kap; 45 phần quà cho học sinh mồ côi và có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại buôn Tháp Prông xã Cư Ea Bua thành phố Buôn Ma Thuột. Ban Đại diện báo Tiền Phong cũng phối hợp cùng một số cơ quan doanh nghiệp và Tỉnh Đoàn Đắk Lắk đi trao 730 suất quà cho học sinh nghèo vượt khó ở các huyện Lắk, Krông Năng, Ea H’leo, Cư Mgar và Ea Kar, mỗi suất trị giá 200.000đ.

1. Quà Tết cho học sinh nghèo cua báo Tiền Phong
.


.
2. Bạn đọc báo Tiền Phong cùng di trao quà Tết
.

3. Báo Tiền Phong trao qùa Tết ở Cư Mgar
.

HoàngThiên Nga – Hùng Lân

Một số sinh hoạt liên hệ đến người Việt vùng vịnh San Francisco

Chào các bạn,

Mình mới nhận được lịch sinh hoạt này từ anh Vũ Đức Vượng, giáo sư tại De Anza College, California. Lịch này chủ yếu là cho các bạn vùng Vịnh San Francisco. Có lẽ các bạn đọc được tiếng Anh 🙂 nên mình để nguyên bản Anh ngữ đây.

Cám ơn anh Vượng.

Chúc mọi người vui khỏe!

Hoành

____________________

A few events relating to Vietnamese, around the Bay Area


The Summer Program at De Anza  “VIETNAM  in  VIET-NAM”  will take place in August this year.

Orientation meetings:    at De Anza: tues. March 16  —  noon – 1 pm —   Second floor of the Library (Learning Center);

at Foothill:  Thu.  March 18  —  noon – 1 pm —   Toyon Room, in the Campus Center.

For more info, email me at this address.

Vu-Duc Vuong
Coordinator-Teacher
Vietnam in Vietnam
Summer Program of De Anza College
August 6 – 30, 2010

________________

Wednesday, February 24

The Long Shadow of Vietnam

Contemporary Asia Seminar Series

Marvin Kalb, James Clark Welling Presidential Fellow at The George Washington University and Edward R. Murrow Professor Emeritus at Harvard’s Kennedy School of Government

Please join Marvin Kalb to discuss the impact of the Vietnam War on presidential/strategic decisions about national security issues.

Marvin Kalb is also a contributing news analyst for National Public Radio and Fox News Channel. In addition, he is frequently called upon to comment on major issues of the day by many of the nation’s other leading news organizations.

Kalb had a distinguished 30-year broadcast career, working for both CBS News and NBC News, where he served as Chief Diplomatic Correspondent, Moscow Bureau Chief, and moderator of Meet the Press. Among his many honors are two Peabody Awards, the DuPont Prize from Columbia University, the 2006 Fourth Estate Award from the National Press Club and more than a half-dozen Overseas Press Club awards. He has lectured at many universities, here and abroad. Kalb was the founding director of the Joan Shorenstein Center on the Press, Politics, and Public Policy at the Kennedy School of Government at Harvard University.

A graduate of the City College of New York, Kalb has an M.A. from Harvard and was zeroing in on his Ph.D. in Russian history when he left Cambridge in 1956 for a Moscow assignment with the State Department. The following year, he joined CBS News, the last correspondent hired by Edward R. Murrow. Kalb has authored or co-authored 10 nonfiction books and two best-selling novels. His latest book, The Media and the War on Terrorism (co-edited with Stephen Hess), was the recipient of the 2004 Arthur Rowse Award for Press Criticism. He is currently engaged in research for a book on U.S. involvement in the Vietnam War and its impact on American politics and foreign policy.

12:00p.m. – 1:30p.m, RSVP required by February 23

http://aparc.stanford.edu/events/registration/6089/

Okimoto Conference Room

Encina Hall, 3rd floor, east wing

For more information please contact Debbie Warren

dawarren@stanford.edu or 650-723-8387


___________________

Thursday, February 25

The Health Policy Environment in Vietnam: Observations from an Outside Insider

Co-Sponsored by the Asia Health Policy Program and the South East Asia Forum

Dr. Khoa Truong, Assistant Professor of Department of Public Health Science Clemson University

The health sector’s successes in Vietnam have been described as “legendary” by international donors, but there is always the other side of the story. One can question the objectivity of reports from the government of Vietnam, the World Bank, and the World Health Organization. One can wonder in what areas the health sector has failed, who has paid for a “success story” and at what cost, and how much information is well documented and has been made public. Are there “stylized facts” regarding those aspects of health that have been successfully reformed compared with those where reform has lagged? Given these concerns, how can the research community contribute to improving health policy in Vietnam?

Dr. Truong will share his thought on recent socioeconomic development in Vietnam, discuss key health policy issues, and reflect upon his experiences including a research project in which the University of Queensland collaborated with Ministry of Health of Vietnam. Additional evidence will be drawn from a study of the cost-effectiveness of interventions to reduce tobacco use in Vietnam.

