Thứ hai, 22 tháng 6 năm 2009

Bài hôm nay:

Nat King Cole – Ca sĩ của những bản ballad bất tử, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, chị Huỳnh Huệ giới thiệu và nối links.

Bài thơ viết trên giáo án, Thơ, anh Nguyễn Tấn Ái.

Daily English Discussion, anh Trần Đình Hoành.

Bảo vệ giấc mơ, Danh Ngôn, song ngữ, chị Đặng Nguyễn Đông Vy dịch.

Lời tử tế , Danh Ngôn, song ngữ, chị Phạm Kiêm Yến dịch.

Tôi khiếm thị, và tôi viết báo, Trà Đàm, anh Trần Bá Thiện.

Về nghề báo–Từ những điều bé nhỏ và chân thật, Trà Đàm, Phạm Lữ Ân

Nói và viết như thế nào ?, Trà Đàm, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin sáng quốc tế, anh Trần Đình Hoành tóm tắt và nối links.

World Cup: Biện hộ cho vuvuzela – Bóng đá không chỉ vui vì bóng và đá, mà phần lớn là vì cờ quạt trống chiên hò hét cổ vũ, hay là chạy xe phất cờ vòng vòng thành phố… Ở South Africa, nơi tổ chức World Cup năm tới, bóng đá đồng nghĩa với kèn vuvuzela–cây kèn ống dài, đầu loa, ngày nay làm bằng nhựa. Đi xem bóng đá ở Sough Africa mà không kè kè một vuvuzela thì bạn thuộc loại lạc đạo rồi. Thế nhưng, ở đời hay có chữ “nhưng” quái gở, vài quí vị ở Âu châu phàn nàn là tiếng vuvuzela inh ỏi trong trận đấu làm họ không nghe được lời nói của người tường thuật trận đấu.

Chủ tịch Liên Đoàn Bóng Đá Thế Giới, Sepp Blatter, vừa cho biết có một số hãng truyền hình và truyền thanh yêu cầu cấm vuvuzela trong kỳ World Cup ở South Africa. Nhưng ông lại nói, vuvuzela là một phần của bóng đá ở South Africa. “Đó chính mục tiêu của bóng đá cho người Phi châu và nước Nam Phi – tiếng ồn, kích động, nhảy múa, vui chơi.” Việc gì mà phải mang bóng đá qua Nam Phi để chỉ có cảm giác là đang ở Âu châu?

Click để xem ảnh vận động trường Soccercity đang được xây ở Johannesburg.

Bài luận văn của bé 13 tuổi biến em và thầy giáo thành nhân vật trong truyện Superman – Hakeem Bennett là một học sinh với nhu cầu đặc biệt (special need student, thường là vì bệnh thần kinh), lớp 8 ở New York. Em thắng giải luận văn quốc gia của nhà xuất bản Stone Arch Books, với bài luận về người anh hùng của em–đó là thầy giáo Matthew Brown. Thầy Brown của em bị mù một mắt và mắt kia thì có thị giác rất hẹp (tunnel vision). Thầy phải dùng một con chó dẫn đường.

Sau khi em thắng giải, nhà xuất bản phát hành một truyện Superman mới, trong đó có hai nhân vật là em và thầy giáo của em.

Nghĩa trang Memorial Park Cemetery ở thành phố Indianapolis, bang Indiana, Mỹ, hiện đang quảng cáo “Mua một chỗ, tặng thêm một chỗ” – Có ai dự tính sẽ có người đi theo mình không?

Người tròn trịa sống lâu hơn người gầy khoảng 5 năm – Đó là kết quả nghiên cứu một nhóm chuyên gia của Bộ Y tế Nhật Bản dưới sự lãnh đạo của GS Ichiro Tsuji, nghiên cứu 50 nghìn người từ 40 tuổi đến 79 tuổi ở miền Bắc nước Nhật. Theo các chuyên gia này thì cơ thể người gầy có khả năng chống bệnh thấp hơn.
.

Tin sáng quốc nội, chị Thùy Dương tóm tắt và nối links.

Niềm vui được làm nghề báo “Khi quyết định làm nghề này và sống chết với nó, tôi phải dung hòa nhiều thứ: ước muốn điên cuồng được kể chuyện bằng chữ viết, bằng hình ảnh và lưu giữ những dấu vết của lịch sử; sở thích về tự do và độc lập và một niềm tin sâu thẳm nghề báo có chức năng căn bản là thúc đẩy xã hội hướng đến sự bình đẳng, chính trực và công bằng hơn.” – Võ Trung Dung, một trong số ít nhà báo gốc Việt làm việc độc lập cho các báo, tạp chí, đài truyền hình của nhiều nước trên thế giới.

Trao thưởng hai thí sinh lỡ thi vì cứu người – Sáng 20/6, Trường THPT Đô Lương 1 chung niềm vui khi hai thí sinh Lữ Đức Quân và Tăng Ngọc Dũng nhận giấy khen và phần thưởng của Sở GD-ĐT, Hội khuyến học Nghệ An. Chiều ngày 3/6, trên đường đến địa điểm thi tốt nghiệp THPT, Dũng và Quân đã phát hiện một phụ nữ đi xe đạp bị bất tỉnh trên đường. Hai em đã đưa nạn nhân đến Bệnh viện Đa khoa huyện Đô Lương. Khi cứu được người bị nạn cũng là lúc Dũng và Quân đã bị trễ giờ thi môn Sinh học. Ngay sau đó, Bộ GD-ĐT đã có công văn đề nghị Sở GD-ĐT Nghệ An đặc cách cho hai em trong môn thi này.

Vẽ, cho xanh thêm ước mơ trẻ thơÁnh sáng là tên cuộc triển lãm tranh thiếu nhi diễn ra từ ngày 19 đến 22-6 tại gallery Không Gian Xanh (Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, 97A Phó Ðức Chính, Q.1). Triển lãm trưng bày 45 tác phẩm sơn dầu của trẻ lang thang đường phố, mồ côi, khó khăn và cả những em gia đình không hạnh phúc… tại Hiệp hội Bảo trợ trẻ em Christina Noble (CNCF).

Thanh Bình – cầu nối của du học sinh tại New Zealand Bùi Thanh Bình là một cái tên khá nổi trong giới sinh viên (SV) Việt đang du học tại New Zealand vì thành tích học tập cũng như hoạt động xã hội đều rất đáng nể. Tuy nhiên điều khiến cô trở nên đặc biệt trong mắt mọi người lại chính là sự kiên nhẫn, cố gắng không mỏi mệt để biến ước mơ của mình thành hiện thực.

