Thứ sáu, 26 tháng 2 năm 2010

Bài hôm nay

Malagueña Salerosa – bản nhạc lãng mạn Mê-hi-cô của mọi thời đại, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, anh Trần Đình Hoành.

Yêu và được yêu, Danh Ngôn, song ngữ, anh Nguyễn Hoàng Long.

Đừng xét bên ngoài , Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.

Nụ cười mang bình yên, Danh Ngôn, song ngữ, chị Trần Thị Thu Hiền.

Hội Xuân , Thiền Thi, anh Trần Đình Hoành.

Tôi biết tại sao con chim nhốt trong lồng vẫn hót, Thơ, song ngữ, chị Huỳnh Huệ và anh Lê Vĩnh Tài.

Mênh mông chiều vàng, Văn , chị Đàm Lan.

Cơ hội là do chính bạn tạo ra, Trà Đàm, Du Học, Chuyện Phố, chị Hoàng Khánh Hòa.

Kẻ cướp thành môn đệ, Thiền, Trà Đàm, Văn Hóa, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Malagueña Salerosa – bản nhạc lãng mạn Mê-hi-cô của mọi thời đại

Chào các bạn,

Ai đã nghe qua nhạc Flamenco đều biết đến Malagueña Salerosa, hay còn gọi tắt là Malagueña. Bản này đã được mọi nghệ sĩ guitar và vũ flamenco khắp thế giới trình diễn trong vòng hơn 60 năm nay, kể từ khi được hai nhạc sĩ Mê-hi-cô Elpidio Ramírez và Pedro Galindo cho ra đời trên Peer International năm 1947.

Bản nhạc là lời tỏ tình chân chất của một chàng thanh niên nghèo với một cô gái rằng nàng rất đẹp, và chàng rất yêu nàng, nhưng chàng sẽ hiểu nếu nàng từ chối tình yêu vì chàng nghèo quá.

Một cuộc tình say đắm, một chiều, nhưng với hiểu biết, và không cay đắng.

Mắt em đẹp làm sao
Dưới đôi chân mày
Dưới đôi chân mày đó
Mắt em đẹp làm sao!

Mắt em muốn tôi ngắm nhìn
Mắt em muốn tôi ngắm nhìn
Nhưng chỉ nếu em không rời đôi mắt
Dù chỉ để chớp mắt.

Malaguena Salerosa
Tôi muốn hôn môi em
Tôi muốn hôn môi em
Malaguena Salerosa.

Nếu em xem thường tôi vì nghèo
Tôi hiểu lý do
Tôi hiểu lý do
Nếu em xem thường tôi vì nghèo.

Tôi không tặng em giàu có
Tôi tặng em quả tim tôi
Tôi tặng em quả tim tôi
Để thay cái nghèo của tôi

Và tôi nói với em, hỡi người đẹp ơi,
Em đẹp và huyền diệu
Em đẹp và huyền diệu
Như hoa hồng tinh khiết

(TĐH dịch)

Malaguena Salerosa

What pretty eyes you have
Underneath those two eyebrows
Underneath those two eyebrows
What pretty eyes you have!

They want me to watch them,
but (only) if you don’t leave them
but (only) if you don’t leave them,
not even to blink.

Malaguena Salerosa
I wanted to kiss your lips
I wanted to kiss your lips
Malaguena Salerosa.

If you despise me for being poor,
I grant you reason,
I grant you reason,
If you despise me for being poor.

I do not offer you wealth,
I offer you my heart.
I offer you my heart,
In exchange for my poverty.

And to tell you, beautiful girl,
You are pretty and magical
You are pretty and magical
Like the candor of a rose.

Bản nhạc này được ca si Mê-hi-cô Miguel Aceves Mejia làm nổi tiếng trong một cuốn phim Mê-hi-cô, và Jose Feliciano, được xem như người trình tấu guitar Flamemco bản này hay nhất thế giới.

Sau đây mời các bạn thưởng thức:

1. Malaguena qua tiếng guitar Flamenco của Jose Feliciano
2. Malaguena qua tiếng hát của Miguel Aveces Mejia
3. Ca sĩ/tài tử đẹp trai Antonio Banderas trong đoạn mở đầu phim Once Upon A Time in Mexico, với Malaguena là nhạc nền.
4. Malaguena do ban nhạc rock Mê-hi-cô ở Austin, Texas, Mỹ, tên là Chingon, trình diễn ngày ra mắt cuốn phim Kill Bill II (Bản này có trong nhạc nền của phim).

Chúc các bạn một ngày lãng mạn!

Hoành
.

Jose Feliciano – Malagueña Salerosa

.

MIGUEL ACEVES MEJIA hát “LA MALAGUEÑA”


.

Antonio Banderas – La Malagueña (Érase Una Vez En México)


.

Chingon – Malaguena Salerosa (Kill Bill 2)

Tôi biết tại sao con chim nhốt trong lồng vẫn hót

Như đã giới thiệu trong tiểu sử của nữ thi hào người Mỹ da đen Maya Angelou, người phụ nữ mà cuộc đời là một cuộc đấu tranh không mệt mỏi từ tuổi thơ bất hạnh, vượt lên trên số phận lầm than cay đắng, bùn đen của kiếp người, bị kì thị chủng tộc, bóc lột, cưỡng đoạt và chà đạp, để vươn cao như ngọn hải đăng toả sáng, tự do như mây trời, và ấm áp như nắng mai.

Bà trở thành một nhân vật được kính trọng, ngưỡng mộ, nhà thơ lớn và nhà giáo dục như chúng ta đã biết qua những tác phẩm của bà, gần đây nhất là bài giới thiệu quyển sách Letter to My Daughter.

Bài thơ Chim Trong Lồng khắc hoạ sự tương phản giữa cái thiện và các ác, trắng và đen, ngục tù giam hãm đầy cuồng nộ, và phía ngoài kia là tự do của những ước mơ. Bài thơ mở đầu với hình ảnh chú chim xoải cánh bay, chao lượn như một ẩn dụ về người da đen Châu Phi khi còn được sống đời hoang dã đơn sơ mà tự do.
Rồi chú chim bị bắt nhốt sa vào thân chim lồng, cánh bị xén, chân bị buộc, chỉ còn biết hót, khúc hót rền rỉ bi tráng rung lên trong phẫn nộ. Ấy là thân phận nô lệ của những người da đen bị bắt cóc và bán làm nô lệ trên đất Mỹ, bị phân biệt đối xử, ngược đãi… khiến ta nhớ lại những tác phẩm như Côi Rễ của Alex Haley

Nhưng điều kì diệu là ngay trong ngục tù, chú chim bị nhốt ấy vẫn hát cho bài ca tự do vang vọng trên ngọn đồi xa tít. Chú chim trong lồng vẫn không mất đi niềm hy vọng rồi sẽ được giải phóng và tự do ở một bầu trời xanh lộng gió, lại được chao lượn trong nắng ấm ban mai với những con sâu múp míp đón chờ trên cỏ biếc.