Khoa Truong was a visiting faculty member at the Hanoi School of Public Health and a research fellow at the Health Strategy and Policy Institute in 2008-2009.  Prior to that he spent six years as a doctoral fellow at the RAND Corporation.  His research interests include tobacco, alcohol, and illicit drug control policies; the impacts of built environments on health; international health issues; and economic development.

He received his doctorate and master of philosophy in policy analysis from the Pardee RAND Graduate School and earned a master’s degree in development economics from Williams College. A native of Vietnam, he began his career working with NGOs in bilateral and multilateral development projects in Southeast Asia. He was awarded a Fulbright scholarship and wrote “most outstanding paper” submitted at an Academy Health’s Annual Research Meeting (acknowledged as the premier forum for sharing the results of scholarship on health services).

12:00p.m. – 1:15p.m, RSVP required by February 24

http://aparc.stanford.edu/events/registration/5941/

Okimoto Conference Room

Encina Hall, 3rd floor, east wing

For more information please contact Lisa Lee

llee888@stanford.edu or 650-725-2429
_______________

A community  event

Please come join us in this upcoming theater event and post-theater dialogue within the Vietnamese community on issues of parenting, mental health, immigration policy; we are hoping that you take the collective journey to share your individual story thru story telling and to take additional step from self-care, caring for family to caring for larger community and to care for the planet earth.

Who: Guardians, Disciplinarians and Planters of Values.

Let us generate solutions together for a healthy and vibrant community!

Asian American Recovery Services, Inc. presents…

A Theater and Dialogue Event `LangTa’

performed by San Khau Viet Cali theater group.

on Feb 21st, March 7th and 14th 2010

When: February 21, 2010 Where: Shirakawa Community Center2072 Lucretia Ave San Jose, CA 95122 Time: 1:00 p.m.-4:00 p.m.

When: March 7th and 14th, 2010 Where: Mayfair Community Center2039 Kammerer Ave San Jose, CA 95116 Time: 1:00 – 4:00 p.m.

RSVP: thùy trang at 408-271-3900 x 343 or ttnguyen@aars-inc.org

Other: all events are free, light lunch will be provided.
_______________

A film about New Orleans & Katrina & Viet-Ams

Dear Folks,

A VILLAGE CALLED VERSAILLES has a busy couple months coming up! Please find our March screenings below. Hope to see you at one soon, and please don’t forget to forward this on to friends who might want to see the film.

We are also excited to announce A VILLAGE CALLED VERSAILLES has just been invited to the 2010 American Documentary Showcase, curated by the US Department of State and the International Documentary Association (IDA). The film will travel with the Showcase to over 30 countries around the world this year. Finally, A VILLAGE CALLED VERSAILLES was recently honored with its third award, the Council on Foundations distinguished Henry Hampton Award for ‘Excellence in Film & Digital Media.’

Thank you for your continued support.
________________

SEBASTOPOL, CA:

WHAT: Sebastopol Documentary Film Festival
WHEN: 3/6 @ 7pm
WHERE: Sebastopol Cinemas, 6868 McKinley Street, Sebastopol, CA
INFO/TICKETS: Sebastopol Documentary Film Festival
FACEBOOK EVENT: http://tinyurl.com/avcvsebastopol

Filmmaker S. Leo Chiang, and associate producers Brittney Shepherd and Eva Moss will be in attendance.
________________

SAN JOSE, CA:

WHAT: California Association for Bilingual Ed (CABE) Conference
WHEN: 3/12 @ 4pm
WHERE: McEnery Convention Center, 150 West San Carlos St., San Jose, CA
FACEBOOK EVENT: http://tinyurl.com/avcvcabe

Filmmaker S. Leo Chiang will be in attendance. Please visit the CABE Conference page for more information.

SAN FRANCISCO/SAN JOSE, CA (Three Screenings):

WHAT: San Francisco Int’l Asian American Film Fest
INFO/TICKETS: San Francisco Int’l Asian Am Film Festival. Members of Center for Asian American Media (CAAM) receive discounts.
FACEBOOK EVENT: http://tinyurl.com/sfiaaff

Screening #1
WHEN: Sat 3/13 @ 2:15 pm
WHERE: Sundance Kabuki Cinemas, 1881 Post St @ Fillmore, SF

Screening #2
WHEN: Tue 3/16 @ 9 pm
WHERE: VIZ Cinema, 1746 Post St @ Webster, SF

Screening #3 – SAN JOSE
WHEN: Sat 3/20 @ 5:30 pm
WHERE: Camera 12 Cinema, 201 S. 2nd St @ San Carlos, San Jose

Filmmaker S. Leo Chiang and Associate Producers Brittney Shepherd & Eva Moss to attend.

Thực hiện giấc mơ

Tất cả chúng ta đều có những giấc mơ. Nhưng để biến giấc mơ thành hiện thực, cần rất nhiều quyết tâm, hiến thân, tự kỷ luật, và nỗ lực khủng khiếp.

Trần Thị Thu Hiền dịch
.

We all have dreams. But in order to make dreams come into reality, it takes an awful lot of determination, dedication, self-discipline, and effort.

Jesse Owens