Làm giàu nhờ trồng cây hiếm: Trồng gừng trong bao – Đó là cách trồng gừng độc đáo đem lại hiệu quả kinh tế cao, khắc phục được những bất lợi của thời tiết, đất đai.

Chàng thạc sĩ đưa xoài vào “ghép” – Sau hai năm cật lực, chàng thạc sĩ trẻ Lê Văn Bằng – chủ nhiệm Câu lạc bộ Dịch vụ sản xuất trái cây Nông trường Sông Hậu (TP Cần Thơ) – đã đem giấy chứng nhận “ghép” (Global GAP) đạt chuẩn xuất khẩu vào thị trường quốc tế cho trái xoài cát Hòa Lộc.

Hơn 3.000 tỷ đồng xây nhà ở sinh viên – Bộ Xây dựng vừa trình Thủ tướng phê duyệt 61 dự án xây nhà ở sinh viên với tổng vốn đầu tư hơn 3.000 tỷ đồng.

Đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn được vinh danh – Tại Liên hoan phim Madrid dành cho phim Ấn Độ và châu Á vừa diễn ra ở Tây Ban Nha, trong khuôn khổ hạng mục phim châu Á, vượt qua tám đạo diễn khác, đạo diễn Vinh Sơn với bộ phim Trăng nơi đáy giếng đã được vinh danh với giải thưởng đạo diễn châu Á xuất sắc nhất.

Kết nối vòng tay nhân ái Bắc – Trung – Nam – Đó là chủ đề của hội trại hè dành cho gần 1.000 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được nuôi dạy tại các tổ chức, trung tâm bảo trợ trẻ em trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Đà Lạt, Quảng Trị, Hà Nội.

“Cải” của cô bí thư năng nổ – Chủ nhân của “Cải” là cô SV Nguyễn Thị Thu Lành, năm 2 lớp công tác xã hội Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM. Đến “Cải”, các bạn trẻ được lướt web miễn phí, được đọc sách báo từ tủ sách, tạp chí với nhiều đầu sách hay và tạp chí “nóng”, trẻ của quán. Và đặc biệt là những chậu gỗ nhỏ có thể trồng nhiều loại rau yêu thích. “Cải” còn thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện, tọa đàm về các chuyên đề “nóng” của sinh viên, về kỹ năng mềm, về sách và tâm lý… với sự góp mặt của nhiều chuyên gia, giảng viên.

“Nghề báo giúp tôi thú vị hơn trong mắt mọi người” – Xinh đẹp, thành công trong nghề nghiệp, luôn gây ấn tượng với những câu chuyện xúc động của chương trình Như chưa hề có cuộc chia ly…

Quà nhân ái đến với các bệnh nhi ung thư – Sáng 19/6, phóng viên Dân trí trở lại khoa Ung bướu viện Nhi Trung ương trao quà bạn đọc giúp đỡ cho các bệnh nhi ung thư.

Bí quyết của một thủ khoa – Nguyễn Thùy Linh (học sinh lớp 12A2 trường THPT chuyên Lê Quý Đôn) đã đỗ thủ khoa kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2008 – 2009 tại TP Đà Nẵng với 57,5 điểm, tái lập thành tích đỗ thủ khoa của chính bố cô hơn 20 năm trước đó.

Trò chuyện với thủ khoa Lê Nguyễn Đăng Khoa: May mắn nằm trong thực lực.

Huế: Gần 10.000 chỗ trọ miễn phí, giá rẻ cho các thí sinh

Học sinh gốc Việt giành 5/8 danh hiệu thủ khoa tại Mỹ – Theo kết quả của khu Garden Grove tại California, Mỹ, năm trong số tám học sinh tốt nghiệp thủ khoa và bảy trong số tám á khoa của Garden Grove là học sinh gốc Việt.

Đội “sơn ca” trên cao nguyên đá – Thời gian gần đây, khách du lịch ở miền xuôi mỗi khi ghé quán cà phê Phố Cổ ở thị trấn Đồng Văn (Đồng Văn, Hà Giang) thường xuýt xoa khen hết lời tiếng kèn môi và lời hát diết da của những chàng trai cô gái người dân tộc Mông biểu diễn tại quán.
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

🙂 🙂 🙂 🙂 🙂

Đọt Chuối Non

Nat King Cole – Ca Sĩ của Những Bản Ballad Bất Tử

Nat “King” Cole được mệnh danh là “bất tử’’ bởi giọng ca ngọt ngào êm ái như nhung làm say mê những người yêu nhạc pop của phương Tây vào thập niên 50 và đầu thập niên 60, tiếp tục vượt ra khỏi biên giới chính trị văn hoá của nước Mỹ để chinh phục biết bao con tim trên thế giới. Câu chuyện cuộc đời của người nghệ sĩ Mỹ da đen gốc Phi này thực sự là một bài học về thành công trong nghịch cảnh và tài năng đã chiến thắng vượt lên trên những hận thù do vô minh và thành kiến về chủng tộc màu da. cole_instudio

Nathaniel Adams Coles, sinh ngày 17/ 3/1919 tại Montgomery, Alabama, trong một gia đình có vị trí quan trọng thuộc cộng đồng người da đen. Cha ông là mục sư giáo hội Tin Lành. Năm ông 2 tuổi cả gia đình chuyển đến Chicago theo làn sóng di cư mong tìm cuộc sống tốt hơn trong thành phố phương Bắc phát triển về công nghiệp. Lên 4 tuổi, ông học đàn organ theo trí nhớ với mẹ, một trưởng ca đoàn trong nhà thờ của chồng mình, và cậu bé 4 tuổi đã biểu diễn rất thành công bài hát “Yes, We Have No Bananas”.

Năm 12 tuổi, ông học các bài nhạc cổ điển, nhạc gospel (hát trong nhà thờ của người da đen) và cả jazz vì say mê nhạc jazz.
Ông thôi học năm 15 tuổi để theo đuổi sự nghiệp của một nhạc công jazz – piano. Ban nhạc của Cole thường trình diễn ở các câu lạc bộ. Cái tên Nat King Cole đến với ông từ khi ông trình diễn ở câu lạc bộ nhạc jazz.

