Chỉ khi có được những cái “lễ” tối thiểu với con người, với môi trường sống chung quanh thì mới hy vọng thời đại mình chính danh có “Đại lễ”, và “lễ hội” mới trở về đúng nghĩa – củng cố các giá trị tinh thần dân tộc.
“Nén mình theo lễ” để quân ra quân, thần ra thần….
Trong vòng hơn 10 năm phát động, chuẩn bị và trong 10 ngày diễn ra Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, khó ai phủ nhận được sự hoành tráng có một không hai trong lịch sử những cuộc lễ mang tính chất quốc nội. Nhưng nếu nghĩ rằng “đại lễ” là làm cái gì cũng phải “hoành tráng nhất”, “lớn nhất” thì sẽ không tránh khỏi tội xúc phạm tổ tiên, bởi thời đại nào mà không có “đại lễ”.
Vậy trước khi đến với “đại lễ”, người xưa hiểu về “lễ” như thế nào?


Người Mnông Rlâm là một trong những nhánh Mnông cư trú ở Đak lăk ( Mnông Gar, Mnông Biet, Mnông Kuênh…). Có ý kiến cho rằng : người Mnông Rlâm là sự kết hợp hôn phối giữa nhóm Mnông Gar và nhóm Êđê Bih. Căn cứ xác thực của luận điểm này, về mặt dân tộc học, chưa có sự kiểm chứng. Ngưòi Mnông Rlâm cũng theo chế độ mẫu hệ như người Mnông Gar và Êđê cùng cư trú trong tiểu vùng vùng quanh bờ hồ Lăk.

“Dưới sắc cờ và trời thu Hà Nội” là tập thơ mới của Nguyễn Sĩ Đại ( Nhà xuất bản Hà Nội-2010) ra mắt đúng vào dịp Đại lễ nghìn năm Thăng Long – Hà Nội. Cái tên của tập thơ đã nói lên cái cốt lõi của tập thơ và đó chính là nguồn cảm hứng sáng tạo khơi gợi những cảm xúc, thể hiện những cảm nhận tinh tế, đa chiều về Hà Nội nghìn năm lịch sử.
Sư bà ở Thanh Lương họ Phạm, một gia tộc ở đất Giao Chỉ. Bà xuất gia tu hành ở đất Thanh Lương, giả trang để tu khổ hạnh, tu hành tinh tấn cần mẫn, thông suốt đạo mầu. Bà thường hay thiền định, có đạo cốt trông giống như các vị La Hán, nên có nhiều thiện nam tín nữ xa gần đều ngưỡng mộ, tôn bà lên bậc tôn sư ngang hàng với các vị cao tăng đức hạnh. Năm Hồng Vũ (1), vào đời vua Trần Nghệ Tông bà được sắc phong làm Huệ Thông Đại Sư, sống ở núi Vọng Đông.
