Thứ sáu, 12 tháng 2 năm 2010

Bài hôm nay

Những khúc ca xuân – series, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, chị Huỳnh Huệ.

Muộn còn hơn không, Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.

Hạnh phúc trong công việc , Danh Ngôn, song ngữ, anh Nguyễn Hoàng Long.

Giúp một người, Danh Ngôn, song ngữ, chị Trần Thị Thu Hiền.

Điều tốt đẹp nhất bạn có và là , Danh Ngôn, song ngữ, chị Lâm Thanh Thanh.

Bâng quơ từ nơi xa xôi, Thơ, anh Phạm Lưu Đạt.

Chợ Tết, Thơ, chị Tôn Nữ Ngọc Hoa.

Cuối năm , Thơ, anh Trần Đình Hoành.

Chuyển Gửi – Transmission , Thơ, song ngữ, anh Nguyễn Minh Hiển và anh Trần Đình Hoành.

Nghĩ về mưa nắng trời xuân, Văn, Văn Hóa, anh Trần Huiền Ân.

Mưa hoa, Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Những khúc ca xuân – series

21. Liên khúc Xuân ca, Đón Xuân & Xuân nghệ sĩ hành khúc

Bich Vân & nhiều nghệ sĩ


.

22. Xuân Đã Về- Mây Trắng


.

23. Dịu Dàng Sắc Xuân – Mây Trắng


.

24. Khúc Hát Thanh Xuân_ Johann Srauss, Lời Việt Pham Duy

Trình bày: Thanh Lan & Ngọc Hạ


.

25. Lắng Nghe Mùa Xuân Về

Trình bày: Bằng Kiều, Hồng Nhung


.

26. Xuân Quê Tôi – Cẩm Ly & Quốc Đại


.

27. Liên Khúc Thì Thầm Mùa Xuân – Chiều Xuân

Trình bày: Tam Ca Con Gái


.

28. Khúc Nhạc Mừng Xuân – Trish


.

29. Xuân Họp Mặt

Jacqueline Thùy Trâm, Dạ Nhật Yến and Trish Thùy Trang


.

30. Khúc Xuân Ca Nhạc Nguyễn Ngọc Phúc – Quỳnh Lan trình bày

Hạnh phúc trong công việc

Để mọi người hạnh phúc trong công việc, có ba điều cần thiết: Họ  cảm thấy phù hợp cho việc đó. Họ không phải làm việc đó quá nhiều. Họ có cảm giác thành công trong việc đó .

Nguyễn Hoàng Long dịch

.

In order that people may be happy in their work, these three things are needed: They must be fit for it. They must not do too much of it. And they must have a sense of success in it.

John Ruskin (1819 – 1900), Pre-Raphaelitism, 1850

l

Buâng Quơ Từ Nơi Xa Xôi.

Gío thở từng sợi lạnh
Xuân vẩn ở nơi nao?
Loanh quanh vài trang báo
Đâu đó một cành mai
Thế thôi.
Nắng đầu mùa chút ấm
Nằm nướng dài trên sân
Con chim sẻ gật gù
Tìm tình yêu đầu Xuân?
Thế nhé

Ai có về bến xưa
Nhớ gói cánh hoa đào
Nhớ thăm con đường nọ
Nhớ gởi lời chúc xuân
Nhớ em.
Vài cụm mây lơ đểnh
Vướng ngọn núi thông gìa
Vài con sóc kiếm ăn
Rớt rơi từng nhúm tuyết
Cô độc
Xuân vẫn xa
Thêm một lần
Chồng chất tóc phai.

Phạm Lưu Đạt

02/06/2010

Chợ Tết

Giữa giòng người ngược xuôi

Tôi thả bước lẻ loi

Không tìm mà mong gặp

Một người. Lâu lắm rồi…

Người ấy chợ Tết xưa

Thưở mười sáu trăng mơ

Giữa đông vui bè bạn

Gởi bông hoa thay lời

Ngày đó tôi thơ ngây

Tưởng chuyện đùa bé con

Cầm bông hoa bứt cánh

Thả gió cuốn. Reo dòn..