Mời các bạn đọc bài thơ Caged Bird do anh Lê Vĩnh Tài chuyển ngữ


Chú chim đang bay nhảy tự do
lơ lửng lượn trên lưng của gió
thi thoảng đôi cánh chú buông lơi
như thách thức cả bầu trời
đang rực rỡ màu da cam
trong ráng chiều ngập nắng

nhưng chú chim đâu biết rằng dáng vẻ kiêu sa
cũng có lúc rơi vào lồng chật hẹp
chỉ có thể giận dữ nhìn đời
qua những chiếc song tre thếp son
cánh của nó bị cắt bớt và
chân của nó không còn bay nhảy
nó chỉ còn biết mở cổ họng của mình ra
để hót

chú chim trong lồng vẫn hót
với nỗi khiếp sợ đang rền rỉ trong cổ họng
về những điều chưa biết
nhưng vẫn mong tất cả lặng im
để lời ca của nó được nghe
trên ngọn đồi xa xôi có một chú chim bị cầm tù
trên ngọn đồi xa xôi
có một chú chim
bị cầm tù
đang hát bài ca tự do
vang lên khắp khắp

chú chim tự do tha hồ nghĩ về mây gió
cơn gió mềm mại thổi qua ngọn cây
thành những lời thở dài dịu dàng
rì rào rì rào
và đợi chờ những con sâu múp míp
khi ánh bình minh hé sáng
gọi tên bầu trời: ơ ơi…
như trời xanh kia chỉ riêng
của nó

nhưng con chim trong lồng đứng chết trên ngôi mộ của ước mơ
hình bóng của nó vẫn kêu thất thanh
như ban ngày ta gặp cơn ác mộng
cánh của nó vẫn bị cắt bớt và chân của nó vẫn nhảy loi choi
những bước chân tù túng
do đó nó phải mở to cổ họng của mình
để hót

chú chim trong lồng vẫn hót
những lời ca rền rỉ, run sợ
về những điều chưa biết
nhưng vẫn mong tất cả lặng im
để giai điệu của nó được nghe
giai điệu của nó
được nghe
nghe
nghe
trên ngọn đồi xa xôi
có chú chim trong lồng
vẫn ca hát về tự do

Lê Vĩnh Tài dịch
.

CAGED BIRD
.

A free bird leaps
on the back of the wind
and floats downstream
till the current ends
and dips his wing
in the orange sun rays
and dares to claim the sky.

But a bird that stalks
down his narrow cage
can seldom see through
his bars of rage
his wings are clipped and
his feet are tied
so he opens his throat to sing.

The caged bird sings
with a fearful trill
of things unknown
but longed for still
and his tune is heard
on the distant hills
for the caged bird
sings of freedom.

The free bird thinks of another breeze
and the trade winds soft through singing trees
and the fat worms waiting on a dawn-bright lawn
and he names the sky his own.

But a caged bird stands on the grave of dreams
his shadow shouts on a nightmare scream
his wings are clipped and his feet are tied
so he opens his throat to sing.

The caged bird sings
with a fearful trill
of things unknown
but longed for still
and his tune is heard
on the distant hill
for the caged bird
sings of freedom
.

.

Maya Angelou

Mênh mông chiều vàng


Nằm về phía gần cuối con đường Nguyễn Công Trứ, quán cà phê có cái tên nghe thật êm đềm, hiền dịu “Yên Nhung”. Chủ quán quả là người có óc mỹ thuật. Dựa vào cấu thể địa hình, quán được bài trí thật đặc biệt. Khuôn viên chính của quán như rơi vào giữa thung lũng xanh. Ngăn giữa đôi bờ là một con suối nhỏ, dòng chảy thoai thỏai, đôi khúc uốn khéo, đủ để tại nên một âm thanh róc rách, rủ rỉ như một bản nhạc không lời. Con suối chia đôi hai sườn đồi. Tạm gọi Nam đồi và Bắc đồi. Phía Nam đồi, thẳng xếp từng hàng cây cà phê ngắt xanh, từ trên cao nhìn xuống, người ta sẽ dễ dàng liên tưởng đến một đòan quân đang rùng rùng ra trận. Vào mùa hoa trổ, thì dù ai khó tính đến đâu, cũng phải nghiêng mình đánh rơi mảnh hồn giữa rừng hoa phô săc khoe hương, chao đùa với gió. Nhất là vào lúc những tia nắng đầu tiên trong ngày xuất hiện. Cả vườn hoa không khác gì những nàng tiên nữ đang nhởn nhơ xiêm áo vẫy lượn. Mùa quả chín thì khác, thư khách có thể an nhàn ngồi nhâm nhi từng giọt cà phê đậm đà đặc quánh nơi Bắc đồi, mà thỏa thuê tầm mắt chiêm ngưỡng bức tranh tuyệt bích của thiên nhiên. Bức tranh sống động ấy được phối màu một cách rất tài tình. Nhữg chùm quả đỏ rực ôm tròn những cành nhánh, chập chờn giữa màu xanh của lá. Lấm chấm trong mảng đỏ xanh ấy là sắc trắng điểm của một vài nụ hoa dậy thì. Cả ba gam màu đều có sức mạnh tuyệt đối, nhưng khi được đan phối vào nhau thì chúng trở nên thật hài hòa, viên mỹ. Thiên nhiên quả là một họa sĩ đặc biệt tài hoa, tài hoa đến độ bất kỳ một bậc danh họa nào cũng phải buông lời cảm thán.

Phía Bắc đồi, đây mới là công trình đáng kể của người kiến tạo. Những dãy bàn được kê xếp theo lối bậc thang. Những mô hình “tổ ấm chim câu” được nhã ý ưu tiên vào những góc khuất lặng, đủ bảo đảm một thế gới riêng cho hai người. Xa xa hơn chút nữa là những chiếc bàn đôi, thanh thản dưới bóng dù hoặc mái lá che tầm tầm vừa không khuất người. Những chiếc bàn này chủ yếu đươc đặt ở những tầng dưới cùng, nơi đối diện với tòan cảnh đồi Nam. Khu vực này hầu như dành riêng cho những vị khách ưa xuất hồn đi mây về gió. Đa phần họ chỉ ngồi đấy ưu tư một mình, nếu có hai người thì cũng phải có chung một cảm sắc, âm thanh chất giọng gần như ít có cơ hội được góp mặt nơi đây. Nếu đi với một nhóm bạn đông hơn, thì sẽ có một số vị trí có mặt bàn hơi tròn, rộng, bằng đá nhẵn hay một gốc cây to cắt ngang, chung quanh là những chiếc ghê mây thon nhẹ. Lọai bàn chung này được kê đặt ở hai tầng trên cùng, vừa có thể thả tầm mắt quá cảnh tòan phần, vừa tự nhiên trò chuyện mà không phải giật mình, e dè vì những tiếng nói cười vô tư của mình làm khuấy động không gian riêng của ai đó. Xen giữa các lối đi là đư các lọai hoa, cây cảnh, rất phong phú về cả màu sắc, kiểu dáng lẫn tầm độ.

