Lưu trữ theo thẻ: Văn Hóa

Tuần Lễ Văn Hóa Du Lịch Buôn Ma Thuột Daklak Năm 2009 : Huyền Thoại Voi Tây Nguyên

Tuần lễ Văn Hóa Du Lịch Buôn Ma Thuột – Daklak năm 2009 với chủ đề “Huyền Thoại Voi Tây Nguyên” được tổ chức từ ngày 16-12-2009 đến ngày 20-12-2009 tại huyện Buôn Đôn và Krông Bông, thành phố Buôn Ma Thuột. Đây là một sự kiện quan trọng kỷ niệm 105 năm hình thành và phát triển thành phố, tiến tới 35 năm chiến thắng Buôn Ma Thuột, đồng thời hưởng ứng các hoạt động chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Tuần Lễ là cơ hội tuyệt vời nhằm giới thiệu những thành tựu, tiềm năng phát triển du lịch văn hóa sinh thái của tỉnh, tôn vinh giá trị văn hóa Voi Tây Nguyên, Không Gian Văn Hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên – được tổ chức UNESCO công nhận là Di Sản Phi Vật Thể Thế Giới, và sản phẩm cà phê Buôn Ma Thuột nổi tiếng thế giới nhằm thu hút đầu tư, xúc tiến các hoạt động liên doanh thúc đẩy du lịch Daklak phát triển nhanh và bền vững, cũng như góp phần xây dựng Daklak trở thành trung tâm kinh tế – xã hội của cả vùng Tây Nguyên.

Trong suốt Tuần Lễ Văn Hóa Du Lịch sẽ có nhiều hoạt động được tổ chức như Lễ Hội Lửa, Lễ Cúng Bến Nước (là hai lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa của người Tây Nguyên được thể hiện lại nguyên bản), Lễ Hội Đường Phố, Trại Sáng Tác Điêu Khắc Gỗ Tây Nguyên, Đêm Ca Nhạc Thời Trang, Triển Lãm Nghệ Thuật Tây Nguyên Xưa và Nay, Liên Hoan Ẩm Thực Vùng Miền giới thiệu những nét đặc sắc trong văn hóa ẩm thực Tây nguyên, Trò Chơi Dân Gian, chương trình Về Nguồn, chương trình du lịch Tây Nguyên xanh khám phá các ngọn thác kỳ vỹ nhất Tây Nguyên, du lịch Dã Ngoại kham phá rừng Namka – Buôn Triết – Hồ Lak… và một hội chợ triển lãm văn hóa – du lịch – thương mại dầu tư với hơn 300 gian hàng.

Đêm khai mạc tuần lễ văn hóa sẽ được tổ chức tại Quảng Trường Thành Phố, các nghệ sỹ vùng Tây Nguyên sẽ có 8 phút đánh chiêng nguyên bản. Hai đại diện tiêu biểu cho đồng bào Tây Nguyên là Y Moan và Siu Blck sẽ hát các bài hát về Tây Nguyên đã nổi tiếng trong thời gian qua.

THE CULTURE AND TOURISM WEEK BUON MA THUOT – DAKLAK 2009: CENTRAL HIGHLANDS ELEPHANT LEGENDS

The Culture and Tourism Buon Ma Thuot – Daklak 2009 tittled “Central Highlands Elephant Legends” is going to be held from 16th to 20th December, 2009 at Buon Don and Krong Bong Districts, and Buon Ma Thuot City. This is a significant event celebrating 105 years of Buon Ma Thuot’s establishment and development, heading towards Buon Ma Thuot 35th victory anniversary and responding to welcoming activities for Thang Long – Hanoi 1000th anniversary in the mean time.

The Week will be a wonderful opportunity to introduce the province’s achivements and potentials for cultural and eco-tourism developments; honor cultural values of Central Higlands Elephant, the Space of Gong Culture in the Central Higlands recorded as World Intangible Heritage by UNESCO, and world-famous Buon Ma Thuot coffee products with a view to luring investments and promoting cooperation activities which boost Daklak’s tourism to develop in a rapid and sustainable way, as well as contribute to build Daklak as a socio-economic center of the whole Central Highlands.

During the Culture and Tourism Week, many activities will also be celebrated, such as Fire Ceremony, Watering Place Ceremony (these two ceremonies deeply bear Central Highlanders’ cultural characters that will be originally featured), Carnaval Festival, Central Highlands Sculpturing Camp, Fashion and Music Night, Exhibition of Artistic Photographs on Past and Present Central Higlands, Regional Cuisine Festival introducing special traits in Central Highlands food cultures, Folk Games, Back to The Origin programs, and tour programs of Green Central Highlands to explore the most impressive waterfallls in the region, and Trekking to discover Namkar Reserve – Triet Village – Lak Lake…, together with an Exhibition Fair of Culture – Tourism – Trade – Investment with more than 300 stands.

The cultural week’s opening night will be celebrated at the City Square, and Central Highlands artists will have 8 minutes to play Chieng originally. Y Moan and Siu Black, two typical represetatives for their hill-tribes, will sing songs about Central Higlands that have been famous over the past time.

Translated by Quan Jun

Nguyễn Hữu Vinh – Kẻ lưu đày trên đảo xanh

Như một kẻ “ bị lưu đày trên đảo xanh”, Hữu Vinh luôn hướng về quê nhà với trái tim của chàng trai 18 tuổi- tuổi của ngày rời xa người mẹ thân yêu, xa tiếng chuông chùa Thiên Mụ, xa con đường đến trường xuôi theo giòng Hương quen thuộc đến chân trời mới lạ để rồi bằn bặt 18 năm sau mới có cuộc đoàn viên rưng rưng nước mắt trên quê xưa.

Đầy trong trái tim 18 ấy là làng Xuân Hòa hiền hòa bên giòng Hương xứ Huế với những khu vườn mướt xanh cây lá, là tuổi thơ vô tư trong trẻo với nhũng trò chơi hồn nhiên con trẻ, là tuổi mới lớn nhiều ước vọng thấp thoáng bước chân chim của cô hàng xóm trong giấc mơ. Và nhiều hơn hết, rõ hơn hết  là hình ảnh người mẹ tảo tần,  suốt ngày hết bếp lại vườn, hết chợ trên lại về chợ dưới. Tất bật vậy nhưng nụ cười không thiếu trên môi bởi đàn con khôn lớn từng ngày, học hành giỏi giang đã là nguồn vui vô hạn. Ngày tiễn Vinh sang xứ người, mạ Vinh đinh ninh trong dạ rằng đó chỉ một cuộc xa năm năm không hơn. Nào ngờ đất nước biến động. Những tưởng không còn gặp lại đứa con trai, nước mắt rơi gần  bằng mưa Huế khiến bà mỏi mòn để khi trùng phùng cứ ngỡ không phải là sự thật. Và hình ảnh mạ ấp ủ suốt 18 năm đã trở thành tượng đài trong tâm hồn  khiến Vinh bội phần thương mạ khi gặp lại người dung mạo đã khác xưa. Từ đó Vinh nguyện sẽ dành cho mạ những gì tốt đẹp nhất mình có thể. Và  hạnh phúc lớn nhất của anh là mỗi năm một lần bay về Xuân Hòa quanh quẩn bên mạ dăm bữa nửa tháng.

Cũng đầy trong trái tim mười tám tuổi ấy là thanh điệu bỗng trầm, là từ ngữ mộc mạc của tiếng Huế. Biết bao lần giữa tấp nập ngược xuôi  trên xứ người, anh ngỡ như nghe thấy tiếng reo vui “Ê! Thằng Vinh nớ! Mi đi mô rứa?” của bạn bè ngày xưa hay nhỏ nhẻ “Anh ni dị ghê, ngó người ta hoài” của cô hàng xóm. Hóa ra đấy chỉ là mộng tưởng. Anh khát tiếng mẹ, khát âm giọng quê nhà. Nỗi khát ấy đã giúp Vinh giữ mãi âm sắc Huế, tiếng Huế dù sống giữa cộng đồng nói tiếng Hoa hoặc tiếng Anh, khiến anh em bạn bè khâm phục cảm mến. Người cảm động và tự hào nhất không ai khác là mạ của Vinh. Tôi nghĩ rằng hẳn Vinh đã phải trò chuyện với mình hằng ngày bằng tiếng VIỆT HUẾ mới được như vậy, vì không ít người xa xứ vài năm đã không còn thuần giọng huống chi Vinh đã  hơn ba mươi năm không mấy khi được nghe được nói tiếng mẹ đẻ, lại là tiếng Huế trên đất người. Taiwan – nơi gia đình Vinh ở không phải là thành phố nhiều người Việt sinh sống (khác với California hay Huston bên Mỹ). Anh tâm sự rằng để được gặp đồng hương, thỉnh thoảng cuối tuần anh phải lái xe hơn hai trăm cây số đi và về. Mới biết trong muôn vàn nỗi khổ có cả nỗi thèm tiếng quê nhà.

Trong trái tim ấy,  miền trung với Huế thơ mộng; nước Việt với non sông gấm vóc luôn hiện hữu. Điều này được nói lên bằng tên hai đứa con của anh với người bạn đời Đài Loan: Nguyễn Trung Việt- Nguyễn Hoài Nam. Đặt tên con cũng là một cách vừa tự dặn mình vừa để nhắc nhở thế hệ tiếp nối đừng bao giờ quên nguồn cội. Mỗi lần cả gia đình cùng về thăm quê, anh đều đưa vợ con thăm nhà thờ họ, thăm khu mộ tổ. Không cần nhiều lời, việc làm này đã thay anh nói với con về những gì chúng cần phải biết từ quá khứ, hiện tại và cả tương lai.  Khó có thể nói trước điều gì sẽ đến với mỗi chúng ta trong cuộc đời này. Riêng với Vinh anh biết đường về quê nội của thế hệ thứ hai, thứ ba trong gia đình nhỏ của anh  gần đấy mà cũng xa thẳm bởi anh không thể để lại cho con – huống chi cho cháu – trái tim mười- tám – tuổi được kỷ niệm ấu thơ ủ lửa nhớ thương, càng không thể chặn guồng quay của cuộc sống được nạp bằng nhiên liệu tư duy hiện đại. Điều này day dứt anh không ít. Có lẽ đây là lý do chính khiến anh thấy mình như là kẻ bị lưu đày.

Và kẻ lưu đày ấy, sau nhiều lần về quê quanh quẩn bên mạ, đã ngộ ra rằng mình phải làm gì đó ở xứ đã nhận mình làm công dân  để vừa nguôi ngoai nhớ thương vừa gắn đời mình với quê hương đất nước bằng những gì mình có được từ trí lực  và ý chí bền bỉ trên xứ người.

Taiwan có thư viện lớn nơi lưu giữ một ít thư tịch cổ, sách cổ của Việt Nam; về Việt Nam. Đặc biệt là sách lịch sử, văn học, tôn giáo. Với vốn chữ Hán phong phú , từ 1994 anh  bắt tay nghiên cứu Hán Nôm. Việc đầu tiên là khảo đính Việt Sử Lược – cuốn sử biên niên viết bằng chữ Hán, được biên soạn vào thời Trần – sau đó là An Nam Chí Lược – cũng là một cuốn sử xưa cùng thời. Là một chuyên gia computer thông thạo chữ Hán, anh còn phát huy thế mạnh của mình ở cả hai phương diện bằng cách góp công sức với Taiwan Chinese  Buddhist Electronic Text Association trong việc hoàn thành bản điện tử bộ Đại Tạng Kinh (Tripitaka). Ở độ tuổi 40, với  công việc chính là nghiên cứu Opto-electronics và computer electronics đây là một việc làm đáng khâm phục.