Nào biết tôi vô tình

Xé nát mối tình son

Nào biết tim ai vỡ

Giữa chiều xuân rộn ràng

Từ đó người phiêu dạt

Năm tháng mãi không về

Từ đó tôi biết nhớ

Người đã thành người xa

Xuân đến rồi xuân qua

Hoa tàn lại nở hoa

Bao nhiêu năm thầm lặng

Tiếc hoài bông hoa xưa

Chợ Tết người đông vui

Này lứa đôi lứa đôi

Không thấy người. Không thấy

Khói đâu mà mắt nhòe

Tôn Nữ Ngọc Hoa

Chuyển gửi – Transmission

Chào các bạn,

Tết năm 2008, khi anh Hoành post bài The Old Master (Ông Đồ Già) trên diễn đàn VNBIZ, mình gởi bản dịch của anh Hoành đến người bạn Mỹ lớn tuổi mà mình gọi là Uncle Hank. Uncle Hank lấy được hứng khởi từ bài The Old Master và viết một bài thơ tặng mình, có tên là Transmission.

Gần đây mình nhờ anh Hoành dịch ra tiếng Việt, gọi là Chuyển Gửi.

Hôm qua anh Hoành đăng bài The Old Master trên ĐCN. Nên hôm nay mình muốn chia sẻ bài thơ Transmission và câu chuyện nhỏ này đến các bạn.

Chúc cả nhà một ngày chuyển gửi! 🙂

Hiển

Chuyển gửi

Một mình trong quán sách cà phê.
Tôi ngồi và đọc và ngắm
người qua.
Một chàng Á châu đẹp trai
(người Phi, sau này tôi khám phá)
lượn ra lượn vào giữa những hàng sách.
Hắn thấy tôi.
Tôi thấy hắn.
Hắn đến và ngồi,
dù có cả hàng chục chiếc ghế dư,
ở chiếc bàn kế tôi.
Chằng nói với nhau lời nào.
Cũng chẳng chào hỏi.
Hắn mở cặp
và lôi ra một mớ bưu thiếp
và một sổ địa chỉ nhỏ.
Hắn viết và ký
(với hoa hòe bóng bẩy
của một chàng trai trẻ!)
tám hay mười thiệp.
“Tôi tưởng tôi là người cuối cùng trên thế giới
thực hành nghệ thuật cổ-lổ-xỉ này,”
tôi bắt chuyện.
“Cái gì? Gởi bưu thiếp
cho bạn bè lưu lạc khắp nơi
trên thế giới?
Đừng lo, ông nội.
Tôi sẽ trung thành với nó
mãi sau khi ông đã ra đi.”

TĐH dịch

Transmission

All alone in the bookstore cafe,
I sit and read and watch
the passers-by.
A handsome Asian man
(Filipino, I later find out)
weaves in and out of the stacks.
He notices me.
I notice him.
He comes and sits,
despite two dozen empty seats,
at the table next to me.
No words are exchanged.
No greetings yet.
He opens a briefcase
and extracts a stack of postcards
and a small “carnet d’addresses”.
He writes and signs
(with a young man’s pretentious
flourish!)
eight or ten of these.
“I thought I was the last man on earth
to practice this arcane craft,”
I offer.
“What? Sending postcards
to friends scattered all around
the world?
Don’t worry, grandfather,
I’ll be faithful to it
long after you are gone.”

Thanks for the inspiration.  Here is my Tet present to
you.  (When is Tet?)
Uncle Hank

Nghĩ về mưa nắng trời xuân

Đọc tập hồi ký viết tay thấy cha tôi kể chuyện hồi những năm đầu thập niên 30 của thế kỉ trước song thân tôi “lưu lạc” vào Nam Kỳ. Sáu bảy năm trời xa quê, nhìn “thiên hạ” đón xuân ông cảm khái ngâm rằng:

Xuân mãn nam thiên phong thủy cựu
Nhơn tồn khách địa tuế thời tân


Hồi đó Tây chia nước ta thành ba kỳ, ba chế độ cai trị khác nhau. Dân Trung Kỳ vào Nam Kỳ coi đây là đất khách. Xuân về tết đến… đem lại thời gian mới nhưng người vẫn còn nơi đất khách nhớ về quê cũ. (Tương tự, Nguyễn Bính từ Bắc Kỳ vào đến Huế đã làm thơ rằng Chén rượu ly hương, trời, đắng lắm, rồi trong Hành phương nam cũng từng cảm khái với Đêm mưa đất khách). Thế nhưng, nghiệm trong câu trước thì dẫu phương nam hiện tại (lúc ấy) có là đất khách, cha tôi vẫn hiểu mình đang sống dưới trời nam, không riêng cho một kỳ nào. Khắp cả trời nam mọi người cùng đón xuân với phong tục tập quán tự ngàn xưa. Vậy là cha tôi không cô đơn nơi khách địa, ông đã bắt gặp cả phong thủy cựu bàng bạc khắp nơi giữa buổi tuế thời tân, bởi vì xuân mãn nam thiên, bởi vì mùa xuân không bao giờ lỗi hẹn.