Tôi thường đến quán vào lúc nắng chiều đã nhàn nhạt. Chỉ cần dựng xe xong , giơ tay chào cô chủ quán rồi đi về phía chỗ ngồi quen thuộc, là khỏang hai phút sau sẽ có một phin cà phê đang chậm rãi nhỏ từng giọt đen sậm, thơm nồng. Gu cà phê của tôi thường được cô chủ quán chú ý hơn những người khác. Đó là lượng cà phê bọt phải nhiều hơn mức bình thường, sau khi chảy hết xuống ly, thì ly cà phê ấy lại ngâm vào nước sôi, vì thế, kèm theo phần cà phê của tôi là một chiếc bình thủy nhỏ. Không biết tôi có thuộc lọai quá cầu kỳ hay không ? Nhưng quả thật là vô cùng vô vị khi hớp phải một ngụm cà phê vừa lõang vừa nguội. Nếu cầm ly cà phê của tôi mà lắc khẽ, thì phải ít giây sau, lớp cà phê bám trên thành ly mới xuôi dần xuống hết được. Mỗi lần được nhấp một ngụm cà phê sóng sánh, đầm đậm vừa độ nóng, tôi thấy trong người thật khoan khóai dễ chịu. Vô cùng cảm ơn thổ nhưỡng của quê hương, đã đưa hạt cà phê thành cây công nghiệp mũi nhọn của tỉnh nhà, và hương vị thì bay xa tận ngòai biên giới.

Nơi tôi thường ngồi là dãy bàn đối diện với đồi Nam. Rất hài lòng với vị trí mình đã chọn, ngồi đây tôi tha hồ được tận hưởng những ưu đãi mà thiên nhiên ban tặng, tha hồ mặc mảnh hồn phiêu diêu đến tận cõi xa xanh nào. Nhất là vào cái khỏang không gian bảng lảng, tạn mạn của trời chiều, trong sự tĩnh lặng gần như tuyệt đối ở chung quanh. Bởi vào cái giờ nhỡ nhàng này, chẳng mấy ai lại đi ném quỹ thời gian của mình vào chốn ưu trầm, tư tịnh như nơi đây. Họa chăng chỉ những kẻ trót mang một nghiệp chướng như tôi thì mới cảm thấy nơi đây, vào lúc trời chiều này là cả một thiên đường, Không gia như say, cảnh vật như say, ông mặt trời cũng như say, thì lẽ nào một kẻ luôn yêu thích, luôn chắt chiu những nét đẹp của đời sống cho lâng lâng một cõi tâm hồn lại không say. Thường thì tôi ra đây dể tìm cho mình một cõi riêng, dù tạm bợ, nhưng cũng đủ cho tôi hóa giải những ưu tư, băn khoăn hoặc rối rắm trong lòng. Thật quá rẻ khi chỉ bằng giá một ly cà phê mà lai mua được nhiều đến thế.

Mọi lần tôi vẫn thao túng sự tự do của mình cho đến khi chiều sẫm, khi bóng hòang hôn đã dang rộng vòng tay ôm chòang vạn vật. Nhưng hôm nay, khoang trời tự do của tôi bị phá vỡ, hay nói đúng hơn là cõi riêng của tôi có sự đột nhập của một kẻ lạ mặt. Óai oăm ở chỗ tôi không thể trưng ra cái quyền sở hữu đặc biệt này, lạ nữa là hình như tôi cũng không có tí ti ý định trục xuất hắn thì phải. Hắn ngồi hơi chênh chếch hướng tôi, nên tôi chỉ có thể nhìn hắn theo chiều nghiêng nghiêng. Tôi tò mò quan sát hắn, chỉ riêng một chi tiết ngồi nắm cảnh với một cặp mảnh chai màu rêu đậm sù sù rên mắt đã đặt cho tôi một dấu hỏi to tướng rồi. Ai lại phí hòai một cảnh quan thiên nhiên tuyệt mỹ thế mà lại nhìn qua một lăng kính tối sầm sầm. Vì sao thì chắc tôi có thể tìm được lời giải đáp sau.

Hắn có một mái tóc dài, tuy khỏang cách hơi xa, nhưng tôi vẫn
có cảm giác là êm và mượt lắm, hẳn là hắn rất siêng xem chương trình truyền hình quảng cáo dầu gội đầu lắm. Khuôn mặt hắn, dù chưa có điều kiện ngắm chính diện, tôi vẫn có thể cam đoan rằng khá xinh. Nếu nhễm bệnh nghề nghiệp một tí, chắc tôi sẽ tả mũi hắn cao, mắt hắn trong, và đôi môi thì chắc chắn phải hồng, vì thay vào cái màu hơi thâm thâm khói thuốc như tôi, sẽ là môt chút son phơn phớt, nếu là lọai son gió nữa thì khỏi nói, chỉ cần thoa nhẹ, khi gặp gió sẽ dậy lên một màu hồng tươi diệu đàng. Người hắn hơi mảnh, vì chiếc ghế hắn ngồi vẫn còn thừa một khỏang ( chắc đủ chỗ cho tôi dấy nhỉ). Mảnh hồn hoang của tôi hôm nay lại ngoan ngoãn chịu ở nhà, và nó đang bận rộn giải trình hiện tuợng. Lý do gì mà hắn có mặt ở đây vào giờ này nhỉ ? Bởi là giờ cao điểm của “thiên chức” mà. Hay hắn có mẹ để nhõng nhẽo, có chị để cậy nhờ ? Không lẽ hắn có cùng một lý do như tôi ? Ờ mà sao tôi bỗng nhiên vô lý thế ? Có thế nào thì cũng là việc của hắn, liên quan gì đến tôi. Chẳng qua cái tính tò mò và hay lan man tâm tưởng làm vấn víu cái thằng tôi ấy mà. Nghĩ thế, nhưng tôi lại chẳng thể bứt khỏi sự suy tư về nhận vật lạ ấy. Bẻ gãy bao giả thiết, tôi vẫn không thể nào chọn được một sự lý giải mà có thể cho rằng hợp lý nhất, về thủ phạm phá vỡ cõi riêng và gieo cho tôi những vẩn vơ khó hiểu. Chỉ có mỗi một cách là nhấp nhấp đôi chân, băng qua những dãy ghế, đến gần với một lời hỏi han thật lịch sự. Nhưng cái ý định đó cứ chùng chình trong tôi, đường đột mà đi hỏi han một người chưa quen biết với những câu không đầu không cuối thì quá là vô duyên, vô lý. Vả lại người ấy dường như cũng đang có gĩ ngẫm ngợi lắm thì phải. Suốt bao lâu mà tôi chả thấy lắc lư tẹo nào, cũng chả thèm nhích cái tia nhìn sau cặp “Rạng đông” kia sang hàng xóm tí cho tôi có cớ gật đầu chào làm quen. Mà thôi, đừng nghĩ ngợi vớ vẩn nữa, nếu người ta đã muốn tĩnh lặng một mình, thì sự quấy rầy, cho dù là rất lịch sự đi nữa, vẫn là điều không nên một chút nào. Với mình cũng vậy thôi. Nên những gì mình đã không muốn thì đừng nên đem đến cho người khác, đó là nét văn hóa ứng xử tối thiểu nhất đấy. Tự nhắc nhở mình thế rồi tôi bỗng bật cười, người kia mà biết những gì lủng củng trong tôi nãy giờ chắc buồn cười lắm đấy.