Và như một cơ duyên, sau một lần về Việt Nam, qua nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương  anh có được  bản thảo chữ Hán trọn bộ Lộc Minh Đình Thi Thảo gồm 197 bài thơ của Ưng Bình Thúc Giạ Thị, một đại quan triều Nguyễn và là  thi nhân  nổi tiếng của đất thần kinh. (Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương là con gái của thi nhân). Ở Taiwan anh đọc kỹ và xúc động với hình ảnh quê hương đất nước hiện rõ  qua mỗi địa danh quen thuộc, với cảm xúc đa chiều của tác giả bằng ngôn ngữ cô đọng. Chưa từng làm thơ, lại là thơ chữ Hán nhưng ngôn ngữ, hình ảnh và nhất là thi tứ dạt dào đầy ắp tình người phản ánh tâm hồn, trí tuệ và cả nhân sinh quan của một tao nhân quyền quý, lập tức thu hút tâm trí anh, khiến anh khó dứt ra được. Tạm gác việc khảo đính hai bộ sách quý, anh chuyên tâm vào dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo.

Trừ khi  làm việc chuyên môn, hầu hết thời gian còn lại được anh dành cho việc khảo dịch, tra tìm các điển cố, điển tích và khó hơn hết là chuyển sang thơ Đường luật. Để thoát lẽ thường “dịch là phản” (Traduire, c’est trahir), anh đã dốc tâm tìm hiểu thêm  luật thơ (vốn không thuộc lĩnh vực hiểu biết sâu rộng của anh),  chọn lọc từ ngữ để vừa trung thành với  ý tứ vừa  gần gũi với nguyên bản mà vẫn bảo đảm  nhạc tính. Có thể nói việc dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo trở thành niềm đam mê lạ lùng của Hữu Vinh và anh hoàn thành trọn vẹn công trình sau bốn năm miệt mài. Chưa bằng lòng với những gì mình đã làm, anh dành thêm nhiều thời gian chỉnh sửa, hiệu đính và sau đó chuyển thành bản điện từ để cuối cùng bản dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo được Institude of Vietnamese Studies, California, USA, xuất bản cuối năm 2008.

Với phong cách làm việc của một nhà khoa học, Hữu  Vinh đã chú thích, chú giải một cách cặn kẽ các điển tích, điển cố vốn nhiều trong thơ Đường nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn. Để làm việc nầy anh đã nghiên cứu gần 60 tài liệu trong và ngoài nước- phần lớn là  sách xuất bản ở Taiwan. Đích thân anh trình bày  bản dịch. Mỗi bài thơ ngoài bản dịch theo lối thơ Đường và bản in chữ Hán còn có bản chụp thủ bút nguyên bản chữ Hán của tác giả, phần chữ Hán được viết lại bởi người dịch,  và bản dịch  văn xuôi. Hẳn rằng những ai có  được bản dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo trong tay đều sẽ không thể phủ nhận đây  là công trình dịch thuật văn học quý báu với tính khoa học rất cao.  Điều thú vị khác cần nói đến  trong bản dịch này là  nhiều bài thơ nổi tiếng của  tác giả Đường thi trong nền  văn học Trung Quốc như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu, Vương Duy…đều được Vinh dịch kèm  trong phần chú thích. (Người viết bài này rất tâm đắc gọi đây là công trình 2 trong 1 ( cuốn )  hoặc 7 trong 1 ( trang ). ) Như vậy ngoài việc dịch LMĐTT, dịch thơ Đường cũng  trở thành đam mê của anh; nhờ đó anh đã hoàn thành một tuyển tập nhỏ gồm 50 bài thơ Đường chọn lọc với chủ đề về tình quê và tình bạn.


Việc dịch LMĐTT đem lại hứng thú cho anh, ngoài ra còn đem đến với anh những cộng sự đắc lực và cả tri âm. Đó là người bạn đời của anh, là các con anh. Họ không những động viên khích lệ tinh thần anh mà còn góp sức với anh một cách cụ thể. Và đó là Hoài Hương, cô gái Đà Lạt trẻ tuổi nhưng giỏi giang, là tiến sĩ Thái Kim Lan – đồng hương Xuân Hòa; người rất yêu Huế và đã  góp phần giới thiệu nghệ thuật tuồng Huế đến với thế giới qua vở Đông Lộ Địch ( cũng của Ưng Bình Thúc Giạ Thị ). Họ tiếp thêm cho anh niềm hứng thú, sự hăng say trong công việc, từ đó anh tham gia nhóm biên soạn bộ Tự điển chữ Nôm trích dẫn (TĐCNTD) (gồm Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Thế Kiệt, Nguyễn Doãn Vượng, Lê văn Đặng, Nguyễn văn Sâm, Nguyễn Ngọc Bích và Trần Uyên Thi ) nhằm mục đích giúp các thế hệ  người Việt có điều kiện nghiên cứu, chuyển sang quốc ngữ các tác phẩm văn học Việt Nam viết bằng chữ Nôm, hiện đang tản mát hoặc được xếp kỹ trong các thư viện trên thế giới. Cuốn tự điển chữ Nôm này vừa được Institute of  Vietnamese Studies xuất bản và ra mắt tại California vào đầu tháng 4, tại Paris trong tháng 5, 2009 vừa qua.

Cũng như LMĐTT, TĐCNTD được soạn thảo công phu. Ngoài phần chữ Nôm (đã từng xuất hiện trong các tác phẩm văn học viết bằng chữ Nôm như Hồng Đức quốc âm thi tâp, truyện Kiều hay Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc…), phiên âm, còn  có thêm phần trích dẫn có chữ Nôm với từng từ loại khác nhau (vì vậy mà có tên TĐCNTD). Vẫn thế, suốt đêm sau giờ làm việc anh lại miệt mài. Thỉnh thoảng – cũng như trước đây với thơ Đường hoặc LMĐTT – theo đề nghị của tôi anh email giới thiệu   vài trang anh đang chịu trách nhiệm khiến tôi vô cùng cảm phục.

Ngoài các công trình lớn trên, anh còn tham gia giới thiệu chùa Huế trên tạp chí Nhớ Huế hoặc các website của Phật giáo và cùng nhiều người khác viết sách bút ký “Sông Hương ngoài biên giới”.

Có thể nói trái –  tim –  mười – tám – tuổi trong người đàn ông sinh 1955 Hữu Vinh đang đập mạnh mẽ chuyển  giòng máu văn hóa, văn học Việt, ngôn ngữ Việt đến với người Việt trong nước cũng như ở hải ngoại và hòa vào thế giới. Cầm gươm cầm súng chống lại ngoại xâm là yêu nước. Góp phần tỏa rạng  nét đẹp trí tuệ, tâm hồn Việt, văn hóa Việt cũng là yêu nước vậy.

Không ít người tự chia đời mình thành nhiều mốc tính theo tuổi tác hoặc thành bại, Hữu Vinh – không chia mà ngẫu nhiên có ba lần mười tám: xa xứ khi vừa qua tuổi mười tám, mười tám năm học tập; định danh trên đất người để rồi lần đầu tiên về thăm mạ và  đến nay là mười tám năm sau ngày sum họp ấy anh hướng về quê nhà bằng công việc của một con ong cần mẫn trong vườn hoa Hán Nôm. Có thể nói ba mốc mười tám này đối với anh tràn đầy ý nghĩa. Thời gian chất chồng lên mỗi người bao nỗi khiến nguời vui thì ít kẻ buồn lo lại nhiều, nhất là với những ai không may mắn được sống trên chính quê hương mình. Nhưng  với “kẻ lưu đày” Hữu Vinh- người đang “đốt” ngày tháng được nhân lên bằng niềm  thương mạ nhớ quê  thành nguồn năng lượng mạnh mẽ, vô hạn để đọc và biên khảo các thư tịch Việt cổ – thời gian sẽ là người ủng hộ tích cực cho các công trình đang dang dở. Hy vọng rằng anh sẽ tiếp tục với Việt Sử lược và An Nam Chí Lược để giới thiệu một cách hoàn chỉnh hai bộ sách quý giá này và nhiều nhiều bộ sách giá trị khác nữa đang tàng ẩn xứ người.

(Tặng N.H Vinh)
….
Bận lòng chi gặp gỡ chia ly
Hoa của đời hãy nâng niu gìn giữ
Băn khoăn chi muôn trùng cách trở
Trái đất luôn là một chấm tròn

Xin hãy nói thoả thuê tiếng mẹ
Kho ngôn từ giàu có vẫn ắp đầy
Bến nước hàng cau, ngõ nhà người ấy
Tiếng chuông chùa ướt đẫm ánh trăng.

Xin hãy nghe thoả thuê giọng Huế
Răng rứa mô ri ríu rít dễ thương
Đơn độc xứ người có ai thỏ thẻ
Để dịu lòng , để vươn dậy , bâng khuâng…

(BMT, 7- 2009)
Tôn Nữ Ngọc Hoa

ĐCN: Bài này đã đăng ở yahoovanhoaviet.com và tạp chí Sông Hương

Con trai của rừng Xa Nu

Con đường năm cây số từ trung tâm xã về làng Kon Riêng lúc chạy vòng theo ven hồ Đac Noa, khi lại men theo những thuở ruộng lúa nước, có chỗ lại luồn dưới bóng xanh mát của rừng xà nu. Nắng trải chiếc chiếu vàng lên mặt hồ, mặt ruộng lung linh, nhưng chỉ lọt thành những tia sáng xanh trong đám lá xà nu dày đặc. Dưới tán rừng tiếng ong bay vi vu hoà trong lời xạc xào của gió, lẫn với tiếng suối róc rách chảy. Thứ hương lá, hương nhựa, hương hoa đặc biệt của xanu nhè nhẹ lan trong không gian. Cũng lạ cho cây xanu, chỉ mọc ở những triền núi dốc đứng cằn cỗi, có khí hậu khắc nghiệt, nhưng rễ cắm sâu vào lòng đất, san sát bên nhau thân nào cũng vươn thắng, lá biếc đến tưởng như không còn cách gì xanh hơn được nữa.

Y Sao từ uỷ ban xã về, nét mặt tươi rói, bước chân đi như chạy. Mọi ngày đi dạy về cô còn lang thang chán, hết ngắt những ôm cúc dại mọc đầy ven đường, lại ngồi hàng giờ trên hòn đá hình đầu cá giữa suối, dầm chân trong nước mát mà lẩm nhẩm hát “Chim Jil tắm bên sông DakBla…” Nhưng hôm nay Y Sao muốn đi cho nhanh về đưa thư cho A Siêng. Thư của A Manh bạn anh ấy gửi từ Buôn Ma Thuột. Trong những đêm ngồi trong bếp lửa, A Siêng thường kể cho anh chị, các cháu và bạn bè nghe những chuyện hồi học trường nội trú dân tộc, trường đại học Tây Nguyên, về những người bạn cùng học ở Dak Lak. Trong đó có A Manh. Với những người chưa bao giờ đi xa như ở làng Kon Riêng này, những chuyện A Siêng kể thật hấp dẫn. Còn Y Sao biết những đêm kể chuyện như thế, A Siêng thường mất ngủ. Ký ức với anh bây giờ sao mà xa vời vợi…Không biết A Manh nói gì, nhưng có thư chắc là A Siêng vui lắm. Anh ít khi nhận được thư từ của ai, kể từ vài năm về đây ở với anh chị. Từ lúc nào không biết, Y Sao đã vui với cái vui của A Siêng, hiểu nỗi buồn của A Siêng thế nhỉ? Cô gọi to ngay từ chỗ cây xoài quẹo vô sân:

– A Siêng! A Siêng à! Có thư của anh A Manh này.