Ngoài tiếng tăm của một nghệ sĩ dương cầm điêu luyện, ông trở thành ca sĩ hát jazz, được mến mộ nhờ chất giọng nam trung ấm áp, mềm mại được ví như liễu tơ, làn gió đêm mát dịu, một sáng hè êm êm, và một đám tuyết rơi mềm. Năm 1937, trong một chuyến lưu diễn đến Long Beach, California, ông đã ở lại đó và tìm việc trong 1 hộp đêm.natkingcole

Năm 1939, Cole lập ban nhạc 3 người với Oscar Moore (guitar), Wesley Prince (bass), không có tay trống. Ban nhạc của Cole đã nổi lên với nghệ thuật trình diễn đầy xúc cảm tinh tế thể hiện những khát vọng mới của cộng đồng người Mỹ gốc Phi. Trong một đêm trình diễn tại hộp đêm, một người khách say nằng nặc đòi nghe Cole hát một bài gì đó mà ông không biết. Để vừa lòng người khách, Cole đã hát bài “Sweet Lorraine; bài hát đã làm dịu cơn say của anh ta và Cole được thưởng 15 xu. Từ đó Cole dần dần từ chơi piano chuyển sang hát thanh nhạc và bắt đầu sự nghiệp ca hát huyền thoại của mình.

Năm 24 tuổi, chàng ca sĩ trẻ Cole bắt đầu thu âm cho hãng Capitol Records với bài “ Straighten Up And Fly Right” lấy cảm hứng từ một câu chuyện dân gian của người da đen được cha dùng giảng đạo; bài hát này liền chiếm lĩnh vị trí đầu bảng xếp hạng và khiến cho Cole rất được trọng vọng trong ngành công nghiệp âm nhạc với hãng Capitol Records.
Thập niên 40 bắt đầu thời kỳ nhạc trữ tình của Cole với những bài top hits như “The Christmas Song”, “It’s Only A Paper Moon” và “For Sentimental Reasons”. Get Your Kicks On, Route 66 (1946) nhảy lên hạng 3. Mona Lisa là bản ballad xếp hạng 1 và bán được 3 triệu bản.

Cole cũng có tham gia trong lĩnh vực điện ảnh trong thập niên 50 nhưng chính ca nhạc mới đem lại thành công và danh tiếng để đời cho ông như một người tiền phong, một nghệ sĩ lẫy lừng của nhạc pop kết hợp jazz và đặc trưng ballad.
Những năm 50 và 60 khi Cole biểu diễn với các ban nhạc lớn, ông vẫn không bỏ ban nhạc tam tấu của mình. Những bài “Nature Boy”, Mona Lisa” (1950), “Too Young” và bài Unforgettable (1951) đều là top hit xếp hạng 1. Các top hit của Cole tiếp nối nhau như ” Smile”, “Pretend”,”A Blossom Fell,” and “If I May.”

Có thể nói Cole là ca sĩ da màu đầu tiên có nhiều ca khúc top hit bán chạy nhất so với các ca sĩ cùng thời ông, là niềm tự hào của người da đen thời ấy.Tuy vậy ông vẫn phải chịu đựng nạn kì thị chủng tôc khi bị tấn công và bị thương ở lưng trên sàn diễn năm 1956 ở Birmingham, Alabama khi đang hát bài Little Girl, ( sau đó ông đã giữ lời thề không trở lại phương Nam). Cole đã rất dũng cảm đấu tranh với nạn phân biệt chủng tộc thời kỳ thập niên 50 và đầu 60 khi mà sự khinh bỉ và căm ghét người da đen trong xã hội Mỹ khi ấy còn hết sức nặng nề. Chương trình TV trên kênh NBC của ông, chương trình của Cole do một người Mỹ gốc Phi tài trợ, bắt đầu tháng 11-1956, đã gây rất nhiều quan tâm và tranh cãi vào thời điểm đó.

Trong một số chương trình TV này, Cole phải chịu sự sỉ nhục là đánh phấn trắng để khán giả da trắng có thể chấp nhận ông. Tuy nhiên, năm 1948, ông không chịu ra đi khi những người hàng xóm da trắng ở khu sang trọng Beverly Hill kịch liệt phản đối vì ông đã mua nhà ở đây và đảng The Ku Klux Klan vẫn tiếp tục đe doạ ông.Album-Cover-nat-king-cole-
Chính là nhờ tài ca hát của ông và tính khiêm nhường của ông đã khiến ông rất được yêu mến với cả những người da trắng, nên khi ông qua đời ở độ tuổi còn rất trẻ để lại niềm thương tiếc vô hạn cho người yêu nhạc khắp thế giới.Do nghiện thuốc lá, hút đến 3 gói thuốc mỗi ngày, Cole mất vì bệnh ung thư phổi ngày 15/2/1965 khi mới 46 tuổi.

Người nghệ sĩ tài danh này để lại một di sản âm nhạc cho bao thế hệ. Tháng 3 năm 2000, Cole được vinh danh vào Bảo Tàng Âm Nhạc Rock and Roll với giải thưởng Thành Tựu Trọn Đời như một nghệ sĩ vĩ đại đã có ảnh hưởng sâu sắc tới nền công nghiệp âm nhạc nói chung và thể loại nhạc rock and roll nói riêng. Đến tận ngày nay, những bài ballad đậm đà chất thơ nhẹ nhàng, trữ tình, sâu lắng và tha thiết vẫn đi vào lòng người vào tận cùng sâu thẳm của cảm xúc, vượt thời gian và không gian xoá bỏ những ngăn cách dị biệt về địa vị, chủng tộc, tôn giáo trong thế giới diệu kỳ của âm nhạc.
Tiếng hát ngọt ngào của Nat “ King” Cole vẫn sống mãi cùng chúng ta.

Trong chương trình Nhạc Xanh hôm nay, xin giới thiệu 3 ca khúc của Nat King Cole để các bạn vừa thưởng thức vừa có thể chia sẻ lời dịch theo hứng thú của các bạn. Ngoài ra, do có yêu cầu từ một fan của Nhạc Xanh đề nghị nhạc ABBA
và cổ điển do Richard Clayderman biểu diễn (gửi về hộp thư của mình) nên xin post trước mấy bài mà Cole đã hát được chơi bởi Richard Clayderman. Nhạc sĩ dương cầm người Pháp này đã trình tấu hơn 1200 giai điệu trong đó có 267 đĩa vàng và 70 đĩa bạch kim, cũng là người mình rất yêu thích, nên sẽ giới thiệu với các bạn vào kỳ tới.

Mời các bạn nghe các bài Smile, Autumn Leaves, Mona Lisa, và Pretend.