Nắng chỉ còn sót lại vài tia lấp lóe, ông mặt trời đã ngà ngà, những cụm mây đã buông màn rủ trướng cho ông. Mọi lần thì giờ cũng là lúc tôi gửi lại bóng chiều cái chỗ ngồi của mình, nhưng hôm nay thì nán nán một tí nữa, ma ra chút cùng đường ra quầy thanh tóan sẽ tiện làm quen. Bỗng có một cô gái hiện ra trên lối đi, từng bậc bước xuống đến cạnh người ấy ghé tai nói nhỏ điều gì. Tôi như cảm thấy rất rõ sự miễn cưỡng của người ấy khi đứng dậy và đưa tay cho cô gái mới đến nắm. Tôi kinh ngạc đến sững sờ. Chúa ơi ! Hắn – người kia – cô gái ấy là một người khiếm thị. Hai cô gái chầm chậm bước lên từng bậc, từng bậc, bước chân tôi cũng tự nhiên mà đưa theo. Cơn chóang qua nhanh, không hiểu tại sao, ma xui hay quỷ khiến mà chiếc xe tôi cũng bon bon sau xe hai cô gái một đọan, rồi tần ngần trước cánh cổng có một màu tím lênh loang của một giàn hoa.

Đêm đến, tôi không thể nào dỗ mình vào giấc ngủ. Hình ảnh cô gái khỉếm thị ban chiều cứ ám ảnh, bao câu hỏi cứ chập chờn truy vấn tôi. Có vẻ sự khiếm thị của cô ấy không phải là từ bé, có vẻ như cô ấy đã từng biết khuôn vên cảnh vật của quán cà phê ấy, có vẻ cô ấy có một cảm niệm hay ấn tượng gì khá gắn bó với cảnh trí ấy. Bởi nếu chưa từng, thì không thể nào cô ấy lại đến đấy với một dáng vẻ đầy tâm trạng như vậy. Không chỉ do điều mà thường gọi là “bệnh nghề nghiệp”, mà từ bé, tôi luôn bồi hồi cảm trạng trước những hình ảnh không may của cuộc đời. Tôi trắc ẩn thương tâm cả trước cái chết của những con vật, mẹ tôi thường thở dài bảo “Mày rồi đa đoan lắm thôi con ạ, đàn ông con trai mà yếu đuối tình cảm quá”. Tính tình cũng như những điều bắt đầu cho một đời sống con người đều không phải là sự tự lựa chọn, phải sao thì hay vậy. Cho dẫu khi lớn lên, tôi cũng không đến nỗi ủy mị gì, nhưng so với các bạn trai, tôi sống thiên về sự trầm lắng nội tâm hơn. Để rồi thầm lặng đi vào một lọai hình công việc mà với những người giỏi tính tóan luôn cho rằng viển vông, hoang tưởng, bềnh bồng mây gió. Một thứ công việc không làm cho cái túi của tôi đầy đặn lên, nhưng luôn đem đến cho đời sống tinh thần của tôi những cảm xúc rất đẹp, những điều mà tôi biết, nếu có tiền cũng chưa chắc gì mua được, và tôi rất trân trọng nó. Còn suy nghĩ của mọi người tôi không quan tâm, vì họ không phải là tôi, làm sao họ hiểu được tâm tư, cảm thức của tôi là gì. Khi đã là môt sự lựa chọn, lại là sự lựa chọn có phần mặc nhận của số phận, thì mặc nhận cả những buồn vui, hay dở, được mất của nó.

Tôi vốn không tin vào những khả năng ngòai thực tế, nhưng tôi có một linh giác rất nhạy, trực cảm thường báo trước cho tôi những can hệ, không phải lúc nào cũng đúng, nhưng có thể nói là đa phần dự cảm báo đúng. Nên trong trường hợp này, tôi mơ hồ thấy có một cái gì đó không thể bỏ qua. Hay do sự mẫn cảm thái quá mà tôi cảm thấy vậy chăng ? Không, không hẳn thế. Chỉ với một góc nhìn dơn giản, một suy luận thông thường, cũng có thể hiểu được phần nào những trúc trắc của một số phận, và vấn đề không chỉ từ những gì đã diễn ra, mà còn cả những gì đang tiếp diễn . Bởi bàn chân con người luôn quay những ngón về phía trước, và đôi mắt thì chẳng bao giờ mọc ở sau lưng.

Những ngày sau, tôi vẫn lại qua trước cửa ngôi nhà ấy mà không tìm được cách gõ cửa. Lấy lý do gì chứ ? Và hỏi ai ? Ngay cả một cái tên cũng đang còn mờ mịt. Hỏi vu vơ ngớ ngẩn khéo người ta tưởng mới ở bệnh viện tâm thần mới sổng ra thì khốn. Mà cũng không thấy nhân vật ấy bước ra khỏi nhà để có cớ vờ làm người tốt bụng. Không lẽ chịu bó tay. Cũng đã có lúc tôi đánh rơi ý định, bởi cảm giác mình đang đi vào một chốn lênh đênh lãg đãng, không có ý nghĩa rõ rệt, không có mục đích rõ rệt, còn nữa, liệu khi có thể tiếp cận rồi, thì thái độ đối diện với vấn đề của nhân vật ấy sẽ thế nào ? Trong một phạm vi đơn thuần nhất, người ta vốn muốn tự điều chuyển lấy những vấn đề của cá nhân, không muốn có sự can thiệp, chi phối và tác động một cách trực tiếp và cụ thể từ những người chung quanh. Một tâm lý cá nhân nhất trong bản thể con người, chỉ ngọai trừ những khả năng ngòai tầm chủ động, thì người ta mới buộc phải chấp nhận một giải pháp ngọai vi. Lại càng khó khăn hơn khi với một người hòan tòan xa lạ, lại càng phải dè chừng với bao ý đồ bất hảo, nhất là với một tình trạng thiếu khả năng tự vệ. Nhưng vẫn cứ canh cánh trong tôi một hình ảnh mà tôi biết, tôi sẽ không thể tự giải thóat khỏi nó nếu không bắt tay vào một cái gì. Và rồi, trong cái khó tất ló cái khôn. Tôi vui mừng tự thưởng cho mình một ấm trà ngâu thơm phức. Từ đó, mỗi chiều chiều đến quán Yên Nhung cũng có một vật biết lên tiếng theo tôi. Cô chủ quán ngạc nhiên :

_ Anh định làm chàng nhạc sĩ lang thang đấy à ?
_ Thế cô có nhu cầu tận dụng không ?