A Siêng quýnh cả hai chân, nhảy bổ từ trong nhà ra , giật lấy lá thư trong tay Y Sao:

– Đâu! Đâu! Đưa coi đi.

Nhưng đọc xong rồi A Siêng thẫn thờ ngồi thụp ngay xuống sân, nét mặt bỗng trở nên đờ đẫn xa vắng dần. Y Sao cuống lên:

– Chị Y Mải ơi, A Siêng làm sao đây?

Chị gái A Siêng chạy vội ra hối hả giục Y Sao cùng đưa A Siêng vô nhà. Cứ như người bị ma lai bắt lạc mất hồn, anh để mặc hai người dìu như kéo đi, đặt lên chiếc giường nhỏ ở góc nhà. Chị Y Mải bảo Y Sao đọc xem lá thư viết gì. Thì ra A Manh dặn A Siêng làm gấp hồ sơ gửi sang trước, rồi người từ từ qua sau để cơ quan phỏng vấn và thử việc.

– Ôi, việc mừng thế này còn gì? Không đi làm bác sĩ cũng được chứ sao. Miễn được vô nhà nước là tốt rồi. Sao A Siêng biết tin này lại buồn thế hả chị Y Mải?

Y Sao ngơ ngác, hết nhìn chị lại nhìn sang A Siêng đang nằm thiêm thiếp nhắm mắt như ngủ. Mãi mà chẳng hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra. Chị Y Mải buồn buồn nói nhỏ:

– Y Siêng tủi cái đầu đó mà. Năm ngoái A Manh cũng đã một lần gửi thư. Nó nói hỏi thăm hoài mới biết A Siêng về đây. Lại hỏi A Siêng đi làm chưa? Có muốn làm việc ở chỗ nó không, để nó nói thử với thủ trưởng, vì bên đó đang cần người. Trúng lúc cuối mùa không còn hột gạo mà ăn. Cả ngày cả nhà đi đào củ trong rừng, nên A Siêng đâu có gửi trả lời cho A Manh. Bây giờ cũng lại giống như hồi đó thôi.

Bỗng hai chị em giật mình thấy A Siêng nhỏm dậy, đập mạnh trán vô tường mấy cái. Chạy vội đến bên, cả hai thấy A Siêng miệng cắn chặt cái chăn, hai bàn tay quắp lại, nước mắt chảy tràn xuống gối.

– A Siêng à, đừng buồn thế em! Mình không đi sang đó được thì thôi. Chắc A Manh nó cũng hiểu mà.

Chị Y Mải vỗ về em. Y Sao nhẹ nhàng vuốt lên tay A Siêng, lần lần gỡ dần những ngón tay đang co quắp cứng ngắc ra. Dưới tác động tình cảm của hai người phụ nữ, thân hình A Siêng lỏng dần, giãn dần ra rồi chợt ngủ thiếp đi. Anh rể cũng vừa về tới, chị Y Mãi vội vàng kể lại cho chồng nghe. Cả ba ngồi quanh bếp lửa, buồn cho A Siêng mà không biết nói gì. Hồi lâu Y Sao đứng dậy:

– Thôi em về đây, chào anh chị.

Nhìn theo bước chân cô gái, chị Y Mãi khẽ thở dài. Chuyện Y Sao thương thầm A Siêng mấy năm nay,ở Kon Riêng ai cũng biết.Hai bên nhà cũng ưng bụng cho hai người thành đôi. Nhưng không biết vì sao A Siêng cứ như tránh né. Mỗi lần có ai nói đến chuyện này, lại im lặng bỏ đi chỗ khác. Xem ý thì không phải thờ ơ với Y Sao đâu, nhưng im im thế miết, ai mà biết ra thế nào chớ. Anh rể mở nắp chiếc nồi trên bếp, ấn thử coi củ đã chín chưa, rồi đậy lại, bỏ thêm mấy cành củi vô bếp, thủng thỉnh nói một mình nghe:

– Tội nghiệp cho cậu quá! Từ đây đi xe ôm ra huyện, từ huyện xuống thị xã Kon Tum rồi qua Buôn Ma Thuột. Cả đi về cũng gần hai trăm nghìn đồng tiền xe. Chưa nói tiền ăn uống nữa chớ. Biết lấy đâu ra bằng đó tiền cho cậu đi.

Cả Kon Plei này đói. Cả xã đói. Trận lũ quét vừa qua đã cuốn đi tất cả lúa lẫn đậu bắp đang còn trên rẫy gần như của cả làng. Số lúa ruộng ít ỏi ngập trong nước hàng tuần cũng thối rụng hết. Y Mải nói với chồng:

– Mình thấy dạo này cậu hay đau đầu lắm. Anh có nhớ bữa hôm đào củ trong rừng, A Siêng cắm đầu xỉu dưới hốc củ không? Không có mấy người cùng đi chắc chết không ai biết rồi. ở nhà cậu cũng lúc đi ra đi vô lờ đờ, có khi lại ngồi im cả ngày không nói câu nào.

– Thì cái tánh cậu ít nói từ xưa. Không nói ra được để ở trong người nó man man là phải thôi. Học đại học ra mà không được đi làm, đi rẫy miết thế này sao chịu nổi.

Có điều, là bác sĩ nên A Siêng biết cách giữ cho thần kinh mình không vượt quá sức chịu đựng có thể. Thấy bệnh tình em như vậy anh chị cũng không dục đi rẫy, đi ruộng, cứ để A Siêng tự làm những gì mà sức khoẻ cho phép. Khi nào cảm thấy sắp lên cơn thì phải về nhà ngay.

Suốt thời gian đó, Y Sao luôn luôn ở bên cạnh A Siêng. Những buổi phải lên lớp thì thôi, rảnh việc là cô lại chạy qua nhà trò chuyện cùng cho A Siêng đỡ buồn. Có một lúc tỉnh táo, A Siêng nói với Y Sao:

– Y Sao cưới chồng đi. Tui biết tình cảm của Y Sao, nhưng đừng có chờ tui làm gì. Y Sao với tui không thành đâu.

– A Siêng nói gì như vậy? Y Sao chưa bao giờ trách anh một tiếng nào mà. Nhưng tại sao A Siêng lại nghĩ hai đứa mình không thành đôi?

– Đừng hỏi tui. Tui không muốn Y Sao bỏ phí những năm chờ đợi. Các bạn gái của Sao không chỉ lấy chồng mà còn có con hai ba đứa rồi đó.

– Nếu A Siêng nói một lời thương Y Sao sẽ chờ tới khi nào cũng được mà.

– Không! Tui không thể!

– Nhưng tại sao? Tại sao chớ?

A Siêng bỏ đi như chạy ra khỏi nhà, để lại Y Sao nước mắt đầm đìa và nỗi buồn không thể nói thành lời. Nóng như lửa. Ngột ngạt không thở được. Một bầy kiến càng cắn trong lồng ngực đau nhói.

* *

*

Nửa khuya, bà Y Vui chuyển bụng sanh, rên la ầm ĩ. Cả nhà cuống quýt. Mưa to.Trạm xá thì xa, lỡ nửa đường sanh biết làm sao? Ông A Sam quýnh lên bảo con:

– Chạy qua nhà cô Y Mải, nói chú A Siêng tới coi dùm mẹ con đi. Nó bác sĩ mà.

Thằng cậu đang lui cui cột võng vào cái đòn khiêng, quát lên:

– Cứ đưa đi trạm xá thôi, thằng A Siêng tâm thần mà, bác sĩ gì.

Bà ngoại đang ngồi cạnh giường giữ tay con gái, nhổ toẹt miếng nước trầu vô vách, ngoái cổ ra bảo:

– A Siêng bác sĩ có bằng chớ. Nó tâm thần có lúc thôi. Cứ chạy qua coi, đang lúc nó tỉnh may ra giúp được mẹ mày.

Thằng nhỏ chạy ào ào. Đêm đen như hũ mực.Gió cứ rit lên trong những tàn cây như tức giận điều gì. Mưa tạt vào mắt xót tới không mở ra được. Con đường bò đi đầy bùn trơn trượt, chốc chốc thằng bé lại ngã cái uỵch, nó tấm tức khóc, dơ cánh tay đầy bùn lên quệt nước mắt chạy tiếp. May quá trong nhà còn ánh lửa. Nó nhào tới đập cửa thình thình:

– Chú A Siêng! Chú A Siêng cứu mẹ cháu với.

A Siêng bật dậy hỏi to.

– Ai kêu gì đêm khuya vậy?

– Mẹ cháu đau đẻ, nhờ chú tới giúp.

Chị Y Mải ngồi dậy từ trong buồng nói vọng ra:

– Khiêng đi trạm xá thôi. Chú Siêng đau mà, làm sao giúp được.

A Siêng quyết định rất nhanh.

– Chị để em đi coi thử. Nếu gay go quá thì em đi cùng ra trạm xá cũng được mà. Chờ chú ra ngay!

Nói rồi A Siêng lục tìm chiếc ống nghe lâu nay vẫn cất kỹ, với lấy chiếc túi nhỏ có vài loại thuốc ít ỏi,hối hả đi theo thằng bé. Từ khi về ở với anh chị, A Siêng chỉ chữa bệnh cho người trong nhà. Đây là lần đầu tiên có người gọi anh đi giúp. Vừa đi A Siêng vừa cố nhớ nhanh những kiến thức về sinh đẻ đã học.

Hơn một tiếng đồng hồ căng thẳng, bà mẹ cũng may mắn sanh dễ, đứa bé gái đã cất tiếng khóc đầu tiên. A Siêng toát mồ hôi ngồi phịch xuống chiếc ghế nhỏ bên bếp lửa, rửa đôi tay trong chậu nước ấm, rồi anh giơ ống tay áo quệt những giọt mồ hôi đầm đìa trên trán. Đến bây giờ anh mới thấy mệt rã rời, đã ngồi xuống rồi mà hai chân vẫn run lẩy bẩy . May quá không có sự cố gì. Ông A Sam ngồi xuống bên A Siêng:

– Cám ơn bác sỹ nhiều lắm. Không có anh, phải đưa đi trạm xá chắc bả sanh rớt giữa đường rồi.

– Không có gì đâu anh, người trong làng giúp nhau thôi mà…

Bà ngoại bọc đứa nhỏ trong tấm chăn thổ cẩm đưa cho A Siêng:

– Cho chú làm cha kết nghĩa này.

Đôi tay run run ôm chiếc bọc ấm áp vô người,đột nhiên một sức mạnh ấm nóng nào từ từ dâng lên trong người A Siêng. Anh như người say ruợu ghè, lâng lâng, choáng váng, siết chặt thân hình bé nhỏ của đứa trẻ vô ngực, nước mắt chảy ròng ròng…

Kể từ buổi tối hôm đó, người trong làng ai có bệnh gì đều chạy tới tìm A Siêng. Lúc đầu anh còn từ chối, viện cớ bệnh đau đầu thường hay tái phát, hoặc không có đồ nghề lẫn thuốc chữa bệnh. Thế là tại nhà Rông có một cuộc họp của làng:

– Bây giờ A Siêng nó chịu chữa bệnh cho người Kon Plei ta, nhưng nhà bác sĩ nghèo quá, không có đồ khám chữa bệnh,không có tiền mua thuốc, ta phải làm sao?

– Già làng cứ nói một tiếng, mọi bếp đều góp tiền lại cho A Siêng làm vốn chữa bệnh có được không?