Rồi khi tôi vừa chào đời song thân tôi trở về quê cũ. Tôi đã sống những ngày thơ ấu trong không khí vùng cao nguyên mùa dông lạnh buốt gió bấc mưa dầm. Dần dần mưa tạnh, run run chút nắng mong manh, lớp đất đóng rong trên mặt sân bóc lên những miếng bằng miệng chén, vỡ ra giòn vụn dưới bàn chân cho tôi sự thích thú nhẹ nhàng. Vài ba buổi chiều rồi năm bảy buổi chiều. Cái nắng như người bệnh yếu ớt ẻo lả ấy dần dần bình phục, mỗi hôm đậm thêm một chút, dần dần không biết tự lúc nào vẻ chói chang rực rỡ hiện rõ, trong màu sắc còn có hương thơm và hình như có cả vị ngọt. Chúng tôi ngớ ra y như con thú rừng ngẩng đầu vươn cao tầm nhìn để đánh hơi trong gió và thấy được: tết sắp tới rồi. Tuổi nhỏ chúng tôi chỉ biết có tết, sau này lớn lên, hồi tưởng mới nói: mùa xuân đang đến.

Tháng chạp hết mưa, buổi sáng đầy sương là báo hiệu buổi trưa nắng tốt mà giữa khuya càng thấm lạnh. Đến cuối tháng chạp thì nắng đẹp lắm, màu vàng tươi rói. Thế mà sang tháng giêng thì cái nắng ấy biến đâu mất. Nắng tháng giêng đã nghiêng sang màu hồng, hơi nặng, không vàng, không nhẹ như nắng tháng chạp. Và tháng giêng trời lại chuyển mùa, hay có những cơn mưa: mưa xuân.

Có thể nói thời tiết từ đông sang xuân thật rắc rối:

Cơ mầu tạo hóa bốn mùa vần
Đông: cuối ba mươi – mồng một: xuân
(Thơ Hồng Đức quốc âm)

Nhiều lần chiều hăm chín chiều ba mươi vẫn là nắng vàng tháng chạp, nhưng giữa khuya hoặc mờ sáng rắc xuống cơn mưa. Đôi lúc là cơn mưa khá lớn, nhưng mưa không lâu. Thông thường mưa nhỏ lay bay, mưa phùn lất phất. Đọc thơ Trung Hoa thấy ông thi sĩ Mạnh Hạo Nhiên nhàn nhã đến mức ngày xuân mà ngủ quên không biết trời trăng mây nước gì, đến khi nghe tiếng chim kêu rộn ràng thức dậy tự hỏi: Đêm qua trời mưa gió hoa rụng ít nhiều?

Dạ lai phong vũ thanh
Hoa lạc tri đa thiểu?
(Xuân Hiểu)


Khi chúng tôi trưởng thành mà chưa phải nhận trách nhiệm gia đình thì ngày tết cũng thật thoải mái, tưởng như đất trời trong gang tấc để vẽ vời cái gọi là giấc mộng sông hồ. Tết là dịp để rộng bước giao lưu, đi chơi đây đó. Thanh niên Miền Trung năm mươi năm trước phần đông hiền khô như cục đất, bước đầu tập uống la-ve, đọc cổ văn cố bắt chước theo cái buồn của người xưa nhưng chẳng thấy đâu mối sầu vạn cổ mà càng có điều vui để nói với nhau, nhìn bạn gái qua lăng kính Tự lực văn đoàn, thấy người nào cũng đẹp, cũng thánh thiện. Mưa xuân làm đôi má bạn trắng hơn, nắng xuân làm má bạn hồng hơn. Tết được đồng hóa với mùa xuân và mùa xuân đồng hóa với tuổi xuân, cho nên khi tết không chịu nán lâu hơn thời ta còn niên thiếu, Kiều Thệ Thủy viết:

Ai đem tâm sự mà thương nhớ
Cồn tóc mây xa ở cuối trời
Bạn cũ sông hồ năm bảy đứa
Biết còn trinh bạch những đôi môi?