Nụ cười thay cho câu trả lời. Vẫn chỗ ngồi quen thuộc với những chiều trông đợi, tôi có một niềm tin gần như chắc chắn sẽ gặp lại cô gái ấy. Sự kiên nhẫn luôn là một yếu tố cần thiết trong nhìều cảnh trạng, nhất là với sự chờ đợi. Thế rồi niềm tin và lòng kiên nhẫn đã giúp tôi đạt được kết quả. Một chiều, tôi khẽ reo thầm khi nhìn thấy hai cố gái trên những bậc thang dìu nhau xuống, có vẻ họ là hai chị em. Khi đưa cô gái khiếm thị vào chỗ ngồi rồi, cô em ghé tai nói nhỏ câu gì với chị với chị rồi trở lên. Sau khi phục vụ đem thức uống đến, cô gái lại buông mình vào sự trầm mặc. Bấy giờ tôi mới từ từ nhả tơ. Tôi cố tình chọn những bản nhạc buồn, cổ điển, có giai điệu nhẹ và sâu lắng, những bản nhạc có âm giai rất hợp với giutar. Tiếng đàn tôi vẫn thường được bạn bè khen là rất có hồn, thì giờ là lúc tôi thử nghiệm chính cái hồn của nó. Ban đầu hầu như cô gái không buồn chú ý đến, tuy có hơi một chút động tĩnh. Có lẽ cô cho răng một gã lãng tử dở hơi nào đem chút tài lẻ của mình ra khoe chăng ? Nhưng cổ nhân đã đúc kết rồi “nước rên siên siết thì đá tảng cũng phải mòn” huống nữa là màng nhĩ mỏng manh của một con người. Mà cũng đố ai thờ ơ được, khi trong chiều thanh tịnh, gió hiu hiu man mát, hương thơm dìu dịu từ các lòai hoa tỏa nhẹ, tiếng róc rách khe khẽ từ con suối xa vọng lại, hòa âm cùng trầm bổng điệu đàng , thì tâm hồn không lao xao hòai mặc hoặc có là gỗ đá vô tri mà thôi. Phán đóan sự chuyển bíến qua một vài biểu hiện cho dù khá kín đáo của đối phương, tôi biết tôi dang đi đúng hướng.

Thế rồi, ngày một ngày hai, không một lời hò hẹn, không một câu nhắc nhủ, nhưng gần như cô gái không vắng mặt chiều nào, điều này rõ ràng đã gây sự thắc mắc cho cô gái dẫn đường, và cô này ném cái nhìn hòai nghi, có phần nào như cảnh báo về phía tôi, khi nhận thấy khỏang cách của hai chỗ ngồi ngày càng cố tình ngắn hơn. Tiếng đàn của tôi ngày càng phát huy tốt tác dụng, nó đang nghiễm nhiên được một sự chấp nhận thầm lặng, và hẳn nó cũng đang đặt ra một số câu hỏi trong sự châp nhận ấy. Và rồi, cái gì đã trở thành một thói quen, thì khi vắng đi, người ta sẽ cảm thấy trống vắng và mong đợi.

Để chiều nay, cây đàn vẫn đó nhưng thanh âm của nó thì nhường chỗ cho sự sắp đặt có chủ ý của tôi. Khỏang cách giữa tôi và cô gái bây giờ chỉ là một cái bàn, nhưng dẫu sao nó cũng còn là một phân ranh đáng kể khi chưa được quyền vượt ngưỡng. Sau một lúc như chờ đợi, sự thông minh và nhạy cảm giúp cho cô gái đóan hiểu tình thế. Tôi chắc chắn điều đó qua khóe miệng khẽ cử dộng. Tôi vẫn cố tình nhường quyền chủ động cho đối phương. Khách đã gõ cửa, nhưng có mở hay không là tùy chủ nhân chứ. Và rồi…

_ Nếu đã cố tình, sao còn ngần ngại ?

Chủ nhà đã mở cửa rồi, còn đợi chờ gì nữa ?

_ Rất cảm ơn vì đã nhã ý tạo cơ hội cho tôi được làm quen. Nếu không có gì bất tiện, có thể cho tôi ngồi cùng bàn dược chứ ?

Một cái gật nhẹ. Cây giutar bây giờ chễm chệ một mình một bàn. Câu chuyên rất mau chóng lướt qua cái cầu xã giao, mau chóng trở nên thật tự nhiên và cởi mở, có lẽ vì chúng tôi đã “nói” với nhau nhiều rồi. Thì ra, cũng như tôi, cô gái cũng cảm giác một điều gì đó như thân quen, nhưng không phải từ cái nhìn đầu tiên, mà là từ tiếng đàn đầu tiên. Con đường ngắn nhất để con người có thể đến với nhau là chạm được vào một sở thích của miền tâm cảm. May mắn cho tôi đã tìm được đúng đường. Nỗi niềm chất chứa dã bao ngày, nay mới có dịp được thổ lộ trong một tâm trạng đầy xúc cảm.

Cô tên là Diệu Anh, lẽ ra đã có thể là một họa sĩ tài năng trong tương lai nếu con đường từ nhà đến cổng trường Văn hóa Nghệ thuật không bị cắt ngang bởi một tai nạn giao thông. Mọi thứ đổ sụp trong cô khi biết mình đã qua cơn nguy hiểm tính mạng nhưng lại mất hòan tòan khả năng thị giác. Thế giới đầy màu sắc tươi tắn quanh cô đã vĩnh viễn khép kín. Dù gia đình cô đã cố gắng hết sức những sự phát triển của y học vẫn không giúp gì được trong trường hợp này. Đã nhiều lúc trong cơn tuyệt vọng, Diệu Anh nghĩ mình thà chết đi còn hơn, nhưng những gnười thân quanh cô đâu dễ dàng để cho cô thực hiện ý định. Tâm trạng cô bức bối, hỏang lọan tưởng chừng như đến phát điên lên, khi bản thân bất lực đến không thể tự quyết cho mình môt việc gì dù nhỏ nhất. Không ít lần cô mất kiềm chế và đập phá tất cả những gì mà cô vớ được. Mọi sự an ủi, động viên đều không tác dụng. Cho đến một lần, mẹ cô đâu đớn gào lên “Con ơi ! Giá mà mẹ mù thay con được thù mẹ cũng sẵn lòng. Trời ơi ! Mẹ biết phải làm gì cho con đây ? Nhìn con thế này, mẹ đứt từng khúc ruột, con ơi !”. Câu gào khóc của mẹ đã dánh thức cô. Cô đau xót nhận ra cô đang làm khổ tất cả mọi người, trong khi bản thân lại không giúp gì được cho ai. Một thực tế phũ phàng và khắc nghiệt, nhưng không còn cách nào khác là cô buộc phải chấp nhận nó. Khi nhận thức được điều này, cô thu mình vào lặng lẽ. Để tự hóa lấy mình, để người thân bới phần lo lắng, và cũng để tìm ra cho mình một hướng tới, cô nhờ em gái thi thỏang dẫn mình đến quán cà phê này. Đây là nơi khi xưa cô rất yêu thích, và cũng là nơi cô dự định làm tác phẩm tốt nghiệp của mình.