– Ai có ít nộp ít, ai có bi nhiêu nộp bi nhiêu. Lâu nay có bác sĩ trong làng mà không để chữa bệnh cho mình.

– Hay ta đề nghị xã cho bác sĩ vay vốn xóa đói giảm nghèo?

Cả nhà Rông ồn ào lên:

– Được đấy! Bác sỹ mà nghèo đói thì cũng cần phải giúp đỡ chớ.Trưởng kon plei ngày mai làm giấy đề nghị xã giúp A Siêng thôi.

– Cho vay nhiều nhiều đi, để bác sĩ mua thuốc chữa bệnh luôn…

Vậy là với số tiền hai trăm ngàn bà con cả làng đóng góp và 2 triệu đồng quỹ xoá đói giảm nghèo cho vay, A Siêng đã có thể hàng ngày làm công việc trị bệnh cứu người mà anh mong ước. Khắp mấy Kon Plei quanh vùng, trong xã, rồi người cả xã bên đến tìm anh ngày một đông. A Siêng chẳng nề hà đêm hay ngày, mưa hay bão, xa hay gần, hễ có người gọi là xách túi thuốc đi liền. Bà con tin cậy và yêu mến anh lắm. Cũng may mà hồi đi học, A Siêng ý thức được trách nhiệm của mình nên đã theo đa khoa. Cũng lạ, căn bệnh đau đầu trầm cảm của anh ngày một thưa dần rồi chấm dứt hẳn từ lúc nào không biết. Chỉ có điều, bà con nghèo nên có lúc người khỏi bệnh trả bằng gà, trứng gà, gạo, thậm chí cả bằng bắp, củ mì ,A Siêng cũng nhận. Nhưng anh chẳng có nhiều tiền phụ cho anh chị, cũng không dùng gạo, hay gà đó trả vốn ,lãi cho xã được. Tuy nhiên, được làm nghề của mình đã học là tốt rồi.

* *

*

Vừa sang chích thuốc cho bà Chen, đang chuẩn bị đi rẫy thì chị Y Mải ở ngoài chạy về, hổn hển, vội vã:

– A Siêng đừng đi nữa! ủy ban tới nhà mình bây giờ đấy. Nghe nói có người nhà nước tới tìm em đi làm. Cả A Manh nữa đó!

A Siêng đứng lặng một lúc rồi vô nhà cất cuốc và nón, cẩn thận rửa chân tay, rồi lôi đôi dép da phủ đầy bụi ra lau . Săm soi đám quần áo ít ỏi của mình, anh cố chọn bộ nào có vẻ mới nhất. Tất cả đều may từ thời còn là sinh viên, nhưng bao năm nay ít có dịp mặc đến nên có thể lỗi mốt, nhưng vẫn là những thứ tốt nhất mà anh có. A Siêng muốn xuất hiện trước những người bạn cũ bằng một hình ảnh dễ gây được cảm tình nhất.

Thế mà năm năm đã qua kể từ khi A Siêng nhận được tấm bằng tốt nghiệp Đại học Y khoa Tây Nguyên. Những tưởng mọi lo lắng vất vả của các anh chị và của A Siêng đến đây là chấm dứt. Anh, người đầu tiên của làng Kon Riêng và Kon Đào tốt nghiệp đại học, người dân tộc Sê đăng đầu tiên của cả xã học làm bác sỹ, sẽ là người đẩy lùi mọi bệnh tật trong cộng đồng của mình…

Năm ấy chiến sự diễn ra ác liệt giữa quân giải phóng và chính quyền ông Thiệu. Sau trận bom Mỹ dội xuống thị trấn Tân Cảnh và làng Kon Đào, Già A Nhiên mời hội đồng già làng về nhà rông để bàn một việc lớn. Đêm. Đống lửa giữa nhà rông đã nhóm lên. ánh bập bùng soi lúc mờ lúc rõ những con rùa, con chim khắc nổi và các hình vẽ đủ màu trên những cột kèo. Ghè rượu đã đổ đầy nước. Già A Nhiên uống hết kiang đầu tiên, chuyển tay cho già A Min. Đưa mắt nhìn quanh những khuôn mặt gầy già nua khắc khổ, nhưng vẫn ánh lên những nét tinh nhanh của trí tuệ cộng đồng cả làng,khoát tay một vòng về phía những ngôi nhà đang ngún lửa ở bên ngoài nhà rông, già A Nhiên nói:

– Kon plei mình phải đi khỏi đây thôi. Pháo giải phóng dội uỳnh uỳnh xuống ban đêm. Bom ông Thiệu đổ ầm ầm suốt ban ngày. Không sống nổi nữa đâu.

– Đã có năm bếp bị lửa ăn hết cả nhà lẫn người rồi.

– Nhưng rồi chạy đi đâu bây giờ? Không thể vô rừng được đâu. Quân Việt Cộng ở chỗ nào bom Mĩ ném xuống chỗ đó. Chạy đi chỗ khác cũng là đất của ông Thiệu. Chúa bắt chết mình chết. Chúa cho sống thì được sống. Cứ ở lại đây không được sao?

Già A Min nhả cái cần ra khỏi hàm răng cà sát xuống tận lợi:

– Không được! Phải đi thôi! Người Sê đăng Kon Đào không thể chết, cũng không thể sống mà chống chọi lại bom đạn của cả hai phía. Ta sẽ đi Buôn Ma Thuột, tìm một nơi nào đó để dựng nhà rông, lập làng mới.

Vậy là cả làng gùi cõng nhau chạy sang Đak Lak. Chuyển vài nơi rồi mới ở lại mảnh đất giữa hai con sông nước trong nước đục. Cha mẹ A Siêng đã chết cả trong trận bom Mỹ dội xuống Đak Tô để trả thù Việt Cộng ấy. Bốn anh chị em phải cõng nhau chạy theo họ hàng. Cả làng đi hết ở lại biết sống với ai.

Hơn mười tuổi, A Siêng đã thay anh dắt trâu dẫm ruộng, gánh cả sào mạ cho các chị gái cấy. Thương đứa em út vóc dáng gầy guộc, các anh chị cố gắng động viên A Siêng đi học. Thương anh chị vất vả, A Siêng biết mình phải gắng học sao cho giỏi. Suốt mười hai năm hết học trường huyện, đến trường nội trú dân tộc của tỉnh, A Siêng luôn ở trong nhóm vài người đứng đầu lớp. Việc thi vào đại học Y Khoa những năm đó, không phải là khó đối với A Siêng.

Những năm học đại học, A Siêng đã phải làm đủ mọi việc, vừa học vừa phụ giúp các anh chị nuôi các cháu. Cũng may mấy năm đó, sinh viên người dân tộc thiểu số có học bổng, có bếp ăn ở ký túc xá, nên A Siêng đủ ngày hai bữa ăn. Còn tiền làm cỏ, hái cà phê, kể cả đi quét vôi công trình xây dựng,dạy kèm…anh đều giành mua tài liệu và gửi cho các cháu. Ai chơi gì thì chơi, suốt ngày A Siêng chỉ miệt mài với sách vở và các tua trực.

Tốt nghiệp đại học, trong đầu nóng bỏng bao nhiêu ước mộng. A Siêng đã gõ cửa từ bệnh viện tỉnh cho đến trạm xá xã. ở đâu cũng nhận được câu trả lời “Đang giảm biên chế, làm gì còn định biên để nhận người mới”. Mọi cánh cửa đều đóng. Có nơi nhận hồ sơ, nhưng lần sau đến người ta bắn tin phải nộp 15 triệu mới xong việc. Chúa ôi ! Cả một năm cắm mặt xuống ruộng mới thu được vài chục bao lúa, chưa đủ ăn hết năm cho cả bảy tám người gia đình chị gái. Nhà chỉ có chiếc xe đạp là đáng tiền nhất, anh chị giao cho A Siêng đi học, để có phương tiện lúc rảnh chạy làm thuê, hay ngày nghỉ về làm rẫy giúp anh chị. Cả làng không nhà nào có nổi vài trăm ngàn đồng cất giữ trong nhà, nói gì tới 15 triệu. Hai con sông nước trong, nước đục thay nhau hàng năm dâng nước ngập cánh đồng Ea Yang, năm nào cả xã cũng gặt lúa non chạy lụt. Đến mùa khô cái nắng nơi này cũng dữ dội lắm. Mặt ruộng nứt nẻ , các con suối cạn khô chỉ còn là những dòng bùn loãng. Cá tôm cạn kiệt, hoạ may chỉ còn vài con lươn, trạch rúc sâu dưới bùn đất còn sống được. Người Ea Yang năm nào cũng phải nhận cứu trợ của huyện là thế.

Hai năm lận đận tìm việc và làm ruộng dẫu có dài rồi cũng trôi qua. A Siêng xin anh chị về Kon Tum làm rẫy với vợ chồng chị Y Mải, may ra còn có thể xin được việc chăng. Nhưng anh cũng không có cơ hội nào suốt ba năm cho đến tận bây giờ.

Cài nút chiếc áo màu xanh da trời mà anh vẫn thích, thở sâu một hơi, A Siêng bước ra nhà ngoài. Đông nghẹt. Tíu tít. Ông bí thư xã tươi cười nắm tay A Siêng nói:

A Siêng à! Đài TNVN cho người về xác minh lý lịch và muốn đón cháu về làm phát thanh viên chương trình tiếng dân tộc Sẽ đăng ở Buôn Ma Thuột. Đồng thời huyện cũng có quyết định tiếp nhận cháu làm trưởng trạm y tế của xã. Công việc nào cũng cần thiết cho dân tộc mình. Vậy cháu trao đổi với các anh chị rồi mai cho xã biết ý kiến quyết định có được không?

A Manh nhìn bạn tha thiết :

– Về bên đó lương và nhuận bút dịch ,đọc mỗi tháng cũng được hơn 1 triệu đồng đó A Siêng ạ. Có nhà tập thể ở, không phải đi thuê đâu.

Bác chủ tịch xã góp lời :

– Lương trạm trưởng được vài trăm ngàn. Nhưng cháu vẫn có thể khám bệnh thêm ở nhà mà.

Gần như cả làng tụ tập trong nhà Y Mải, khi nghe nói có cán bộ xã và đài TNVN đến tìm A Siêng. Anh chị Y Mải lúc quay bên này, lúc quay bên kia nghe ý kiến của mọi người. Góc nhà, cặp mắt khắc khoải âm thầm của Y Sao nhìn chằm chặp vô A Siêng như chờ đợi. Rộ lên những lời bàn tán, ồn ào tranh cãi. Chỉ mình A Siêng im lặng.

Cả đêm không ngủ. Anh ra khỏi nhà khi trời chưa sáng, thơ thẩn bên hồ Đak Noa. Mặt trời chưa mọc nhưng tít trên cao, một vòm xanh ngọc đang lan rộng dần, đẩy lùi những đám mây xám, hứa hẹn một ngày nắng đẹp. Đỉnh Ngok Linh thường vẫn khuất trong mây trắng, bỗng hiện rõ, dáng núi mềm mại tạc vào chân trời đang hé lên màu hồng. Quả đồi thấp như gò ngực người đàn bà nằm duỗi dài dưới chân núi ven hồ phập phồng thở trong sương sớm. Sóng vỗ óc ách, những con cá mương nép vô bờ ngủ qua đêm,quật đuôi lách tách vượt vội ra ngoài xa. Một cánh chim lẻ loi liệng mãi trên bầu trời, như muốn dấn sâu vào nỗi cô đơn nên đôi cánh nhỏ không buồn vẫy, cứ giang rộng từ trên cao sà xuống tận sát mặt nước, rồi lại lao vút lên bầu trời thăm thẳm. Như có cánh ná nào bắn vụt mặt trời lên đỉnh núi, ánh sáng chói loà thành một dải lụa vàng trải giữa mặt nước xám bạc lung linh. A Siêng quay người đi trở lại làng. Dưới tán lá xà nu xanh nơi bìa rừng, Y Sao đã đứng đấy từ lúc nào.A Siêng bước nhanh hơn, vươn thẳng người khẽ nói lên thành tiếng “Mình sẽ ở lại!” .

