Phát minh kỹ thuật ấn loát ở Trung Quốc

Kỹ thuật ấn loát là một trong 4 phát minh vào thời cổ đại của người Trung Quốc, có ảnh hưởng lớn đến Trung quốc và cả thế giới. Ba phát minh kia là kim chỉ nam, thuốc súng, và làm giấy.

Kỹ thuật ấn loát có nguồn gốc từ triều Tùy (tức CN 581-618) do Tất Thăng phát minh ra, sau đó được người Mông Cổ truyền sang Châu Âu, về sau người đời gọi Tất Thăng là thủy tổ của nghành in.

Bảo tàng viện ấn loát ở Trung Quốc
Bảo tàng viện ấn loát ở Trung Quốc

Trước khi phát minh ra kỹ thuật ấn loát, văn hóa nghệ thuật thường thông qua sao chép bằng tay để lưu truyền lại. Chép bằng tay vừa tốn thời gian, tốn sức lại hay nhầm hay thiếu sót, từ đó có ảnh hưởng và hạn chế rất nhiều đến sự phát triển của nền văn hóa. Ấn chương (tức con dấu) và kỹ thuật khắc đá đã đem lại những kinh nghiệm và chỉ thị trực tiếp cho kỹ thuật ấn loát, ví dụ như dùng phương pháp đặt giấy lên bia đá để rập mực là một trong những gợi ý cho sự hình thành của ấn loát điêu bản.

Ấn chương có từ thời nhà Tần, thường chỉ có vài chữ biểu thị tên họ, quan chức, cơ cấu. Ấn văn đều khắc dưới dạng phản thể, phân biệt thành âm văn và dương văn. Trước khi chưa có sự xuất hiện của giấy thì các công văn và thư tín đều được viết trên giản thẻ (được làm bằng trúc), sau đó dùng thằng buộc chặt, tại nút buộc có quyét một lớp nê dính (tức một loại bùn dính), sau đó dùng ấn chương đóng trên lớp bùn và gọi là “nê phong” (cách chế tạo nê phong thời đó được coi là một trong những bảo mật của triều đình). Sự ra đời của giấy đã làm cho “nê phong” được thay thế bằng “chí phong”.

Kỹ thuật khắc đá là do Ấn chương mở rộng thành, hiện nay 10 tảng thạch cổ của thời Tần được coi là 10 tảng đá được khắc sớm nhất, về sau có nhiều người khắc toàn bộ các chữ của một quyển sách lên khối đá lớn để làm giáo trình cho người học.

Kỹ thuật ấn loát của Trung Quốc đã trải qua hai giai đoạn là ấn loát điêu bản và ấn loát hoạt tự, đem lại sự tiện ích cho cuộc sống của người dân và được coi là một cống hiến lớn cho sự phát triển của loài người.
Điêu bản (bằng gỗ)
Loại bản liệu mà ấn loát Điêu bản thường dùng là gỗ cây Táo hoặc Lê, phương pháp điêu bản là đầu tiên dùng chữ viết trên tờ giấy mỏng và trong suốt, dùng mặt giấy có chữ úp lên thân gỗ, rồi dùng dao khắc gỗ theo hình chữ, dùng mực bôi lên miếng gỗ vừa khắc, dùng giấy úp lên mặt gỗ được bôi mực, dùng loát (một loại chổi dùng trong in ấn) nhẹ nhàng quét, sau đó gỡ ra sẽ được mặt chữ in trên giấy. Sự ra đời của ấn loát Điêu bản đem lại tiện lợi nhiều hơn hẳn so với việc sao chép bằng tay, mỗi lần có thể in vài trăm bộ, đến vài nghìn bộ nhưng như vậy vẫn rất tốn công tốn sức do loại điêu bản này có khuyết điểm là mỗi lần in một quyển sách sẽ cần một lượng lớn các bản khắc.

Hoạt tự
Hoạt tự

printingchữin2
Do đó vào thời Tống (cách đây khoảng 900 năm) tại Hồ Bắc phát minh gia Tất Thăng (một người bình dân sống và làm việc tại một xưởng điêu bản) thông qua nhiều lần thực tiễn đã phát minh ra loại kỹ thuật ấn loát hoạt tự, ông dùng chữ khắc lên bùn (loại bùn dùng để đóng gạch), mỗi chữ một miếng, đem nung cho khô. Sau đó chuẩn bị một khay sắt, trên khay sắt đó có rắc hương tùng, sáp nến, tro giấy…, 4 cạnh của khay sắt được nẹp bởi một khung sắt, trong khay sắt đó xếp cho kín chữ đã đước khắc, đem nung trên lửa, dùng một tấm kim loại bằng phẳng để nèn các chữ trong khay xuống.
printingchổi
Bản in hoạt tự
Bản in hoạt tự

Để nâng cao năng suất thường chuẩn bị hai khay sắt, để khay này in hết đã có khay khác để in. Không chỉ vậy mỗi một chữ đều được chuẩn bị mấy hoạt tự, những chữ hay dùng sẽ khắc nhiều hoạt tự hơn. Sau khi in xong đem gỡ các hoạt tự ra để lần sau dùng. Loại ấn loát hoạt tự này đã khắc phục được nững điểm yếu của ấn loát Điêu bản, vừa thuận tiện, vừa kinh tế lại tiết kiệm được thời gian…vì vậy đây được coi là quá trình đại cải cách trong lịch sử ấn loát của Trung Quốc. Hiện nay nguyên lý cơ bản của loại bản in diên tự (kim loại chì) đang được thịnh hành trên toàn thế giới đều giống với nguyên lý phát minh của Tất Thắng.

Bản in cổ nhất có ghi ngày, còn sót lại--Kinh Kim Cang (11 tháng 5, 868 sau công nguyên)
Bản in cổ nhất có ghi ngày, còn sót lại--Kinh Kim Cang (11 tháng 5, 868 sau công nguyên)

Bản Kinh Kim Cang (nhìn gần)
Bản Kinh Kim Cang (nhìn gần)

Đầu tiên kỹ thuật ấn loát hoạt tự được truyền đến Triều Tiên, Nhật Bản, sau đó thông qua người Mông Cổ truyền sang các nước phương tây. Sự ra đời của kỹ thuật ấn loát đã đẩy mạnh tốc độ giao lưu, phát triển văn hóa giữa các nước trên thế giới, do đó có thể coi kỹ thuất ấn loát hoạt tự là một cống hiến lớn của Trung Quốc đối với toàn thế giới.

Kiều Tố Uyên
Hồ Nam, Trung Quốc

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s