Đời tôi trải nhiều buổi nguyên đán nắng hồng hơn những buổi nguyên đán mưa nhạt. Nhưng những buổi nguyên đán mưa nhạt còn đọng lại trong ký ức lâu hơn. Năm ấy tôi về ăn tết tại nhà bà cô ở làng Bình Chánh trong vùng châu thổ sông Cái Tuy An, sáng mồng một theo ông dượng lên chùa Đá Trắng. Đá Trắng là tên nôm, tên chính thức của chùa là A Lan Nhã sắc tứ Từ Quang tự. Trời mưa bụi lay bay, thoáng nhìn ta không biết ướt, nhưng vuốt tay lên đâu thì thấy nước ở đó. Tâm hồn tôi như lâng lâng khi dạo trong vườn tháp rêu phong, cứ nghĩ hoài đây là nơi gắn bó với những việc quan trọng của gia tộc. Trong cuộc khởi nghĩa Cần vương tại Phú Yên năm 1885 do Lê Thành Phương lãnh đạo, ông nội tôi lúc ấy hăm sáu tuổi là Quân thứ từ hàn, lo về văn thư bút lục, thường lãnh nhiệm vụ ra chùa Đá Trắng làm một khách vãn cảnh để gặp gỡ liên hệ với các bạn đồng tâm trong văn thân tỉnh Bình Định. Một buổi trưa nắng gắt tại dốc Đá Trắng ông đã gặp người phụ nữ gánh nước độ đường. Người phụ nữ ấy sau là bà nội tôi. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông nội tôi đưa bà lên Vân Hòa trú ẩn, về già lui xuống Phong Thái, căn dặn con cháu khi ông lâm chung chôn sâu trong hang đá. Cha tôi thì an táng ở Tuy Hòa. Thành ra cả họ Trần nhà chúng tôi chỉ có hai người dâu là bà nội tôi và mẹ tôi ngàn năm yên nghỉ tại Vân Hòa. Bởi lẽ ấy tôi dành trọn tình cảm sâu nặng cho làng quê.

Có một nguyên đán từ huyện lị tôi khăn gói lên đường làm chuyến đi xa. Đi xa là nói theo chữ nghĩa cho vui và nói theo giao thông cách trở thời tôi hai mươi tuổi chứ ba bốn trăm cây số thì giờ đây có xa gì. Từ quán trọ nhìn ra con đường vừa tu bổ, những hàng dương mới trồng xanh nhạt dưới màn mưa nhỏ. Chưa biết nhiệm sở sắp đến thế nào, bằng hữu sẽ gặp ra sao, tưởng tượng cũng có phần thích thú nhưng không khỏi phảng phất bâng khuâng xa cách cố nhân, sẽ không còn những lần lang thang từ phố huyện ra nhịp cầu xưa đến chân đồi Lá đôi mắt bạn nhìn xa xôi tận điểm cuối cùng.

Tôi mạn phép sửa một chữ trong thơ Vương Duy:

Huyện thành triêu vũ ấp khinh trần
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân

Và thoát dịch theo ý mình: Mưa mai rắc bụi huyện thành. Hàng dương quán trọ xanh xanh nhạt nhòa.

Tháng giêng bao gồm hai tiết lập xuân và vũ thủy. Từ lập xuân đến vũ thủy mưa xuân chỉ rơi rắc như bụi nhẹ. Mưa vũ thủy mới đáng mặt là mưa, mưa cho cây cối núi rừng, hoa đồng cỏ nội, ruộng đồng đất thổ, cho lúa bắp sắn khoai, mưa thật lớn, ào ào tuôn đổ, ép dẽ mái tranh, băng bờ tạo trổ, thật tươi trẻ, mạnh mẽ, dứt khoát từng cơn rồi tạnh ráo, tầng cao trở lại trong xanh, nõn nà mây trắng, mưa không dai dẳng lê thê, trời không âm u trì trệ. Nếu coi những cơn mưa bụi buổi nguyên đán khai xuân là mưa sơ sinh, mưa thơ ấu, thì mưa trong tiết vũ thủy là mưa tuổi hai mươi, bước vào giai đoạn trưởng thành, tràn trề mộng ước. Tiết vũ thủy năm ấy cha tôi làm thơ nôm vịnh cảnh ruộng đồng, có những câu:

Lúa nứt ngạnh trê thêm bộn gié
Đỗ ra trái đỉa lại nhiều hoa
Con chàng bắp nọ không lo háp
Mấy đám khoai kia chẳng sợ hà…


Thi sĩ Mạnh Hạo Nhiên mới ngày nào đó nhàn hạ vô tư, sau giấc ngủ mùa xuân trễ tràng nghe tiếng chim kêu nghĩ chuyện hoa rụng ít nhiều thì tới lúc nào đó cuối năm trở về Nam Sơn không khỏi chạnh lòng thấy tóc bạc giục tuổi, mỗi năm một già, ngày xuân đưa năm cũ trôi đi hết:

Bạch phát thôi niên lão
Thanh dương bức tuế trừ…

Câu thơ ấy đang ứng với thế hệ chúng tôi. Có thể nhìn xuôi chiều thời gian từ ấu thời đến lão niên, cũng có thể nhìn ngược lại để điểm dừng ở tuổi ấu thời. Ba bữa tết, bảy ngày xuân, nắng mưa, mưa nắng… trong mỗi đời người đâu phải ít lần trải qua, cứ đến chu kỳ quay lại đúng hẹn, luôn luôn bao trùm lên tất cả, sông núi cỏ cây hoa lá và quan trọng hơn hết là trong lòng người. Cũng con đường ấy sáng mồng một mới hơn chiều ba mươi, cũng con người ấy hôm nay chỉnh tề mực thước hơn hôm qua. Cái mới của mùa xuân khiến cho mỗi tâm hồn trẻ trung vì biết phân định quá khứ đồng thời dự phóng tương lai.

Cho nên khi một cành mai phương nam, một cành đào đất bắc hay một khóm hoa núi, một tiếng chim rừng chợt báo tin xuân, con người ở chặng nào của cuộc đời đều sẵn sàng dọn lòng chuẩn bị hoan nghênh. Dù vui hay buồn, mưa hay nắng, ai ai cũng trải mở phong thủy cựu để đón tiếp tuế thời tân.

Trần Huiền Ân

Mưa hoa

Tu-bồ-đề là đệ tử của Phật Thích Ca. Sư có thể hiểu được uy lực của Không, quan điểm rằng không có gì hiện hữu ngoại trừ trong liên hệ chủ quan và khách quan của nó.

Ngày nọ Tu-bồ-đề đang ngồi dưới gốc cây, trong trạng thái cực kỳ tĩnh lặng, Hoa bắt đầu rơi quanh ông.

“Chúng tôi ca ngợi ngài về đàm luận của ngài về Không,” các vị Phạm thiên thì thần với ông.

“Nhưng tôi đâu có đàm luận gì về Không,” Tu-bồ-đề nói.

“Ngài đã chẳng đàm luận gì về Không, chúng tôi đã chẳng nghe gì về Không,” các Phạm thiên trả lời. “Đó chính là Không.” Và hoa rơi trên Tu-bồ-đề như mưa.

Bình:

• Cảnh “mãn thiên hoa vũ” (mưa hoa đầy trời) nầy thường xảy ra trong kinh Phật, thông thường là khi Phật Thích Ca hay một vị Bồ Tát nào đó dạy một “pháp” rất lớn, rất vi diệu.

• Phạm thiên, lấy từ chữ Brahman trong Ấn giáo, là vua của một cõi trời.

• Chữ emptiness trong bản tiếng Anh được dịch ở đây với hai chữ khác nhau ở hai nơi: “Không”, và “tĩnh lặng” (khi Tu-bồ-đề ngồi dưới gốc cây).

“Không” là tất cả vũ trụ của ta (cả nội tâm lẫn ngoại tại).
“Tĩnh lặng” là một trạng thái nội tâm.

Trạng thái nội tâm của ta (tĩnh lặng, emptiness) cũng chính là vũ trụ của ta (Không, emptiness). Đây là một mệnh đề triết lý có thể được lý giải bằng những lý luận và từ ngữ triết lý phức tạp. Nhưng chúng ta có thể giản dị hóa vấn đề bằng quan sát rằng: “Khi tâm ta cực kỳ tĩnh lặng thì ta thấy thế giới quanh ta cực kỳ tĩnh lặng.”