Linh Nga Niê Kdăm

Carlos Santana – Nghệ sĩ guitar của mọi thời đại

Chào các bạn,

Ai trong chúng ta cũng đã nghe Santana dù là ta có biết tên hay không, nhất là hai bản Black Magic Women và Oye Como Va nỗi tiếng từ thời thập niên 70s và vẫn còn thịnh hành ngày nay trên các sàn nhảy Việt Nam.

Carlos Santana, sinh ngày 7.20.1947, là nghệ sĩ guitar người Mỹ gốc Mễ Tây Cơ. Santana bắt đầu nỗi tiếng cuối thập niên 60s đầu thập niên 70s, với ban nhạc do anh lập lấy họ của mình làm tên, Santana, chơi một loại nhạc rock trộn lẫn rock, Salsa và jazz, cùng với đường guitar ngọt lịm bóng bẩy của Carlos, và các nhạc cụ Nam Mỹ như trống congas và timbales.

Trong thập niên 1990s, Santana lại bất đầu một lượt thành công với các bạn nhạc mới, trình diễn chung với các nghệ sĩ hàng con cháu.

Carlos Santana đã thắng nhiều giải Grammy, và được báo Âm Nhạc Rolling Stone đưa vào hạng thứ 15 trong danh sách “100 nghệ sĩ guitar của mọi thời đại.”

Sau đây mời các bạn xem vài videos của Santana:

1. Soul Sacrifice tại Woodstock 1969
2. Black Magic Woman
3. Oye Como Va
4. Europa
5. Santana và huyền thoại Guitar Eric CLapton, tringh bày Jingo
.

Santana – Soul Sacrifice (Woodstock 1969) (Video này có vài hình ảnh không được lịch sự mấy. Nhưng có lẽ cũng nên xem đển biết huyền thoại Woodstock thế nào 🙂 )

.

Santana: Black Magic Woman (2005)

.

Oye Como Va – Carlos Santana

.

Santana – Europa

.

Santana & Clapton – Jingo

.

Văn Thanh, thì ra “dâm vỏ tái lòng”!

Sau 18 năm dạy Trung văn ở Phú Thọ và Nghệ An, Văn Thanh bỏ nghề vào Đắk Lắk làm cán bộ văn hóa thông tin. Lý do được ông trần trụi phơi ra đầu bút :

Tôi cầm phấn lên bảng dạy học trò

Nói theo sách chúng vừa nghe vừa gật

Trang giáo án thêm đường rót mật

Ra giữa đời chát đắng chua cay …

Chất “đồ xứ Nghệ” ngang ngạnh, bộc trực thấm đẫm từ trong ra ngoài khiến Văn Thanh không ngồi yên trên bất cứ cái ghế nào. Người sao thơ vậy, ông luôn chọn được lối riêng thú vị, sắc sảo khi cần phơi bày những góc khuất của xã hội, dù trong đời hay trên trang giấy. Hoặc đùa cợt ngộ nghĩnh “Con chuồn ớt đậu trên cành ớt/ Dẫu đỏ hết mình cũng không thể nào cay”; Hoặc nghiêm khắc đe nẹt “ Thôi đừng ầm ĩ biển ơi/ Một ly nước ngọt cho đời, có chưa ?”; Và hồn nhiên như trẻ nhỏ “ Sáng ra choàng tỉnh dậy / Da trời đầy nếp nhăn/ Thì ra đêm vũ trụ/ Còn suy tư hơn mình” …

Tự làm mọi thủ tục hưu sớm để lui về lo cơm áo gia đình và lo cho … thơ. Loay hoay tập tành mãi mới phục hồi dần thể lực sau một cú tai biến mạch máu não tưởng đã “đi tong”! Thế nhưng ngay trong những năm tháng loay hoay ấy ông đã lần hồi sáng tác, gom góp được cả chục tập bản thảo thơ, tự vẽ bìa phô tô gửi tặng bạn bè đọc chơi. Tập đầu tay in ấn đàng hoàng của ông có tên là “ Quả đắng”. “ Thơ tôi quả đắng trên rừng/ Ai ham của ngọt xin đừng ghé môi !” . Dòng nào trang nào cũng đắng, kiểu “ đắng dã tật”, tốt mà … khó nuốt. Họa sĩ trường phái tả chân sau cả buổi vò đầu chả biết nên trình bày thế nào, bèn tương lên bìa hình vẽ một thứ quả tưởng tượng nhòe nhoẹt, lù xù gai nhọn, trông cứ như con Ếts (AIDS).

Có cậu con trai tài giỏi, họa sĩ Lê Hồng Thao, thành danh ngay trong giới đồ họa,  đang làm việc cho một trong những công ty hàng đầu về kỹ xảo điện ảnh và game 3D ở  Mỹ .  Nhưng con xa bạn gần, Văn Thanh không ngần ngại nhận “ tài trợ kỹ thuật” kiểu tự mày mò từ thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo để “một bước lên đời”, trở thành tác gia tân thời nhất trong giới cầm bút ở Đắk Lắk vì là người đầu tiên ở xứ cà phê xanh mù táo bạo mở blog văn chương. Văn Thanh blog’s đủ loại sáng tác trường ca đoản ca, truyện vừa truyện ngắn, thuần chất chém to kho mặn đọc vừa tếu vừa đau khó lẫn. Trong mớ hàng bày ra chỉ để chia sẻ chứ không bán ấy dễ gặp khá nhiều ảnh tươi mát , thoạt nhìn dễ nghĩ một đằng, đọc phần chữ in kèm hóa ra một nẻo. Ví dụ “ Triết lý của điếm” :

Vẻ đẹp em như một lâu đài/         Lộng lẫy lắm. Em có quyền định giá/Em bán. Em cho. Có gì mà lạ ? Khoa học bán phát minh/ Họa sĩ bán tranh/ Công nhân bán mồ hôi mình/ Lại có kẻ bán cả quyền hành/ Tất cả vì Tiền/ Bán/ Bán…Nghe em nói mà tôi hoảng sợ/ Những người già/ Giờ biết bán chi đây ?

Dấn thêm bước nữa, mới đây ông cho ra lò thêm tập thơ nặng trịch, trên mặt bìa cứng dày cộp in lồ lộ ảnh một nàng khỏa thân, tóc rũ vú chìa, ngồi gục đầu giữa đêm tối dưới cái tên nửa nạc nửa mỡ “Người tình ngoài sổ sách”. Tập tễnh một bên chân di chứng tai biến vác thơ đi , ông oang oang kể, nửa khoe nửa than :

Lắm thằng thấy cái bìa tưởng vớ bở, cứ nằn nì “Bác tặng em với!”. Của đâu cho đủ ?! Anh em giúp phần lớn mà vẫn phải nộp vô hai mươi lăm triệu mới ra được năm trăm bản. “Mỗi câu thơ là một hạt cát/ Trong ngực người bầm tím nỗi đau” chứ đùa à ?

Tôi ghẹo :

– Chính anh viết “ Thơ không được màu mè chưng bán/ Đánh lừa nhau, ru ngủ mọi người” . Vậy mà lần này phải chơi tới ảnh truồng để tiếp thị ư ?

Ông trợn mắt :

Tác phẩm nghệ thuật đoạt huy chương vàng gì gì đó của nghệ sĩ nhiếp ảnh Dương Quốc Định, thằng Tạo nó bảo thế . Chẳng đủ tặng bạn bè, còn đâu mà tiếp thị ?

Dân cá gỗ, Ký ức về cái nghèo, Vóc dáng miền Trung, Đu đủ đực, Tái ngộ Chí Phèo, Con voi một ngà, Đất Ea Sô, Bờm đi chợ WTO, Thiện và ác, Búa và đinh, Gà công nghiệp v.v…Gần ba trăm tên bài nép sau lớp bìa khiêu khích “ dâm vỏ” nhưng “ tái lòng”, dồn nén đầy ứ buồn vui  của quá nửa đời người trung thực thăng trầm.

Không phải bài nào cũng hay, song có thể nhặt ra lắm tứ thơ bất ngờ, thú vị, hàm súc như ca dao thành ngữ. Bút pháp xù xì thô mộc, thường chỉ vài câu ngắn gọn đã bao trọn tình ý thâm sâu. Ví dụ “ Cây bonsai” :

Trăm năm kẹt giữa sứ sành/ Thân nào chẳng sẹo, chẳng thành u chai…

Hoặc “ Lá chè ” : Cứ vò/ Cứ sấy/ Cứ sao/ Cứ đem đun nóng ai nào quản đâu/ Có gì chưa hiểu lòng nhau/ Xin tan vào chén để sau thấm dần…

Hoàng Thiên Nga

Múa rối bóng Thế Giới Tuyệt Vời – A Wonderful World puppet show

Chào các bạn,

Hình như mình đã post show này trước đây rồi, nhưng show hay thì xem lại cũng không sao. Đây là show múa rối bóng (shadow puppet), tao bằng bóng đen của đôi bàn tay trên tường. Người nghệ sĩ trong show này đã thuộc hàng số một trên thê giới, tạo những hình ảnh thật dễ thưởng và nhiều cảm xúc, minh họa cho Louis Armstrong ca bản A Wonderful World.

Cám ơn anh Phan Quang đã gởi link.

Mời các bạn thưởng thức.
.

Chuyện Nàng Thuý Vân

Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa thế giới.
Bậc danh nhân sinh hạ được một cặp sinh đôi tuyệt thế: Thúy Kiều và Thúy Vân.
Cụ cũng gật gù đắc ý:

Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.


Ấy vậy mà số phận hai nàng lại quá khác nhau.

Kiều tiền hung hậu kiết. Kể từ độ bán mình chuộc cha, tính trung bình 20 lạng vàng định giá một năm son phấn kể cũng thua thiệt cho đời hoa ghen thua thắm. Tôi cũng tội thân Kiều. Mà qua cái tao đoạn ấy, đời Kiều kể lên hương. Hai thế kỉ rưỡi trôi qua, Kiều không thôi được các thi nhân xưng tụng, dẫu đôi lúc cũng bị đời mắng mỏ, song cái roi đe nẹt dẫu đau cũng chả bù những lúc được tôn vinh, nhất là khi một nhà thơ lạm quyền chủ tịch tôn Kiều là cái tiết trinh của đời dân tộc:

Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc
Chữ kiên trinh vượt trăm sóng Tiền Đường!

Chế Lan Viên
Ngẫm lại thấy tội nàng Vân.
Một đời thanh xuân hơ hớ, so cô chị dẫu có tủi phấn thẹn hương đôi chút , song cũng hàng quốc sắc thiên hương, mà chẳng được đời chiều. Từ cái đêm trao duyên chẳng đặng chối từ, Vân cứ mất hút vào cõi vô danh, đến cuối hồi soát sổ, Vân mới có cơ hội trình diện một lần nữa, cũng chỉ để làm xong cái phận sự: Mang khối tình cất dùm mà nguyên chủ phát hoàn!

Nguyễn Du kể cũng hay tâm nên giành cho Vân tàng tàng chén cúc dở say ý hẳn để nàng quên đi hờn tủi!