Sau một chuỗi dài tự sự, Diệu Anh dừng lời, nơi khóe mắt run run hai giọt nước, tôi cũng lặng đi. Giây lát, Diệu Anh buồn bã nói thêm :

_ Chắc anh cũng thấy nơi đây thật tuyệt phải không ? Ngày trước, ước mong lớn nhất của tôi là đưa được cảnh sắc nơi đây vào tranh của mình. Thế mà…

Tôi vẫn không thể nói gì. Trong cuộc đời nhiều long đong trúc trắc này, con người ta không thể nào biết trước đuợc những biến cố ập đến cho mình vào lúc nào, và hòan tòan mất khả năng kháng cự khi nó ập đến. Để tiếp nhận và vượt qua được nó thật không dễ dàng một chút nào. Đôi mắt lại gần như đóng vai trò chủ động trong đời sống. “Thứ nhất đau mắt, thừ nhì nhức răng”. Chỉ mới là đau thôi, mà người ta đã liệt nó vào hàng thứ nhất của sự khó chịu, huống là mất hẳn, có khác nào một tấm màn đen phủ kín cả cuộc đời. Đôi mắt của Diệu Anh lại là một đôi mắt của người họa sĩ. Một đôi mắt biết cảm thụ vẻ đệp của những màu sắc, biết ghi nhận những lung linh huyền ảo của cuộc sống, hẳn đôi mắt ấy xưa kia cũng đã rất sáng trong, nồng nàn khi gửi trao những yêu thương cuộc đời. Vậy mà…Với một cô gái coa vóc người mảnh khảnh, có cuộc sống nội tâm phong phú, có một trái tim luôn thiết tha những cúc cảm, thì làm sao tránh khỏi sự đột quỵ trước một cú sốc quá lớn như thế. Nói gì với cô đây ? Những lời mang tính lên dây cót chỉ đem lại những phản cảm. Lại còn như khóet sâu vào vết thương khi người nghe có cảm giác là đang bị thương hại. Trong cô lúc này không còn sự tự tin, hy vọng, niềm tin yêu vào cuộc sống, mà chỉ có một áp lực tư tưởng rất lớn “Mình đang là gánh nặng cho mọi người”. Để cấy lại cho cô niềm vui sống, yêu đời, là một điều hết sứa khó khăn. Lấy gì làm chiếc gậy cho cô chống qua cơn bão lớn của cuộc đời ? Liệu tôi có làm được gì ? Hay rồi chỉ biết buông vài ba câu trắc ẩn ?

“Gặp gỡ là duyên, vương mang là nợ” Vốn dĩ con người ta gặp nhau trên cõi đời này thì phải có đủ cả nợ lẫn duyên. Một thời khác của định mệnh đã dẫn dắt phần số của những con người lồng vào nhau, để có thể đem đến cho nhau những buồn vui, khóc cười, những điều đã làm nên bản chất của cuộc đời này. Để tuơng hòa được với nhau trong bao lâu thì tùy thuộc vào độ dài ngắn của những nợ duyên ấy.

Nếu tự coi mình là một cái phao thì thật là một điều càn rỡ. Nhưng tự đáy lòng mình, chẳng biết có gì thôi thúc, mà tôi tự hứa sẽ cố làm được cho “Em” một điều gì đó. Bởi nếu tôi quay gót, vội vàng thối lui trước một chiếc thuyền con đang chòng chành con nước số phận, thì khác nào một con sóng có thể nhấn chìm, có thể dập tắt một chút lửa còn le lói trong một cõi lòng, ít ra tôi cũng xin được làm một thanh củi mục. Cho dù ngay lúc này tôi chưa thể nghĩ ra được phương cách nào khả dĩ, nhưng có lẽ rồi sẽ phải có, tôi tin chắc chắn là thế. Bởi đa số những phúc phận đời người không phải là vô nguyên bất lý. Nó đã từng có mấu chốt để khởi thủy, thì rồi nó sẽ phải có một đường diễn tiến, để tất yếu đi đến một kết cuộc nào đó, hay dở, nên hư , phần nhiều tùy thuộc vào khả năng nhận định và điều vận của mỗi người. Rốt cục, cây guitar một lần nữa trở thành điểm bấu của tôi, biến tôi thành một nhạc sư bất đắc dĩ cho em. Thường thì những ai có chút hồn nghệ sĩ đều khó bỏ ngòai tai cái âm giai trầm bổng, thanh thóat, trữ tình của tiếng đàn giuar. Em cũng không ngọai lệ, mà với người khiếm thị thì sự tinh nhạy gần như dồn hết cả vào đôi tai và đôi tay. Cũng may là trước khi bị tai nạn, Diệu Anh đã từng thử qua nhạc cụ này, nên một phần cơ bản em đã nắm được. Trí nhớ rất tốt của em đã có dịp phát huy tối đa. Chỉ khác lọai hình thuật nhưng nìềm đam mê thì như nhau. Diệu Anh dần bị cuốn hút vào thế giới âm thanh cũng say mê không khác gì thế giới màu sắc của em trước kia. Nỗi vui mừng của tôi trào lên khi một hôm em cất tiếng hát hòa cùng cung đàn. Giờ thì không những tôi, mà cả em cũng quyết tâm tìm lại mình trong lĩnh vực mới. Khi vốn liếng âm nhạc hạn hẹp của tôi hết nhẵn, tôi đưa em đến một vị nhạc sư nổi tiếng về môn giutar. Vị nhạc sư này cũng hết sức chăm sóc trường hợp đặc biệt của em. Thời gian là con dấu đỏ đóng lên sự quyết định của mọi vấn đê. Lĩnh hội được tất cả những kỹ năng cần thiết của nhạc thuật, cộng thêm nét sáng tạo và sự nhạy cảm của riêng mình, tiếng đàn của em ngày càng điêu luyện. Khỏi nói, những người thân của em vui thế nào khi thấy em dần trở lại là một Diệu Anh tươi tắn, yêu đời trước kia.

Cả hội trường đông nghẹt, lặng phắc theo tiếng dàn đầy ma thuật của Diệu Anh. Từng cung bậc biến tấu lúc cao trào, lúc trầm, lúc lặng theo những ngón tay nhịp nhàng thoăn thoắt của Diệu Anh lướt trên cần đàn. Đến lúc này tâm trạng tôi mới tạm bình ổn. Trước buổi biểu diễn, Diệu Anh hồi hộp một thì tôi lo lắng mười. Bao nhiêu kỳ công có nên cơm cháo gì không là trông cả vào lúc này. Bởi chốt d
điểm cuối cùng để đưa em trở lại với tin yêu, hòa nhập cùng cuộc sống, vững tin vào tương lai của mình, gần như tùy thuộc hòan tòan vào những tràng vỗ tay của quý vị khán giả này đây. Chỉ cần một sơ suất khiến em lỗi mất một nhịp nào đó, em mất bình tĩnh và tự tin thì tình thế không còn gì cứu vãn được nữa. Nhưng kìa, tràng vỗ tay đã nổi lên rồi, thật to và thật lâu. Và hoa, hoa nhiều đến nỗi em ôm không xuể. Phải đợi một lúc cho vòng người giãn bớt tôi mới đến được bên em. Vừa nghe tíếng tôi “Chúc mừng em”. Diệu Anh vụt òa khóc, úp mặt vào ngực tôi thổn thức “Anh ơi ! Em sống rồi” Tôi ôm chặt lấy em, chẳng rõ nước mắt em hay nước mắt tôi mà nhòe nhọet hết cả. Mẹ em đứng lặng sau cánh gà, nước mắt bà cũng ướt đầm hai má. Người mẹ nghẹn ngào chứng kiến phút hồi sinh của con gái mình. Tôi dìu em dến thả vào lòng người, một khỏanh khắc thinh lặng, thiêng liêng và rất đỗi ngọt ngào …