Smile là bài hát chủ đề trong bộ phim câm cuối cùng “Modern Times” năm 1936 của vua hề Charlie Chaplin, do chính Charplin là tác giả của giai điệu. Nó chính thức có tên Smile khi được John Turner and Geoffrey Parsons thêm lời năm 1954. Smile được Cole ghi âm lập tức thành hit.
Smile nhắc chúng ta nhớ đến ý nghĩa của nụ cười trong cuộc sống của mỗi chúng ta, trong từng giây phút, thậm chí cả khi ta bị ngã quị trên đường đời, khi ta thấy buồn vì một vài điều bất ưng trong cuộc sống, gặp thất bại… Điều này nghe có vẻ hơi khó, nhưng chúng ta hãy cười, cười nhiều hơn, và tin rằng mọi nỗi buồn nếu có rồi sẽ qua và sau thất bại là thành công và niềm vui vẫn còn đó như với Nhạc Xanh- ĐCN.

Autumn Leaves: rất nổi tiếng, nguyên từ bài hát tiếng Pháp “Les feuilles mortes” ( The Dead Leaves), nhạc của Joseph Kosma, lời của nhà thơ Jacques Prévert, lời Anh do nhạc sĩ Mỹ Johnny Mercer viết.

Mona Lisa: bài hát của Ray Evans and Jay Livingston đạt được giải Oscar về bài hát hay nhất cho phim “Captain Carey, USA”, dẫn đầu bảng xếp hạng trong 8 tuần khi Cole hát bài này

Pretend: xếp thứ 2 trên Billboard 1953, nhạc và lời của Lew Douglas, Cliff Parman, and Frank Lavere

Thân ái chúc các bạn một ngày vui tươi bắt đầu tuần làm việc mới hiệu quả.

1. SMILE ( Charlie Chaplin- Nat King Cole )

Smile though your heart is aching
Smile even though it’s breaking
When there are clouds in the sky, you’ll get by
If you smile through your fear and sorrow
Smile and maybe tomorrow
You’ll see the sun come shining through for you

Light up your face with gladness
Hide every trace of sadness
Although a tear may be ever so near
That’s the time you must keep on trying
Smile, what’s the use of crying?
You’ll find that life is still worthwhile
If you just smile

That’s the time you must keep on trying
Smile, what’s the use of crying?
You’ll find that life is still worthwhile
If you just smile

2. AUTUMN LEAVES (Nat King Cole, 1955 )

The falling leaves drift by the window
The autumn leaves of red and gold
I see your lips, the summer kisses
The sun-burned hands I used to hold

Since you went away the days grow long
And soon I’ll hear old winter’s song
But I miss you most of all, my darling
When autumn leaves start to fall

AUTUMN LEAVES : RICHARD CLAYDERMAN (PIANO)

3. MONA LISA ( from the Nat King Cole Show , con gái Natalie của Cole nói về cha )

Mona Lisa, Mona Lisa, men have named you
You’re so like the lady with the mystic smile
Is it only cause you’re lonely they have blamed you?
For that Mona Lisa strangeness in your smile?

Do you smile to tempt a lover, Mona Lisa?
Or is this your way to hide a broken heart?
Many dreams have been brought to your doorstep
They just lie there and they die there
Are you warm, are you real, Mona Lisa?
Or just a cold and lonely lovely work of art?

Do you smile to tempt a lover, Mona Lisa?
Or is this your way to hide a broken heart?
Many dreams have been brought to your doorstep
They just lie there and they die there
Are you warm, are you real, Mona Lisa?
Or just a cold and lonely lovely work of art?

MONA LISA ( CLAYDERMAN )

4. PRETEND

Pretend you’re happy when you’re blue
It isn’t very hard to do
And you’ll find happiness without an end
Whenever you pretend

Remember anyone can dream
And nothing’s bad as it may seem
The little things you haven’t got
Could be a lot if you pretend


You’ll find a love you can share
One you can call all your own
Just close your eyes, she’ll be there
You’ll never be alone

And if you sing this melody
You’ll be pretending just like me
The world is mine, it can be yours, my friend
So why don’t you pretend?

And if you sing this melody
You’ll be pretending just like me
The world is mine, it can be yours, my friend
So why don’t you pretend?

Bài Thơ Viết Trên Giáo Án

tinhthaytro

    ( Kính tặng thầy
    Trương Vũ Thiên An)

Thầy tôi dạy tôi:

Cổ nhân quí nhau nâng rượu
Cổ nhân thương nhau dạo cờ
Băng tâm ngọc hồ đãi người bằng hữu
Tri kỉ khát tình nghẹn đứt câu thơ.

thaytro

Tôi mang lời thầy tôi trên chuyến thời gian không vé khứ hồi
Đau đáu khát thèm nếp đời trinh bạch
Thắp lửa giữa đêm chờ ngày hiển thánh
Xin được chữ rồi quí chữ bao nhiêu!

Tôi mang lời thầy tôi qua khắp thành thị, miền quê,
qua cuộc rượu, cuộc người,
Ngã độn độn hề nhìn đời tiến hóa
Giáo án ngày xưa thầy trinh bạch quá
Cánh hẩu bây giờ mời nhau ăn sâu!

Người làm thơ là làm chuyện báo đăng
Say rượu còn có đất về, say văn đành lữ thứ
Tìm đâu ra cái sở nguyện chân thành của người xin chữ
Chữ ông Huấn chừ thôi đành niêm phong.

Muốn cược linh hồn vào cuộc đục trong
Chạnh thương mắt học trò trinh bạch
Lại chông chênh qua bao mùa dằn vặt
Giữ gìn trang giáo án tinh khôi.

Lại làm tên lính canh đạo đức của đời
Phấn trắng bảng đen kẻ dòng luân lí
Lại nức khóc khi biết mình đãng trí
Để nhật thực toàn phần lên những câu thơ.
education
Có những lần muốn bỏ cuộc thầy ơi!
Thương lắm nỗi niềm ÂN SƯ tuyệt tự
Lại thắp lửa lên làm người cho chữ
Lời thầy về trên giáo án con nay.

    Quế Sơn mùa thi
    Nguyễn Tấn Ái

Daily English Discussion–Monday, June 22, 2009

englishchallenge
Hi everyone,

June 21 is the Revolutionary Press Day of Vietnam. So we have a couple of articles about the press and writing today.

For our discussion:

How do you think about being a journalist? Are you a journalist? Are you planning to be a journalist? Why do you want to be a journalist?

Where do you normally get your daily news? On TV? radio? hard-copy newspapers? online newspapers?

Do you think you have enough information every day?