Kể thì cũng tội, hồng nhan chẳng kịp đa truân, chẳng chịu đa tình, thành dở dang quá đỗi. Mười lăm mười sáu cập kê, chưa kịp biết yêu, đã phải vì chị mà mậu đường tình, khuân vác cái duyên hờ của chị. Mà mười lăm năm ấy, nào hạnh phúc cho cam, nuôi nấng cái đấng lang quân vừa kịp bảng vàng bia đá, ngài vội vứt ngang mà đăm đăm tìm kiếm tình xưa, thật đúng cái tình cái cảnh “ thân em bắt tép nuôi cò, cò ăn cò béo cò dò lên cây”. Nghĩ vậy mà khuyên thi nhân nay có mài bút khen cái chí tình của chàng Kim thì xin “ nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay” kẻo tội nàng Vân lăm lắm! Hãy ngẫm xem linh hồn Vân cười khóc thế nào khi nghe đời sau nhạo báng:

Thôi đừng nhắc khúc đàn xưa mờ tỏ
Mảnh vườn khuya em băng lối một mình
Ta không bẻ nhụy đào đêm xuân ấy
Để bây giờ buồn tiếc đến khôn nguôi!

Nguyễn Tiên Khôi

Thôi thì tập làm người nghĩa hiệp mà đi ngược lẽ đời, để chia sẻ cùng Vân đôi điều uẩn khúc.
Một lần đem nỗi băn khoăn này mà tỏ bày cùng một danh sĩ đất Hội An, danh sĩ cười ngạo mà phán bảo:
– Thương tiếc khéo là vô lí, lẽ đời đã dấn một nửa bước chân vào chốn tài hoa ai lại đi thương một cái giải nhì!
*
* *
Thôi đành vậy.

Người viết bài này chỉ là nhất thời cao hứng mà diễn xuôi ý tứ của một thi nhân, Trương Nam Hương, nên có lỗi nào trong bài luận văn vô phép rất mong quí bạn vui lòng tìm đến ông Trương Nam Hương mà cật vấn.

Sau đây là bằng chứng:

TÂM SỰ NÀNG THÚY VÂN

Trương Nam Hương

Lặng nghe lời chị dặn dò
Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh
Chị thương lệ khóc đã đành
Chứ em nước mắt đâu dành chàng Kim.

Ơ kìa sao chị ngồi im
Máu còn biết chảy về tim để nồng
Lấy người yêu chị làm chồng
Đời em thể thắt một vòng oan khiên
Sụt sùi ướt cỏ Đạm Tiên
Chị thương kẻ mất đừng quên người còn
Mấp mô số phận vuông tròn
Đất không thể nhốt linh hồn đòi yêu!
Là em nghĩ vậy thôi Kiều
Sánh sao đời chị ba chiều bão giông
Con đò đời chị về không
Chở theo tiếng khóc đáy sông Tiền Đường.

Em chưa được thế bao giờ
Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim.
Em làm vợ của chàng Kim
Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao
Đắp đầy đêm nỗi khát khao
Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu?

Ý kiến các bạn thế nào?

Nguyễn Tấn Ái

Lê Vĩnh Tài, Nhà Thơ Phố Núi Và Trường Ca Vỡ Ra Mưa Ấm

Chào các bạn,

Dưới đây là bài giới thiệu của chị Huỳnh Huệ về nhà thơ Balme Lê Vĩnh Tài, một thi sĩ dịu hiền và chân thật.  Mình và Phượng gặp Lê Vĩnh Tài năm 1996 tại đêm ca hát ờ nhà Hoàng Thiên Nga cùng chị Linh Nga Niê Kdăm và một số bạn bè khác.  Đêm đó anh em tâm sự cũng nhiều.  Nay có duyên được Huỳnh Huệ nối dây trở lại.

Trường ca Vỡ Ra Mưa Ấm là một trường thi dài hơn 6,500 chữ, về rừng núi, cây lá, con người, tình yêu và những suy tư khắc khoải của Tây Nguyên.  Đây là bản trường ca của một người con ruột rà máu thịt Tây Nguyên, với những thổn thức và nhịp đập con tim của một đứa con dành cho đất mẹ:

Tây Nguyên mênh mang tận cùng máu chảy
mẹ dạy ta nhìn thấy
một bông lúa rẫy cũng khát như người

ôi Tây Nguyên
lá vẫn xanh trong câu thơ lá đỏ
ngày nhiều nắng gió
vàng rơi

Tây Nguyên mênh mang
có những phận người…

Mời các bạn “nghe” lời giới thiệu của chị Huỳnh Huệ về anh Lê Vĩnh Tài. Sau đó, mời các bạn xem đoạn 1 của trường ca Vỡ Ra Mưa Ấm.

Mến,
Hoành
________

Chào các bạn,

Lê  Vĩnh Tài  sinh năm 1966 tại Ban Mê Thuột, Đăklăk, đã có những tháng ngày  khoác áo sinh viên, mặc blouse trắng thực tập tại các bệnh viện ở phố núi. Anh  tốt nghiệp Đại học Y Dược Tây Nguyên nhưng cuối cùng theo nghề kinh doanh và làm thơ.

Với anh, thơ chính là con đường, hành trình, nguồn năng lượng thắp sáng, tìm kiếm bản thể mình, là tình yêu tha thiết cho quê hương, thân phận,  nỗi đau trước những cánh rừng bị tàn phá… Anh đã có nhiều tập thơ được in, từng nhận nhiều giải thưởng văn học địa phương và trong nước : giải văn học nghệ thuật tỉnh Đăklăk, giải Tác phẩm Tuổi Xanh, giải Bút Mới, giải Bách Việt lần 1 tháng 1/ 2009… Trong cuộc hành trình của mình,  Lê  Vĩnh Tài đã đến nhiều nơi của  tổ quốc, từ Nam ra Bắc,  nhưng có lẽ Ban Mê và Tây Nguyên là một cõi đi về, đỉnh điểm và khát vọng của hồn thơ anh  : “Tôi yêu vùng đất đỏ bazan – khát quê nhà. Những bài thơ của tôi như loài hoa cà phê chỉ sống được và tỏa hương trên những triền đồi hoang dã”.

Các tác phẩm của anh gồm :

Tác phẩm:
Hoài niệm chiều mưa, NXB Thanh Niên 1991.
Hạt thóc và Hoa dại (in chung với Uông Ngọc Dậu), 1993.
Lục bát Phượng yêu (in chung với Phạm Doanh), 1994.
Và nỗi nhớ đã bắt đầu với gió, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2004.
Vỡ ra mưa ấm, trường ca, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2005.
Liên tưởng, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2006, Giải thưởng của Liên hiệp các hội VHNT VN 2007.
Đêm & những khúc rời của Vũ, NXB Hội Nhà văn, 2008.
Thơ hỏi thơ, NXB Thanh Niên, 2008.

Góp mặt trong:
Thơ trẻ Việt Nam 1994-1998.
Tuyển 20 năm thơ Sông Hương, 2003.
Tuyển 50 năm thơ Văn nghệ Quân đội.
Thơ Việt Nam, Tìm tòi và cách tân 1975-2005, NXB Hội Nhà văn, 2007.
Huy chương vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, 2001.

Cũng như nhiều  nhà thơ  khác của vùng  đất Tây Nguyên, tình yêu dành cho mảnh đất này, Lê Vĩnh Tài và thơ anh từ những xúc cảm ban đầu  –  nỗi buồn, nỗi nhớ nhung lặng lẽ, khó nắm bắt nhưng rất thực của anh về đất, về người, về đời, về những giấc mơ mỗi đêm “như gió về đập cửa” và “những ngày tháng đã xa như cổ tích” ( Và Nỗi Nhớ Đã Bắt Đầu Với Gió, Nhà xuất bản Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 3.2004) cho đến những nỗi trăn trở, nỗi đau nhức nhối khi rừng chảy máu và bị tàn phá điên cuồng.

Hãy nghe tiếng lòng  thảng thốt :

rừng thành chật chội bước chân của người…
rừng bỏ chúng ta đi

đỉnh núi không còn rừng nhô ra đỉnh vú…
trên rơm rạ đời ta rừng từ giã cõi đời

Còn nhiều để nói về những trăn trở trong thơ của Lê Vĩnh Tài, bởi thơ anh không là cõi mơ xa rời hiện thực, mà là tiếng lòng anh gần gũi  với đất, rừng núi, con người và cuộc  sống của  vùng đất Tây Nguyên huyền thọai này:

tại sao không liên tưởng
hạnh phúc dửng dưng nỗi đau phá
giá oằn vai người nuôi cá basa
mắt người nuôi gà
nỗi kinh hoàng hố chôn dịch cúm
dường như chiều nay
chúng ta quên mất cuộc đời nhiều cánh cửa
cùng đóng lại ước mơ
với một ly cà phê Highland bốn mươi ngàn
khuyến mãi máy lạnh
quên mất ở Tây Nguyên bảy năm rồi cà phê bốn ngàn một ký
khuyến mãi mồ hôi

(Đêm và những khúc rời của Vũ, NXB Hội Nhà văn, 2008)

Nhưng thực ra tác giả vẫn không mất đi niềm hi vọng về một ngày mai sáng, xanh hơn trên mảnh đất đã là máu thịt:

niềm vui Banmê chênh vênh mõm đá
thành phố dịu dàng nỗi đau ngược gió
bay lên.
(Vỡ ra mưa ấm, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2005)

Đọt Chuối Non hân hạnh giới thiệu nhà thơ Lê Vĩnh Tài như một tác giả mới của Đọt Chuối Non qua trường ca Vỡ Ra Mưa Ấm mà anh vừa gửi đến cho Đọt Chuối Non với lời hứa góp mặt thường xuyên vì tình cảm anh dành cho sân chơi – mảnh đất màu của tư duy tích cực , lạc quan yêu đời, và đặc biệt cộng đồng Daklak’s gang.

Các bạn có thể biết thêm về tác giả Lê Vĩnh Tài qua những bài viết giới thiệu khác trên báo, tạp chí và các trang web như bài :  Các khuôn mặt mới 11. Lê Vĩnh Tài tại http://inrasara.com/?p=1912

Hùynh Huệ

Vỡ Ra Mưa Ấm

(đoạn 1)

Những ý nghĩ về em chưa bao giờ lắng xuống
ôi quê hương
cỏ dại bông hoa như những quả chuông màu nắng ngân vang
vùng đất lũ lụt và hạn hán
sáu tháng mùa khô
sáu tháng mặt trời
những sáu tháng mắt cay mờ bụi đỏ
sáu tháng dựng lên tất bật, âu lo
con nước lớn thành con nước nhỏ
quả bầu để khô đựng nước bên trong
lũ lượt thành dòng
nước ở trên gùi chứ không ở dưới sông
lấy được nước mồ hôi nhiều hơn nước
mẹ biết vậy nhưng cách gì khác được

cơn khát khô cong dấu hỏi trong lòng
trốn đâu rồi con suối, dòng sông
sao cóc nghiến răng mà mưa không đến
lúa trên rẫy nghẹn đòng
vỏ trấu thôi chẳng hạt gạo bên trong
nương rẫy rộng mênh mông
mà mẹ đi mót lúa không hạt nào

mặt trời mọc đàng Đông và lặn đàng Tây
đêm cuộn vào trong ngày
cái quầng lửa trở mình qua lại
lăn qua rẫy nương một vệt máu bầm
cầu vồng mơ mưa rợp xuống thân Người
gió và bụi đỡ mặt trời lên cao
như ánh sáng
trong suốt dẫn ta vào giấc mơ
theo lối thang mòn của mẹ

Lê Vĩnh Tài

Tây Nguyên Việt Nam

Chào các bạn,

Mình vừa làm xong PPS Tây Nguyên, để tặng các bạn Tây nguyên, đặc biệt là các bạn Balme yêu quý.