Đàm Lan

Cơ hội là do chính bạn tạo ra

Chào các bạn,

Nhân dịp Đọt chuối non mở chuyên mục mới là Du học, mình giới thiệu với các bạn bài chia sẻ của mình về kinh nghiệm xin học bổng du học Mỹ trên USguide forum năm 2009. Lúc đó mình đang là sinh viên của chương trình Master of Science in Social and Applied Economics, Wright State University. Chương trình học kéo dài trong 11 tháng để lấy đủ tín chỉ (coursework) và thêm 3 tháng để hoàn thành luận văn. Mình đã tốt nghiệp tháng 12 năm 2009.

Hi vọng là bài viết sẽ có ích cho những bạn nào có mong muốn đi du học và khám phá thế giới như mình 🙂

Chúc các bạn một ngày tươi hồng,

Hoàng Khánh Hòa

.

Hiện tại mình đang học ngành Kinh tế học tại ĐH Wright State (www.wright.edu), một trường thuộc hệ thống công lập của bang Ohio. Cơ hội học bổng đến với mình hơi bất ngờ, nhưng theo mình chút may mắn đó là kết quả của một quá trình Dreaming, Planning, Taking Actions và Waiting for Opportunities mà mình muốn chia sẻ với các bạn dưới đây.

Bản thân mình từ khi học cấp 3 đã có những suy nghĩ nhen nhóm về việc du học, nhất là học Toefl. Tất cả những khái niệm đó tất nhiên ban đầu rất mơ hồ, nhưng đó là những hình ảnh cứ luẩn quẩn và rất rõ trong đầu mình. Khi lên ĐH (mình học Ngoại thương khóa 41) mình bắt đầu thực hiện ao ước học tốt tiếng Anh bằng khóa Toefl đầu tiên. Lúc đó chỉ học thôi còn chưa có ý định thi, mà quả là cũng chưa vào đầu được nhiều lắm, có chăng là hiểu được cách làm bài, cách thi. Trong thời gian học ĐH mình luôn dành nhiều thời gian học tiếng Anh, một phần vì thích và một phần nữa thấy nó cũng rất cần thiết cho công việc sau này. Và thêm nữa, mình bắt đầu tìm hiểu các cơ hội xin học bổng. Tất nhiên mình phải xin được học bổng, vì gia đình không thể chu cấp tài chính cho mình đi học nước ngoài dù có xin được 50% chi phí đi nữa.

Mình nhớ có lần ghé qua IDP (Cơ quan giáo dục Australia), họ tuyên bố thẳng là nếu bạn không có điểm GPA trên 8.0 thì khó mà xin được học bổng 100%. Ngược lại, khi mình đến một trung tâm tư vấn du học Mỹ, họ khẳng định với mình là chỉ cần Toefl trên 600 và GRE trên 1200 là mình hoàn toàn có khả năng xin được học bổng, dù chỉ là bằng Khá Đại học. Vậy là mình biết mình đã tìm thấy một con đường phía trước để phấn đấu, rất rõ ràng (ngành Economics của mình học bổng không nhiều, và mình đã từng nghĩ đến việc nhờ Dịch vụ tư vấn du học làm giúp hồ sơ, nhưng mình khuyên là các bạn nên tự tin apply,và kiên nhẫn chờ đợi cơ hội).

Tập trung cao độ, và chọn điểm rơi chính xác

Cái này nó hơi trừu tượng, có thể hiểu là bản thân mỗi người phải tự hiểu mình, biết điểm yếu, điểm mạnh, và “lên giây cót tinh thần” đúng lúc. Bạn hãy lắng nghe chính mình và tập trung để đạt mục tiêu. Mình nghĩ ai học cũng vất vả như nhau cả, đạt điểm cao hay thấp còn phụ thuộc một chút may mắn, nhưng điều quan trọng là bạn phải đặt cho mình một mục tiêu để hướng đến, và chỉ suy nghĩ làm sao để đạt được mục tiêu đó, để nó “ngấm” vào như là hơi thở của mình, thì chắc chắn bạn sẽ đạt được nhiều kết quả tốt đẹp.

Việc còn lại là lên kế hoạch thi Toefl. Mình dự định apply mùa Fall 2006, nên vào năm cuối Đại học mình đã tranh thủ tự ôn ở nhà 3 tháng và thi. Kết quả cũng không tệ lắm, 607 điểm (tháng 3/2006). Lúc đó mới học Toefl thôi mà đã thấy chông gai rồi, vì trong khi bạn bè xin đi làm thêm, tham gia nhiều hoạt động, mình là sinh viên tỉnh lẻ không có nhiều điều kiện, lại lo ôn thi nên hầu như không tham gia được việc gì ngoài ôn luyện ở nhà cả. Lúc đó mình đã nghĩ nếu mà không được trên 600 thì thôi luôn khỏi ao ước du học nữa cơ đấy :). Có lẽ số điểm mình đạt được là một cái mốc rất quan trọng, giúp mình tự tin vào khả năng và bước tiếp.

Cái mốc thứ hai là thi GRE. Mình đã tham gia học một lớp GRE ở trung tâm tiếng Anh từ năm 2005. Đến tháng 7/2006 mình học ôn cùng một nhóm có 10 người (sau rồi rơi rụng dần mất mấy vị). Bọn mình thi vào cuối tháng 10/2006. Điểm GRE của mình cũng được coi là tốt, 1300. Quả thực là hồi học GRE mình vừa làm luận văn tốt nghiệp, vừa ôn thấy cũng căng thẳng, thiếu chút xíu nữa là “hâm” thôi. Có những lúc down quá, lại gọi điện cho bạn bè than thở. Vấn đề là, người nào không ôn GRE thì không hiểu được những cái “điên điên” mà người học gặp phải, nên rất khó nói chuyện với bố mẹ, hay ngay cả bạn bè thân thiết. Cho nên mình nghĩ một trong những yếu tố thành công của tập thể ôn thi GRE đó là hỗ trợ phần lớn về mặt tinh thần, và có mọi người phải cùng có quyết tâm cao.

Lúc gần thi mình học rất “vào”, ngày nào cũng xào đi xào lại hàng trăm từ vựng, và nhớ chúng vanh vách. Nhưng đen đủi là 3 ngày gần thi thì tự dưng lăn quay ra ốm, thế là lỡ cả kế hoạch làm đề vào mấy ngày cuối. Bạn tưởng tượng là hôm đi thi, mình bị vẫn ốm và lại uống nước cam lạnh (cẩn thận quá để sẵn trong tủ lạnh từ tối hôm trước :D) thế là đang chờ điểm danh vào phòng thi mà phải chạy vào toilet nôn thốc nôn tháo :(. Ôi chỉ 1 chút nữa là đầu hàng đi về. May mà xong thì cũng tỉnh táo lại và cảm thấy vẫn đủ sức chiến đấu :D. Điều tuyệt vời nhất là ở nhà chưa bao giờ làm toán được tối đa, nhưng điểm phần Qualitative của mình được 800, mình cũng thấy khó tin :).