What improvement do you think we should have for the Vietnamese press in general?

OK, you guys, chip in. Let’s imagine that your input may help improve Vietnam’s press scene. Think positive!

.

TODAY’s CHALLENGE

1. Today chi Huệ posted several songs by Nat King Cole, we can translate them into Vietnamese. And we have chị Ngoan and anh Hưng help proving feedback.

2. Translate the following text into English.

Cả tích cực lẫn tiêu cực, cả tình yêu lẫn thù hận, đều tạo ra năng lực. Cuộc đấu tranh giữa năng lực tích cực và năng lực tiêu cực là cái mà, trong mọi nền văn hoá của con người, chúng ta gọi là cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giữa ánh sáng và bóng tối. Nhưng, bạn đừng vội giơ tay sớm “Tôi phe thiện.” Nếu tự cho điểm, thì tất cả thế giới chỉ có một phe thôi, các bạn ạ–mọi người chúng ta đều dõng dạc tuyên bố, rất thành thật, “Tôi đương nhiên là thuộc phe thiện.” Nhưng rất tiếc, sự thật là thế giới có biết bao nhiêu người gây bao đau khổ và phiền não hằng ngày. Mọi người đã thuộc về phe ta hết rồi, phe địch ở đâu ra vậy kìa?

That’s it for today. Have fun, everyone.

Great day!

Hoành

Tôi khiếm thị, và tôi viết báo

Với chiếc máy tính cài phần mềm phát âm, anh Trần Bá Thiện kết nối mình với thế giới ánh sáng – Ảnh: TT

Nhiều đọc giả hỏi tôi: một người mù như anh làm sao viết báo được? Chắc vì anh hồi xưa học văn giỏi lắm…. Nghe xong lời nhận xét ấy mà tôi như rớt từ trời xuống.

Từ… dốt văn

Cha tôi là nhà báo. Ông viết tin chiến trường cho các báo quốc tế thời chiến tranh Việt Mỹ. Thời ấy, tôi đang học trung học tức phổ thông cấp 2-3 với những bài văn được 10/20 hay 11/20 điểm là mừng hú vía. Tôi nghĩ, nghiệp văn chương chẳng phải là cái nợ của mình nói chi đến nghề làm báo.

Nhớ lại các bài toán đố thời học tiểu học tức cấp 1 ngày nay, tôi lại ngớ người ra mà không tài nào hiểu được điều gì đã xảy ra cho tôi. Tôi không giỏi toán cấp 1 lắm nhưng hầu hết các bài tôi đều giải được, và trong bài giải, chỉ có chữ: “Đáp số”. Phần còn lại của bài làm chỉ toàn là con số và phép tính. Tôi không biết sẽ viết cái gì để giải thích về các con số mình đã tính ra. Những câu văn ngắn như thế mà tôi còn chưa nghĩ ra được thì nói chi đến môn tập làm văn. Từ những bài luận dễ như miêu tả, tường thuật cho đến các bài hóc búa như nghị luận đều ôi thôi cả. Mỗi khi xem lại sổ điểm của mình ngày xưa, tôi lại phì cười. Điểm toán, sinh ngữ, sử, địa môn nào cũng giỏi, chỉ trừ nàng văn.

Chẳng những văn viết, ngay văn nói của tôi cũng thật là ấm ớ. Tôi mà kể chuyện thì chỉ được ba câu đã bị người khác chen vào vì chẳng ai đủ kiên nhẫn để nghe cả. Không biết nói, hay không có khả năng nói khiến tôi nhiều phen bị đòn oan. Tính tôi hay nghịch phá. Nhưng không phải lúc nào tôi cũng là tác giả các màn quậy. Vài lần, đứng xem các bạn trong xóm nghịch đến chừng người lớn đến, chúng nó bỏ chạy cả. Tôi đứng lại vẫn còn cười toe toét. Khi người lớn hỏi thì trả lời ấm ớ nên… ăn đòn oan là chuyện thường. Phải chăng ngày xưa, tôi mang một loại khuyết tật có tên là rối loạn chức năng ngôn ngữ?

Bức màn tăm tối của văn chương bỗng một hôm biến mất khi tôi học 11. Lần đó, lớp làm báo tường và tôi bị các bạn chỉ định phải có một bài, đề tài tự do. Chẳng hiểu ma đưa đường hay quỷ dẫn lối, tôi lấy giấy viết ra và trong vòng một giờ đồng hồ, bài viết hoàn tất. May cho học sinh toàn trường là bài ấy bị loại . Tôi ấm ức và viết lại cho riêng mình vài bài nữa. Chữ nghĩa bao năm đèn sách bỗng tuôn ra ào ào. Từ đó, điểm văn tôi cứ lên đều đều.

Tới làm báo

Tôi không nhớ rõ bài báo đầu tiên của tôi là bài nào. Chỉ nhớ lúc ấy, chị Thủy Cúc cần viết một phóng sự và đến rủ tôi cộng tác. Sau đó, tôi bắt đầu dịch các bản tin khoa học tiếng Anh của các đài nước ngoài và gởi Tuổi Trẻ, thời 1988. Tôi nhớ số tiền nhuận bút đầu tiên do tôi tự viết trọn một bài đã được tôi dùng để mua xấp vải may cái quần Tây. Cái quần ngày ấy không còn mặc được nhưng tôi vẫn giữ lại như một kỷ niệm. Nó đánh dấu rằng nếu một người mù như tôi chịu khó thì cũng làm ra tiền xứng đáng.

Cái sân lớn nhất để tôi múa bàn phím chính là lãnh vực khuyết tật. Trên cái sân này, mỗi phận người là một bài học. Mỗi thành tích là một điểm sáng cho nhiều người vươn đến. Trên mảnh sân này, tôi viết đủ loại “báo” như báo mạng, diễn đàn, báo cáo, dự án, tài liệu hướng dẫn… Càng phải viết nhiều tôi càng phải đọc nhiều. Thủa nhỏ tôi cũng là kẻ chăm đọc sách như câu “thư trung hữu nữ nhan như ngọc” – trong sách vở có cô gái đẹp như ngọc. Càng đọc nhiều tôi viết càng cô đọng, súc tích hơn. Có hôm trong một ngày tôi phải viết gần 10 trang trên máy vi tính.