Hoàng Triều Cương Thổ của một thời. Rừng núi bao la tĩnh lặng.

Ban Mê gió nhẹ bước vào đông
Trời đã ngủ quên ánh nắng hồng
Mưa phùn lất phất mềm lối cỏ
Phố nhỏ thơm nồng tách cà phê

    Thơ Minh Tâm

Và những con dốc quanh co

Tiếng ai cười trên dốc nhỏ lao xao.
Hạnh phúc trong tôi quá đổi ngọt ngào!

    Thơ Huỳnh Huệ

Những thác nước đẹp như thác mây

Trên cao đổ xuống một màn
sương trắng bao phủ những hàng núi non

    Thơ Kim Hoa

Những đồi thông, những rừng hoa trong nắng sáng

Hừng sáng mặt trời lên rực rỡ
Trăm hoa đua nở ngát hương bay
Cúc quỳ vàng rực,lung linh sắc
Vi vút thông reo dạ ngất ngây

    Thơ Hồng Phúc

Những con đường nhiều vương vấn

Dốc dài, lối cỏ mù sương
Bao nhiêu kỉ niệm còn vương vấn đời…

    Thơ Trần Can

Làm ta rơi vào chuyện thần tiên

…có phải thiên đường
Nở đầy hoa cổ tích?
Để em bên anh trong một chiều tĩnh mịch
Trao anh, bàn tay em…

    Thơ Kiêm Yến

Tây nguyên của ngày xưa, đất rộng dân thưa, các bộ lạc sống thong dong với rừng xanh.

Ngày nay các dự án xã hội và phát triển kinh tế đã đảo lộn cuộc sống của những người bạn của rừng xanh và làm rừng xanh biến dạng…

Gùi trĩu
Mắt hoang
Lạc lõng chân trần qua phố

Giữa ngã sáu
Bỗng gặp
Mắt hoang chân trần ngơ ngác
Giọt mặn nào
Lòng ta ngấm thật sâu…

    thơ Hoàng Thiên Nga

Tây Nguyên mùa xuân
Trước đoàn xe cây nghiến nát nền đường đất đỏ
Tôi dừng lại
Chân trần
Em khóc
Cầm trên tay đoá hoa rừng bé nhỏ

    thơ Hoàng Thiên Nga

Dù vậy những người con Tây Nguyên vẫn chia ngọt sẻ bùi, cùng ca trong đêm cho những buốt đau và hy vọng của núi rừng

Họ hát nồng nàn
Giọng thầm thĩ yêu thương gọi chân lạc bước
Giọng dào dạt thác nguồn mùa nai gọi bạn
Giọng vút trong vui lúa chín vàng.

Họ hát dịu dàng
Đau đáu nỗi chim không còn rừng biết thả vào đâu giọng hót
Nỗi bazan cây thôi không trĩu quả
Nỗi ai nỡ quên bến nước buôn làng.

    Thơ Tôn Nữ Ngọc Hoa

Mong rằng tất cả chúng ta sẽ cố gắng gìn giữ nét đẹp của rừng xanh cũng như nét đẹp của văn hóa Tây Nguyên.

Mai nầy nếu các bạn có ảnh và thông tin cho mỗi tỉnh của Tây Nguyên, mình có thể làm PPS riêng cho từng tỉnh. Nhưng mình cần các bạn “thổ địa” hướng dẫn làm việc đó.

Chúc các bạn một ngày thênh thang gió núi 🙂

Xin các bạn click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download.

Bình an & Sức khỏe,

Túy-Phượng

.

Trường ca Bini – Cham (Ariya Bini – Cam)

Chào các bạn,

Ariya Bini – Cam là một trong những thi phẩm cổ điển xuất sắc nhất của Chăm, nhưng ít được phổ biến. Nguyên tác và bản dịch Việt ngữ được Inrasara đưa ra lần đầu trong cuốn Văn học Chăm – khái luận, Nxb. Văn hóa Dân tộc, H., 1994.

Ariya Bini- Cam là hồi ký bằng thơ, ghi lại những hồi tưởng và cảm nhận của một hoàng thân Champa (thuộc tiểu quốc Chàm Panduranga, tức là Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay) về tình yêu của chàng với nàng công chúa đến từ Makah (tiểu bang Kelantan, Malaysia), cũng như tình yêu của chàng đối với đất nước trong bối cảnh đặc biệt của lịch sử Champa.

Cuộc tình tan vỡ, đất nước tiêu vong, Arya Bini – Cam là một tuyệt tác văn chương Chăm, thấm đẫm buồn đau và nước mắt…

Đọc bài dịch tiếng Việt ta cũng có thể nhận ra ngay dịch giả vừa là nhà thơ xuất sắc vừa là một học giả uyên thâm. Dịch giả là Inrasara (xem ảnh bên trên), tên thật là Phú Trạm, sinh 957 tại làng Chăm Caklaing – Mỹ Nghiệp, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Công việc đang làm của Inrasara là nghiên cứu văn hóa Chăm; làm thơ, viết văn, dịch & viết tiểu luận – phê bình văn học. Các tác phẩm của Inrasara đến nay gồm có:

Tác phẩm:

Về văn chương

– Tháp nắng – thơ và trường ca, NXB Thanh niên, H., 1996.
– Sinh nhật cây xương rồng – thơ song ngữ Việt Chăm, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1997.
– Hành hương em – thơ, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh., 1999.
– Lễ tẩy trần tháng Tư – thơ và trường ca, NXB Hội Nhà văn, H., 2002.
– Inrasara – Thơ cho tuổi thơ, NXB Kim Đồng, H., 2003.
– The Purification Festival in April, thơ song ngữ Anh – Việt, NXB Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2005.
– Chân dung Cát – tiểu thuyết, NXB Hội Nhà văn, H., 2006.
– Chuyện 40 năm mới kể & 18 bài thơ tân hình thức, NXB Hội Nhà văn, H., 2006.
– Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo, tiểu luận-phê bình, NXB Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2006.
– Song thoại với cái mới, tiểu luận, NXB Hội Nhà văn, H., 2008.

Về nghiên cứu văn hóa Chăm

– Văn học Chăm – Khái luận, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1994.
– Văn học dân gian Chăm – Ca dao, Tục ngữ, câu đố.
+ In lần thứ nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1995.
+ In lần thứ hai: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 2006.
– Văn học Chăm – Trường ca, sưu tầm – nghiên cứu.
+ In lần nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1995.
+ In lần thứ hai: NXB Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2006.
– Từ điển Chăm – Việt (viết chung), NXB Khoa học Xã hội, H., 1995.
– Từ điển Việt – Chăm (viết chung), NXB Khoa học Xã hội, H., 1996.
– Văn hóa – xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại, tiểu luận
+ In lần thứ nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1999.
+ In lần thứ hai: NXB Văn học, H., 2003.
+ In lần thứ ba: NXB Văn học, H., 2008.
– Tự học tiếng Chăm, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 2003.
– Từ điển Việt – Chăm dùng trong nhà trường (viết chung), NXB Giáo dục, H., 2004.

Chủ biên

Tagalau, tuyển tập sáng tác – sưu tầm – nghiên cứu Chăm (10 tập, 2000-09); Tủ sách văn học Chăm (10 tập, đã xuất bản 4 tập).

Giải thưởng chính

– CHCPI – Sorbonne (Pháp), Văn học Chăm I (1995).
– Hội đồng Dân tộc – Quốc hội khóa IX, Văn học Chăm II (1996).
– Hội Nhà văn Việt Nam, Tháp nắng (1997), Lễ tẩy trần tháng Tư (2003).
– Hội Văn học – Nghệ thuật các DTTS Việt Nam, Sinh nhật cây xương rồng (1998), Văn hóa – xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại (2003), Ca dao – tục ngữ – thành ngữ – câu đố Chăm (2006).
– Giải thưởng Văn học Đông Nam Á, Lễ tẩy trần tháng Tư (2005).
– Giải thưởng sách Việt Nam, Từ điển Việt – Chăm (2006).
– Tặng thưởng Work of the Month, Tienve.org, tháng 9.2006.
– Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Trường ca Chăm (2006).

Chúng ta rất biết ơn Inrasara đã dịch Trường Ca Bini – Cam ra Việt văn, để chúng ta có cơ hội thưởng thức một tuyệt tác văn chương Chăm, đồng thời hiểu biết thêm về văn minh Chăm và Chiêm quốc cũ. Hãy cùng nhau hướng lòng đến các anh em Chăm của chúng ta còn lại ngày nay.

Trường ca này gồm 164 câu. Phần tiếng Việt đi trước tiếng Chăm. Trong phần tiếng Việt có một số các ghi chú. Tất cả các chú giải này đều nằm ở cuối phần tiếng Việt.

Thành thật cám ơn anh Trần Can của Balme đã chia sẻ các thông tin quý báu này.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành
.

Những điều trông thấy mà…

Tôi vưà có hai chuyến điền dã tìm hiểu văn hoá cổ truyền của người Mnông ở tỉnh Đak Nông và người K’Ho ở tỉnh Lâm Đồng. Đây vốn là hai tộc người cùng chung ngữ hệ Môn – Khơmer, có rất nhiều điểm tương đồng về nghệ thuật diễn xướng goong – ching (bài bản ching, làn điệu dân ca, dân nhạc) và phong tục tập quán ( kiến trúc nhà, sản xuất nương rẫy, tang ma, cưới hỏi…). Điểm khác nhau cơ bản là: nếu trong chương trình sưu tầm sử thi đã thực hiện ở Tây Nguyên, các nhà khoa học “nhặt” được từ người Mnông hàng trăm tác phẩm trường ca – sử thi (ot, n’trong) đồ sộ, thì hình thức văn học truyền miệng độc đáo này (Yang yao) ở vùng người K’Ho chỉ còn là những trường đoạn đứt gãy. Thậm chí văn hoá truyền thống K’Ho hầu như chỉ lờ mờ trong ký ức người già (từ 70 mùa rẫy trở lên), lớp trung niên (từ 60 tuổi trở xuống) gần như chẳng còn nhớ gì nhiều .Tuối càng thấp thì sự hiểu biết về văn hoá tộc người của chính mình càng ít.

Giáo sư – Tiến sỹ khoa học Tô Ngọc Thanh , Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian VN đã từng có lần xót xa nhận xét “cái nghèo khiến các dân tộc còn giữ được văn hoá truyền thống”. (Điều này dưòng như mẫu thuẫn với một câu ngạn ngữ của người Việt, rằng “phú quý sinh lễ nghĩa” chăng? Bởi các tỉnh, huyện, xã miền xuôi khắp cả nước, chẳng đang đua nhau khôi phục các lễ hội truyền thống đó sao?).

Tuy nhiên, điều tôi muốn đề cập trước hết trong câu chuyện này, chưa phải về văn hoá cổ truyền, mà là về đời sống của hai tộc người tương đối gần gũi về phong tục tập quán, ở hai địa bàn khác nhau vừa nói đến ở trên.