Cơ hội là do chính bạn tạo ra

Câu chuyện apply của mình thì có phần còn dài dòng hơn. Đó là quá trình đi chọn ngành chọn nghề. Mình thú thật, học Ngoại thương xong ra trường chẳng biết làm cái gì. Thấy ngành gì cũng thích, cũng có khả năng làm được. Vậy là hoang mang.

Lúc đó mình chỉ nghĩ thích học về Management, mà lại ôn GRE (cái hồi quyết định học GRE là vì nghe nói xin học bổng MBA khó), thế là mình mò mẫm ra cái ngành gọi là Master of Public Administration. Chỉ loanh quanh có thế thôi, và quyết định apply ngành này. Chẳng tìm thấy ai ở Việt Nam học ngành này để mà hỏi cả. Thế là cứ tự mày mò làm hồ sơ, viết Statement of Purpose (thư trình bày mục đích xin học), Letter of Recommendation (thư giới thiệu của thầy cô)…đủ cả. Năm đó ai cũng bảo mình khả quan vì điểm tốt, mà mình thấy cũng tự tin ghê. Thế rồi gửi 5 trường thì admission letters (thư chấp nhận học) cả 5, không có trường nào cho tiền học bổng cả.

Tháng 4/2007 là giai đoạn mình rơi vào tình trạng thất vọng, stressful kinh khủng. Giống như bạn đang bay ở độ cao 1000 mét rồi rơi cái bịch xuống đất. Bố mẹ, bạn bè….tất cả ai biết mình đã ước ao đi du học Mỹ thế nào đều buồn mà không dám hỏi. Mình không quan tâm lắm mọi người nghĩ gì, chỉ thấy áy náy là đã tiêu khá nhiều tiền của bố mẹ cho vụ apply (khoảng 1,000$), hai nữa là tự ti, không dám tin vào một cơ hội thứ 2. Thất bại đó sau này mình rút ra nhiều điều, mà có lẽ quan trọng nhất là Networking. Càng quen nhiều bạn bè, mình càng biết nhiều và càng có thêm nhiều thông tin quý giá về các nguồn học bổng cũng như kinh nghiệm apply.

Thời gian dài sau đó mình xin đi làm, và tiếp tục suy nghĩ xem mình nên chọn con đường nào để theo đuổi. Du học nữa hay không? Và học cái gì? Có lúc nản chí bảo thôi ở nhà “lấy chồng cho xong”, một câu rất quen thuộc cho các cô gái tuổi như mình :).

Nhưng cách mình đưa ra quyết định là bằng cách thử đặt vào tình thế đó, và tự hỏi “Liệu mình chấp nhận nó được bao lâu”. Mình hiểu đó không phải là con đường dài mà mình mong muốn. Tuy vậy mình có một chút lí do gia đình mà mình muốn tập trung trong năm 2007, thành ra quyết định sẽ “phục thù” vào mùa apply 2008. Tháng 4 vừa rồi khi đang lên kế hoạch học Toefl iBT để thi lại, mình có viết thư cho chị bạn học cùng lớp GRE cũ xem chị ý học ở Wright State thế nào. Và rất may là chị trả lời thư mình ngay sau đó, rồi giục mình nộp hồ sơ vào WSU vì vẫn còn hạn. Với tất cả kinh nghiệm và đống giấy tờ application còn lại của năm 2006 mình đã hoàn thành xong hồ sơ trong 2 tuần và đến trường đúng vào ngày hết hạn, 15 tháng 4.

Và giờ thì mình là Graduate Assistant của Department of Economics, WSU. Một trường đại học qui mô trung bình, một môi trường học tập tốt với các giáo sư rất quí mến sinh viên, và những người bạn Mỹ rất tốt. Tất cả hiện ra như đã từng gặp ở đâu đó, trong giấc mơ của mình chăng.

Mình vẫn đang trên con đường khám phá nước Mỹ, và khám phá những điều thú vị của cuộc sống, thách thức chính bản thân và vượt qua.

Mình muốn nói rằng hãy ước mơ điều gì đó thật lớn lao, hãy thực sự mong muốn nó, và chắc chắn là bạn sẽ đạt được.

Kẻ cướp thành môn đệ

Một buổi tối khi Shichiri Kojun đang tụng kinh, một tên cướp cầm một thanh gươm bén vào nhà, đòi tiền, nếu không thì chết.

Shichiri bảo tên cướp: “Đừng làm rộn tôi. Anh có thể tìm tiền trong hộc tủ đó.” Rồi thiền sư tiếp tục tụng kinh.

Một lúc sau thiền sư ngừng và gọi: “Đừng lấy hết tiền. Tôi cần một ít để đóng thuế ngày mai.”

Kẻ gian lấy gần hết số tiền và sửa soạn ra về. “Cám ơn khi nhận được quà,” Shichiri nói thêm. Chàng cướp cám ơn thiền sư rồi đi mất.

Vài ngày sau chàng cướp bị bắt và thú tội, ngoài các tội khác, còn có tội với Shichiri. Khi được gọi ra làm chứng, Schichiri nói: “Anh này chẳng phải là trộm cướp, ít ra là đối với tôi. Tôi cho anh ta tiền và anh ta cám ơn tôi về việc đó.”

Sau khi mãn hạn tù, anh chàng này đến gặp Shichiri và thành đệ tử của Thiền sư.
.

Bình:

• Từ bi hoán cải.

• Nhưng, Shichiri đối xử từ bi với một tên cướp, hay Shichiri chỉ đối xử bình thường với một người trong nhà—Schichiri xem tên cướp, và tất cả mọi người khác trong thiên hạ, như là người nhà của mình?

Để trả lời, xin đọc lại lời đối thoại.

• Tiếng Anh, “thief” nên dịch là “kẻ trộm”. Tuy nhiên, trong truyện có nói cầm gươm dọa, thì phải là “cướp” (robber) mới đúng.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

The Thief Who Became a Disciple

One evening as Shichiri Kojun was reciting sutras a thief with a sharp sword entered, demanding either money or his life.

Shichiri told him: “Do not disturb me. You can find the money in that drawer.” Then he resumed his recitation.

A little while afterwards he stopped and called: “Don’t take it all. I need some to pay taxes with tomorrow.”

The intruder gathered up most of the money and started to leave. “Thank a person when you receive a gift,” Shichiri added. The man thanked him and made off.

A few days afterwards the fellow was caught and confessed, among others, the offence against Shichiri. When Shichiri was called as a witness he said: “This man is no thief, at least as far as I am concerned. I gave him money and he thanked me for it.”

After he had finished his prison term, the man went to Shichiri and became his disciple.

# 44