Tức là, Vũ trụ ta thấy là do tâm ta thấy như vậy. Đây là quan niệm chủ quan về hiện hữu—Hiện hữu quanh ta chỉ có thể thấy được như tâm ta thấy.

Tức là, Vũ trụ mà ta thấy chỉ là l‎ý giải của tâm ta về vũ trụ ta nhìn.

Nghĩa là, mỗi người chúng ta “thấy” một vũ trụ, và vũ trụ ta thấy thì khác với vũ trụ người khác thấy.

Và nếu tôi không hiện hữu (ví dụ, tôi chết đi) thì vũ trụ tôi thấy cũng chết theo tôi. Không có tôi thì vũ trụ của tôi không hiện hữu.

Không có những người khác, thì những vũ trụ của họ cũng không hiện hữu.

Cho nên ta nói “Vũ trụ là do tâm ta sinh ra.” Nếu ta chết, vũ trụ của ta chết theo.


• Nhưng, dù là chúng ta chỉ có được cái nhìn chủ quan về hiện hữu thì hiện hữu vẫn phải “có” đó một cách khách quan, trong một dạng nào đó, dù là không ai nắm bắt được khách quan tính của nó. (Ngay cả nói nó “có” đó một cách khách quan cũng đã là sai rồi, vì “có” là hiện hữu, mà hiện hữu nào thì cũng chỉ là cái nhìn chủ quan méo mó, không bảo đảm, của tôi).

Ta gọi tính khách quan của vũ trụ là Không, vì không diễn tả được cách nào cả, ngoài việc dùng tạm tên “Không”; nếu diễn tả bằng ngôn từ, thì ngôn từ sẽ biến Không thành “l‎ý giải chủ quan của hiện hữu” mất rồi.

• Đó là ‎ý nghĩa của câu: “Không có gì hiện hữu ngoại trừ trong liên hệ chủ quan và khách quan của nó.”

Không có gì hiện hữu đối với tôi ngoại trừ trong liên hệ chủ quan giữa nó với tôi—cái nhìn chủ quan của tôi về nó.

Không có gì hiện hữu với tôi ngoại trừ trong liên hệ giữa hình ảnh chủ quan của nó trong tâm trí tôi và một suy luận chủ quan của tôi là nó phải hiện hữu khách quan một cách nào đó (để tôi có thể nhìn và thấy nó một cách chủ quan).

Ngoài những cái nhìn chủ quan (méo mó) và suy luận chủ quan (méo mó) của tôi về chủ quan và khách quan, thì chẳng thể nói gì chính xác về hiện hữu cả.

Bên ngoài và bên trên những cái nhìn và suy luận này thì cùng lắm chỉ có một “cái” chính xác nhưng lại không diễn tả được–đó là Không, cái khách quan tính của hiện hữu mà vĩnh viễn tôi không thể nào mô tả hoặc nắm bắt được.

• Vì không thể mô tả và nắm bắt “Không” được, nên Tu-bồ-đề đã chẳng nói gì về Không, và chư thiên đã chẳng nghe gì về Không, và như thế Không là Không.

• Liên hệ chủ quan và khách quan là các từ triết lý tây phương. Ở Đông phương, người ta thường nói đến “tánh” (khách quan) và tướng (chủ quan), hay “thể” (khách quan) và “dụng” (chủ quan).

• Đây là vũ trụ quan của Phật giáo. Và đồng thời cũng là nhân sinh quan, khi Tu-bô-đề ở trong “subtime emptiness” (“cái Không vi diệu”, mà chúng ta đã dịch là “cực kỳ tĩnh lặng”).

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Flower Shower

Subhuti was Buddha’s disciple. He was able to understand the potency of emptiness, the viewpoint that nothing exists except in its relationship of subjectivity and objectivity.

One day Subhuti, in a mood of sublime emptiness, was sitting under a tree. Flowers began to fall about him.

“We are praising you for your discourse on emptiness,” the gods whispered to him.

“But I have not spoken of emptiness,” said Subhuti.

“You have not spoken of emptiness, we have not heard emptiness,” responded the gods. “This is true emptiness.” And blossoms showered upon Subhuto as rain.

# 36