Nhưng cái sân ấy cũng đầy chông gai. Từ khi trở thành một người mù năm 20 tuổi, tôi cảm nhận sâu sắc cái nỗi đau của phận người khuyết tật – NKT. Chẳng những họ bị lãng quên, bị xem thường, họ còn bị đưa lên công luận theo một cách nhìn tiêu cực. Hơn mười năm trước, NKT đã phải đấu tranh vì những bài báo khơi dậy nỗi đau của NKT để kêu gọi lòng thương hại của cộng đồng. Có người nói thương hại là tình cảm của gái điếm. Chúng tôi phải bênh vực không chỉ để cộng đồng dành cho những NKT thành công một cái nhìn xứng đáng nhưng còn vì những NKT đang vượt qua bao thử thách để tìm một vị thế tử tế trong xã hội. Nói những vấn đề nặng tính lý luận này, với tôi tuy rất khó nhưng lại không gian khổ bằng việc….. đem niềm vui đến NKT.

Một nhóm vài NKT như tôi, Hoàng Yến (*) có khả năng viết lách đã mỗi ngày tự quán sát nội tâm, tự tắm rửa tâm hồn mình bằng những bài viết về tư duy tích cực. Chúng tôi phải học cách tìm được bình an và niềm vui thật cho chính mình. Tôi không có niềm vui thật thì lấy niềm vui nào để san sẻ với các bạn khuyết tật của mình. Chính chúng tôi cũng phải đối chọi với các rào cản từ nhận thức của đồng loại, từ những trở ngại mỗi ngày khi ra đường, khi học tập, khi vui chơi.

Cãi lý chăng? Tôi tự tin vào kinh nghiệm bản thân và kiến thức của những năm học xã hội học và kiến thức của bao khóa tập huấn có lẽ tạm đủ để tôi đấu lý với đời. Nhưng, một bồ cái lý không bằng một tí cái tình. Làm sao tôi có được cái tình khi tâm hồn mình đang chứa đầy phẫn nộ vì bị ngược đãi. Có chăng là cái tình nhu nhược giả dối. Quả thật, các bài báo của tôi về đề tài khuyết tật thường được khởi đầu từ những cơn phẫn nộ. Đã bao lần tay tôi run lên vì giận dữ khi gõ bàn phím.

Thế nhưng, sau đó, tôi phải biết cách lắng lòng xuống và tìm ra sự minh mẫn của bình an. Chỉ khi tôi biết yêu cả những người từng ngược đãi tôi, tôi mới nói cho họ hiểu họ đang làm tổn thương NKT chúng tôi. Không phải dám nói ra một sự thật. Đôi vai con người nhỏ bé lắm, không đủ sức gánh vác tất cả sự thật. Nỗ lực của tôi trong mỗi bài báo là nỗ lực biết yêu người yêu đời. Vì yêu mà lên tiếng. Và lên tiếng để thay đổi chứ không lên tiếng để vạch trần hay khơi dậy những nỗi đau.

o0o

Sao tôi lại phải nói ra những điều cao siêu thế này? Thực ra tôi chỉ là một đứa mê ăn. Mê ăn từ nhỏ. Mê ăn đến nỗi cả dòng họ nhà tôi khi nhắc đến tôi chỉ nhớ đến cái thiên tài ẩm thực ấy. Sao tôi lại không dùng đức tính phàm ăn tục uống của mình để quan sát xã hội. Đi đến đâu, thăm viếng ai, tôi cũng ráng nấn ná để được chủ nhà mời ăn. Văn hóa ẩm thực của mỗi địa phương hay mỗi cá nhân sẽ nói lên rất nhiều điều về thực trạng đời sống của họ. Họ sướng hay khổ, vui hay buồn, giàu hay nghèo, kiểu cách hay chơn chất.. hết thảy đều có thể quan sát được khi họ ăn, cách họ ăn, món họ ăn và những thứ liên hệ.

Bạn đọc có khi nào được ăn bữa cơm do chính những người mù tự đi chợ và nấu chưa? Bạn đã từng dự tiệc cưới của một đôi vợ chồng khuyết tật chưa? Giữa thung lũng đầy nước mắt ấy, họ vẫn nở cho đời những đóa sen lộng lẫy. Với tôi làm báo là hái những đóa hoa ấy.

TRẦN BÁ THIỆN

(*) Thạc sĩ Võ Thị Hoàng Yến-Long Thành, một bạn khuyết tật của tôi.

Tuổi Trẻ

Về nghề báo–Từ những điều bé nhỏ và chân thật

journalist
Tôi vừa nhận được điện thoại của em, báo tin em đã đăng ký thi vào Khoa báo chí năm nay. Nhưng em vẫn đang băn khoăn không biết mình có đủ bản lĩnh để theo nghề báo hay không, một nghề mà em nói rằng “rất cao quý”. Em muốn “thỉnh giáo” tôi thêm vài thông tin về nghề báo để giúp em đi đến quyết định. Tôi nghe giọng nói sôi nổi của em, và mỉm cười một mình. Vì em đã yêu cầu, bạn nhỏ, tôi sẽ nói em nghe về nghề báo. Có thể nó không giống điều em thấy, hoặc những điều em sẽ được học ở trường, nhưng đó là những gì tôi nghĩ, sau bấy nhiêu năm làm công việc này.

1. Nghề báo trước hết là một nghề. Tôi không ưa dùng từ “cao quý” cho một nghề nào đó, nếu như em cũng đồng ý với tôi rằng mọi nghề nghiệp lương thiện đều cao quý như nhau. Như mọi nghề nghiệp khác mà em biết, ta kiếm sống bằng công việc đó. Nghề báo nuôi sống ta bằng lương và nhuận bút. Và cũng như mọi nghề nghiệp khác, ta phải làm công việc của mình với hết năng lực và trách nhiệm để không hổ thẹn với đồng lương nhận được.

Vì sao tôi nhắc đến nhuận bút trước hết. Bởi vì việc chúng ta được trả tiền cho những gì chúng ta viết sẽ khiến ta tỉnh táo, và không cho rằng mình đang làm một công việc cao quý hơn nhiều nghề khác trong xã hội. Và vì niềm vui mỗi khi lãnh nhuận bút cho một bài báo là niềm vui không bao giờ cũ. Từ một cái tin nhỏ đầu tiên cho đến bài báo cuối đời, khi niềm vui đó còn tồn tại nghĩa là em còn tự hào vì mình nhận được thành quả xứng đáng từ công sức của chính mình. Một người làm báo chính trực luôn trân trọng từng đồng nhuận bút, bởi đó sẽ là nguồn thu nhập duy nhất nếu anh ta quyết dành cả đời mình chỉ để làm báo.

2. Khi ta đặt nghề báo trong tương quan bình đẳng với nghề khác, ta sẽ đặt bản thân người viết báo bình đẳng với nhân vật của mình. Quan tòa có thể đứng cao hơn để tra hỏi hay phán xét bị cáo, nhưng chúng ta đứng trước quan tòa và bị cáo để phỏng vấn họ với một tư thế như nhau, sự tôn trọng như nhau. Đó cũng sẽ là tư thế trước chính trị gia, nghệ sỹ cho đến người công nhân quét đường. Người giàu, người nghèo, người thành công hay người thất bại. Em không yêu hay ghét hết thảy các nhân vật như nhau, nhưng em phải đối xử với họ như nhau: tôn trọng và không mặc cảm. Khiếp hãi hay khinh thường không nên là tác phong của một nhà báo.
journalistmemorial
3. Trong nghề báo, tuổi trẻ không phải là thế mạnh tối thượng. Sự thông minh và xông xáo là những ưu điểm đáng kể, nhưng kinh nghiệm và kiến thức học được mới là giá trị quyết định. Nghề báo là nghề “gừng càng già càng cay”…Chúng ta xuất thân không phải là những người thông thái, nhưng lại phải biết về nhiều lĩnh vực, đó là lý do ta phải học liên tục. Và cách học tuyệt vời nhất quyết định sự hấp dẫn của nhà báo, là ta có cơ hội học trực tiếp từ những người am hiểu nhất về vấn đề đó, bên cạnh sách báo. Ta học cái nhìn kinh tế vĩ mô từ một nhà kinh tế học, ta học về cách điều hành một công ty từ số 0 qua một giám đốc thành công, học về nhạc lý và thị hiếu ấm nhạc từ một nhạc sĩ, học biết về công nghệ lăng xê qua một ông bầu… Không hiểu về điều mình viết không chỉ là một sai lầm, mà còn là sự thiếu trách nhiệm. Chúng ta học để biết, và biết thì mới viết. Càng làm nghề lâu thì ta càng học được nhiều. Khi quay nhìn lại, tôi nhận ra rằng mỗi đối tượng tôi gặp trong nghề báo đều đã dạy cho tôi điều gì đó hữu ích, và như vậy, chúng ta là người có nhiều thầy hơn bất cứ ai.

4. Tôi ưa thích nghề báo bắt đầu từ những tin vắn quốc tế, ký tên AP, AFP, Reuter… Và cho đến giờ tôi vẫn yêu thích chúng. Những tin vắn, không có tên phóng viên nào được ký, thay vào đó là tên hãng tin. Đối với tôi, nó thể hiện toàn bộ nghề báo: Cả một bộ máy khổng lồ để đưa đến cho ta dòng tin 50 từ đó. Khi em nói mình muốn làm báo, thông thường điều đó có nghĩa là em sẽ làm người viết, một phóng viên ký tên dưới bài được đăng. Hãy nghĩ đến bộ máy sau đó: người dịch, người biên tập, thư ký tòa soạn là người tổ chức bài, người trình bày, tổng biên tập là người chịu trách nhiệm, người đọc morasse, người thủ quỹ phát nhuận bút, người phát hành và bán báo, và…người đọc. Một bộ máy khổng lồ rất nhiều khi bị lãng quên.

5. Nghề báo trong tim tôi gói trọn trong một chữ TIN. TIN – là thông tin – thứ chúng ta phải cung cấp. TIN- là lòng tin – thứ chúng ta phải đạt được. Nếu không có thông tin, không thể đòi hỏi lòng tin. Nếu không có lòng tin, thông tin chỉ là trò hề vô nghĩa. Để có được hai thứ đó, phải bắt đầu từ sự thật, và vì sự thật.

Nghề báo xét cho cùng không mang đến cho chúng ta thứ quyền lực nào ngoài quyền được đòi hỏi tìm đến tận cùng sự thật. Cũng như đối với nhiều người làm báo khác, sự thật có sức quyến rũ ghê gớm đối với tôi. Sự thật, để có được nó, người ta có thể phải trải qua rất nhiều thứ. Có thể là những chuyến đi dài, những cuộc phỏng vấn đeo đuổi hàng tuần. Có thể là khổ ải, nhục nhằn, mất mát. Có thể là trung thành, hay phản bội. Là sức lực, trí tuệ, lòng dũng cảm. Là mồ hôi, máu. Là cận kề chiến tranh, thảm họa, tù đày. Là cái chết…Có thể, là tất cả những cái đó gộp lại.

Sự thật, chính là lý do khiến những nhà báo mất mạng ở chiến trường. Sự thật, là nguyên nhân sâu xa khiến nghề báo luôn được xếp vào những nghề nguy hiểm.

Để CÓ được sự thật, người làm báo phải chính trực và biết hoài nghi. Để NÓI được sự thật, tờ báo phải chính trực và có dũng khí.

Nhưng, em sẽ hỏi, rằng sự thật là gì? Sự thật, đôi khi là điều không dễ nắm bắt. Sự thật, đôi khi nằm giữa hai chiều thông tin. Sự thật, đôi khi nằm giữa hai bản báo cáo của hai phe thắng bại. Sự thật, đôi khi là ranh giới mờ ảo mong manh. Và sự thật rất nhiều lúc là thứ vẫn đang được tìm kiếm chứ không phải đã được khẳng định. Người tìm kiếm nó không phải bao giờ cũng gặp được nó.

Nhưng dù thế nào, thì nghề báo cũng phải khởi đầu từ niềm khao khát đạt đến sự thật. Từ niềm tin sâu sắc vào điều đúng đắn. Ngày mà ta thấy thanh thản trước một điều không tốt, đó cũng là ngày ta bôi vết đen đầu tiên lên nhân cách của chính mình.

6. Dù sao tôi vẫn nghĩ nghề báo không phải là một nghề khó. Không có gì bảo đảm là ta sẽ viết được những điều lớn lao, nhưng chắc chắn ta luôn có thể làm được điều tối thiểu là viết một cách chân thật. Viết thì dễ hơn là nói, nói thì dễ hơn là tin, và tất nhiên, tin thì dễ hơn là sống vì những điều tốt đẹp.

Bởi thế, nếu ta chưa thể viết được những điều vĩ đại và chân thật, thì ít nhất, ta cũng phải viết được những điều bé nhỏ và chân thật.

Hãy bắt đầu từ đó.

Phạm Lữ Ân
(Bút hiệu chung cho Đặng Nguyễn Đông Vy và Phạm Công Luận)

Nói và viết như thế nào?

powerofwords

Chào các bạn,

Hôm nay kỷ niệm 84 năm Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam (21.6.1925-21.6.2009), chúc các bạn nhà báo nói riêng, và tất cả các bạn sử dụng ngôn từ thường xuyên trong công việc nói chung, sức nóng không bao giờ nguội của con tim. Nhân ngày kỷ niệm viết lách, mình xin chia sẻ với các bạn một vài suy tư về viết lách và ngôn từ.

Mấy muơi năm nay mình sống với viết lách. Ra tòa vào tòa cũng viết, viết báo, viết trên các diễn đàn, liên tục, hằng ngày, ròng rã 20 năm về các vấn đề Việt Nam. Khoảng thời gian này giúp mình rút ra một số những qui tắc căn bản mà mình nghĩ là những người viết lách, hay nói chung là người sử dụng ngôn từ cần có, dù là nghiệp dư hay nghiệp dĩ.

1. Tình yêu

Viết là để chia sẻ với người đọc. Nói là để chia sẻ với người nghe. Và đã là chia sẻ thì ta chỉ nên chia sẻ tình yêu. Thế giới này đã có đủ chiến tranh và thù hận. Thế giới không cần và không nên có thêm một giảng sư thuyết giảng thù hận và ghen ghét.

Và tình yêu đây không có nghĩa là tình yêu với cách mạng, với chính trị, với triết l‎y’, với đạo giáo, và với đủ mọi thứ vớ vẩn khác. Cho đến mức cùng tận, tình yêu chỉ có một nghĩa đúng mà thôi; đó là tình yêu cho con người—những người chung quanh ta, gia đình, trường học, sở làm, làng xã, thành phố, quốc gia, thế giới.

Tình yêu ở đây là tình yêu cho những người đang đi lại gồng gánh ngoài đường, còng lưng ngoài ruộng, hì hục với máy móc trong công xưởng, dán mắt vào màn ảnh computer trong văn phòng, dãi nắng dầm mưa trên những chiếc xe ôm ngoài phố. Con người đây không phải là khái niệm trừu tượng “con người là một con vật suy tư” hay là “con người là một con vật kinh tế” của các triết gia.

Tình yêu cho con người ở đây cụ thể như mẹ thưong con, vợ thương chồng, anh thương em. Nếu không có loại tình yêu như thế làm căn bản, thà rằng đừng viết, vì viết mà không có tình yêu thật sự thì thường là hại hơn là lợi cho thế giới này.

2. Cẩn trọng với lời nói

Một bài viết có thể có hàng nghìn người đọc. Một lời nói trước đám đông có ít nhất là vài chục người nghe. Ảnh hưởng của một lời nói, một bài viết, có thể đi rất xa, cho nên ta phải có trách nhiệm đủ để cẩn thận lời nói. Đừng để lời nói thiếu suy xét, thiếu bình tĩnh, thiếu yêu ái, thiếu xây dựng của mình đi ra. Nói chuyện với bạn trong quán cà phê là khác. Viết cho hàng nghìn người đọc hay nói trước một nhóm cử tọa hay một lớp học trò đòi hỏi ta phải cẩn trọng.
powerofwords1
Con người ta chỉ có ba loại hoạt động chính: từ suy tư của ta, từ thân ta, và từ lời nói của ta. Suy tư là loại hành vi tri thức quan trọng nhất. Nhưng rốt cuộc suy tư cũng đi ra ngoài bằng ngôn từ và hành động. Và trong thời đại này, hành động bằng thân thể thì ít mà bằng ngôn từ thì nhiều. Vì vậy, ngôn từ là hành động quan trọng và thường xuyên nhất trong kỷ nguyên này. Ta phải rất cẩn trọng với ngôn từ, và phải luôn luôn nghĩ đến hậu quả của ngôn từ của mình lên thế giới của mình.

Có những chuyện nên nói cách này mà không nên nói cách kia. Có những chuyện chưa nên nói lúc này, mà chỉ nên đợi lúc khác. Ngôn từ phải được sử dụng tùy nơi, tùy lúc tùy trường hợp, không thể bừa bãi được.

3. Thành thật

Mỗi người chúng ta có thể bị chi phối từ cả chục hướng khác nhau khi nói hay viết một bài: quyền lợi riêng của mình, mấy chủ nghĩa lăng nhăng trong đầu mình, quyền lợi của công ty của mình, quyền lợi của đảng mình, quyền lợi của hội thánh mình, nói theo đám đông để được khen thưởng và tránh đụng chạm, nói ngược đám đông để nổ, nói điều mình không tin chỉ để chỉ nghe tán thưởng, không biết cũng nói như biết, biết một thì nói như biết mười, chỉ biết lơ mơ l‎y’ thuyết cũng nói như chính kinh nghiệm của mình, nói ngược lại sự thật của mình vì sợ, v.v… Nói chung là l‎y’ do để chúng ta không thành thật có rất nhiều và luôn luôn nằm đó mỗi khi ta viết, ta nói. Bạn có đủ thành thật để không bị chúng chi phối và chỉ viết và nói đúng những điều gì mình tin tưởng tận đáy lòng không?

4. Can đảm

Nếu ta không có can đảm thì ta không thể có được 3 điều trên. Tình yêu, lời nói cẩn trọng và thành thật cũng vô ích, và không thể phát tiết ra ngoài được.

5. Khiêm tốn

Nếu bạn không thực sự khiêm tốn trong lòng thì bốn điều trên—tình yêu, ngôn từ cẩn trọng, thành thật và can đảm– đều sẽ bị phá vỡ không sớm thì muộn.

* Dĩ nhiên là ta có thể kể thêm nhiều đức tính khác cần thiết cho người sử dụng ngôn từ, nhưng đây là 5 điều căn bản nhất để ngôn từ của bạn có thể làm đẹp, thay vì là rác rến, cho thế giới.

Và “người sử dụng ngôn từ” ở đây bao gồm báo giới, người viết trên mạng Internet, người nói với học trò trong lớp, và các quí vị chính chị chính em đọc diễn văn.

Trong kỷ nguyên thông tin của chúng ta, thông tin, tức là ngôn từ, là cốt lõi chính của kỷ nguyên này. Muốn cho cái lõi của ta chắc chắn, ngôn từ của ta phải chắn chắn, vững chải, đáng làm nền. Nếu ta chỉ nói ra rác rến, cái lõi của nền văn minh hiện tại của chúng ta sẽ dần dần biến thành rác rến.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use