Nói theo kiểu người Tây Nguyên chúng tôi phải tận mắt nhìn, phải tự tai nghe mới tin, thì :

– Đa số gia đình người Mnông ở các huyện Đăk Rlâp, Quảng Khê, Krông Nô, Đăk Song, thị xã Gia Nghĩa…thuộc tỉnh Đăk Nông mà chúng tôi đến, đều chưa thoát khỏi đói nghèo, do sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, thiếu đất. Tuy hầu hết đã chuyển từ nhà tranh sang nhà ván, nhà gạch,mái tôn, nhưng chỉ là những căn nhà cấp 4, diện tích hẹp. Có rất ít thanh niên người Mnông học tới trình độ cao đẳng và đại học.

Trò chuyện cùng chúng tôi, người dân đều có nguyện vọng được có đất để làm rẫy, may ra mới khỏi đói. Thậm chí có vùng còn đề nghị được chuyển cư đi tìm đất. Bà con cũng lý giải việc khó khôi phục lại văn hoá truyền thống, vì mọi lễ nghi, lễ hội đều liên quan tới lương thực, thực phẩm, mà điều đó hiện nay không thể giải quyết được.

– Người K’Ho ở tất cả những nơi chúng tôi đến (Lâm Hà, Lạc Dương, Đức Trọng, Di Linh,Dam Rông) đều có cuộc sống khá hơn hẳn, đặc biệt những nhà làm cà phê, hoặc chuyên canh rau & hoa (những vùng làm lúa tuy không giàu có bằng, nhưng cũng không bị đói). Rất nhiều gia đình xây nhà dạng biệt thự khang trang, đầy đủ tiện nghi (ti vi, bếp ga, máy giặt, tủ lạnh…). Người K’Ho là một trong những dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên có đông trí thức nhất.

Trao đổi điều này với những người nông dân K’Ho mà chúng tôi gặp, bà con đều cho rằng: mặc dù kỹ thuật chưa cao, nhưng do có đất sản xuất, nên thu nhập đủ sống, đủ nuôi con ăn học. Nhưng khi chúng tôi hỏi “con cháu mình biết gì về văn hoá tộc người mình?”, hầu hết đều trả lời “ không biết gì ngoài tiếng nói”. Họ cũng bày tỏ nguyện vọng muốn khôi phục lại văn hoá truyền thống, nhưng hầu hết không hiểu nên giữ lại cái gì, bỏ đi cái gì (bởi đa số là tín đồ đạo Thiên Chúa & Tin lành), nhất là khi không mấy ai còn biết truyền thống văn hoá của mình có những gì, ngoài gong ching vừa được quốc tế công nhận là di sản văn hoá nhân loại, thì ở nhiều vùng đã im tiếng từ vài chục năm nay.

Vậy là hai tộc người thiểu số Tây Nguyên, hai hiện trạng cuộc sống giàu nghèo khác nhau, nhưng đều đứng trước nguy cơ mất hẳn kho tàng văn hoá đã từng rất đồ sộ và có giá trị vô cùng quý báu của mình, mất “di sản văn hoá phi vật thể truyền khẩu của nhân loại”

Trước hết là việc đời sống kinh tế chênh lệch rõ rệt ở hai vùng. Người Mnông nghèo và vẫn bị đói là do thiếu đất sản xuất. Thật khó tin, nhưng đó là sự thật. Chuyện xa hơn một chút, tù trưởng N’Trang Gưh đã từng dẫn 600 người Bih, người Mnông bỏ bon lan lùi sâu vào rừng chống Pháp. Những năm 60 của thế kỷ XX, khi lập vùng căn cứ kháng chiến chống Mỹ, tỉnh Đăk Lak phải động viên một số hộ người Êđê từ Krông Ana bỏ buôn làng quê hương chuyển cư sang, để có thêm dân, vì cơ số người Mnông ở Krông nô quá ít. Cách mạng mà không có dân, không có chỗ dựa , làm sao thành công? Ấy vậy mà ngày nay “số ít” những chủ nhân đích thực ấy, lại không có đủ đất canh tác để đảm bảo đời sống, chỉ no đủ thôi, chưa dám mơ tới giàu có, là sao?

Sau nữa là biện pháp bảo tồn một trong những “vùng văn hoá cồng chiêng” Tây Nguyên thì thế nào nhỉ? Thể theo ý nguyện của bà con, ấy là cần lắm những cán bộ văn hoá là người chính dân tộc mình, để cùng nhau bàn bạc, lựa chọn cái gì phù hợp mà bảo vệ lấy “ nó” cho khỏi mất đi. Đấy, cứ ngoái lại mà xem, nếu là người bản địa tham gia vào chương trình, thì đâu đến nỗi đêm khai mạc cồng chiêng quốc tế ở Gia lai bị đông đảo khán giả chê bai vì sự thiếu tôn trọng chính chủ thể cồng chiêng đến thế? Mà có phải thiếu người đâu? Có tới hai Nghệ sỹ nhân dân chuyên ngành đạo diễn múa là người Bâhnar và Hrê ở đó đấy chứ. Nhưng họ có được nhúng tay vào đâu? Phải mời hẳn một công ty ở Hà Nội vào thực hiện, mới thành công chứ.

Thêm một câu chuyện nho nhỏ : có người tự cho là tâm huyết, có ý thức trách nhiệm, đã đến tận xã Nhân Cơ, nơi đang triển khai dự án Bôxit ở tỉnh Đăk Nông xem tận mắt, rồi về lớn tiếng “mọi người nói sao chứ dự án chỉ lấy có rẫy của 3 hộ Mnông, đã đền bù thoả đáng rồi”. Vâng, nhưng có ai quan tâm đến một cái hồ có tên gọi “cá trê”, nơi mà mỗi năm một lần, các bon Mnông quanh vùng mang theo rượu cần, goong –ching, tụ tập cùng tát cá và ăn uống, múa hát chung ở đó, nay đã bị biến mất không? Xì ! Cái hồ là việc nhỏ.Số tiền đền bù ấy có thể mua được xe máy, xây nhà …tốt quá rồi còn gì? Cái đói nếu có đến là tại bà con không biết mua đất ở đâu mà sản xuất đấy, chứ có phải tại “ ông Boxit ” đâu ???

Buổi sáng đầu tiên chúng tôi ở trang trại Trung Nguyên tại M’Drăk,để bàn về việc chuẩn bị cho Festival cà phê quốc tế tại Đăk lăk năm 2010, một nhóm các nhà kinh tế trẻ, gồm toàn các Tiến sỹ vừa từ Hà Lan, Mỹ, Đài Loan về, đã thẳng thừng nhận xét “Soi lại lịch sử thì người Kinh chỉ giỏi đánh nhau, xâm chiếm đất đai, áp đặt lối sống của mình, chứ không hiểu và không biết cách bảo hộ văn hoá, không tôn trọng văn hoá ngay cả của chính mình lẫn của các dân tộc thiểu số khác ”.

Xin dành sự bình luận cho các bạn ghé qua “nhà” tôi nhé.

Linh Nga Niê Kdăm

Xin lỗi các dân tộc thiểu số

Chào các bạn,

Hôm nay mình muốn giới thiệu đến các bạn một vài mẫu tin thú vị, để chúng ta cùng suy nghĩ.

Ngày 13.2.2008, thủ tướng Úc Kevin Rudd, đại diện chính phủ và nước Úc, chính thức xin lỗi các bộ lạc thổ dân Úc về những chính sách và luật lệ của nước Úc đã “gây bi thảm, đau khổ và mất mát sâu đậm” cho bao nhiêu đời thổ dân đã qua.

Chính phủ Canada liền noi theo gương tốt. Ngày 12.6.2008, thủ tướng Canada Stephen Harper, đại diện chính phủ và nước Canada, chính thức xin lỗi các bộ lạc thổ dân da đỏ tại Canada, về những chính sách và luật lệ của Canada trong quá khứ để “giết chết người da đỏ trong lòng em bé thổ dân”. Thủ tướng nói: “Chính phủ Canada thành thật xin lỗi và xin được các dân tộc thổ dân của đất nước này tha thứ vì đã làm họ thất vọng một cách thâm sâu. Chúng tôi rất hối hận.”

Ngày 6.10.2009 vừa qua, Thượng Viện Mỹ đã thông qua một nghị quyết xin lỗi thổ dân da đỏ Mỹ. Nghị quyết này chưa thể thành luật, cho đến khi được cả Hạ Viện đồng ý, và Tổng Thống ký ban hành. Dù vậy, nghị quyết cũng là một bước tiến đúng hướng.

Sau đây là nguyên văn bản thông báo của Ủy Ban Thượng Viện Mỹ Về Các Vấn Đề Liên Hệ Đến Người Da Đỏ

Để thông tin lập tức
Ngày 6.10.2009

Ủy Ban Thượng Viện Mỹ về Các Vấn Đề Liên Quan Đến Người Da Đỏ

Các Thượng nghị sĩ Brownback và Dorgan hoan nghênh việc Thượng Viện thông qua nghị quyết Xin Lỗi các Bộ Tộc Thổ Dân Mỹ.

Washingonton, DC – Các thượng nghị sĩ liên bang Sam Brownback (Cộng Hòa- Kansas) và Byron Dorgan (Dân Chủ-North Dakota) đã hoan nghênh việc Thượng viện thông qua Nghị Quyết Xin Lỗi Các Bộ Tộc Thổ Dân Mỹ, đề nghị sự xin lỗi của chính phủ Mỹ với Người Da Đỏ Mỹ. “Hành động của Thượng viện hôm nay là một bước tiến lớn cho liên hệ giữa chính phủ liên bang và Thổ Dân Mỹ,” Brownback nói. “Nghị quyết này nhằm tìm hòa giải và đề nghị sự xin lỗi chính thức đối với Thổ Dân Mỹ vì những lựa chọn gây đau đớn mà chính phủ liên bang đã làm trong quá khứ. Với nghị quyết này, chúng ta xác nhận những thất bại trong quá khứ và bày tỏ sự hối hận thành thật.”

Dorgan, chủ tịch Ủy Ban Thượng Viện về Các Vấn Đề Liên Quan Đến Người Da Đỏ, cùng đứng tên tác giả bảo trợ nghị quyết với Brownbach. Dorgan nói, “Rất khó để biết lịch sử của Những Người Mỹ Đầu Tiên [tức là các thổ dân] và chính sách phá hoại mà chính phủ của chúng ta thường dùng đối với họ, mà không cảm thấy tràn ngập buồn rầu và hối hận.”

Nghị Quyết Xin Lỗi Thổ Dân Mỹ được thông qua như một tu chính án cho Dự Luật Quốc Phòng. Nghị quyết này mang lời xin lỗi chính thức từ Nước Mỹ đến các chính quyền thổ dân và người thổ dân trong toàn quốc. Nghị quyết xin lỗi này không phải là sự cho phép, hoặc dùng như là giải quyết cho, các tranh chấp đang có với chính phủ, cũng như không giải quyết nhiều thử thách Thổ Dân Da Đỏ Mỹ đang gặp phải. Một Nghị Quyết Xin Lỗi Người Da Đỏ Mỹ đã được đưa ra Quốc Hội, và đã được Thượng viện thông qua năm 2008, nhưng đã không được thành luật.


Chúng ta có nguyên bản tiếng Anh của thông báo này dưới đây, cũng như một bài báo nói về việc Người Da Đỏ Mỹ tiếp tục làm việc để lobby với chính phủ về việc chính phủ xin lỗi chính thức.

Đó là chuyện đang xảy ra trên thế giới.

Còn chúng ta, chúng ta đã có bao giờ thấy ta đã làm cho bao nhiêu dân tộc thiểu số anh em đau khổ trong quá khứ?

Và chính sách của chúng ta đối với các dân tộc anh em thiểu số hiện nay có nâng đở, ủng hộ, đưa lên, hay chỉ là kéo dài bất công và đau khổ?

Ngày nào chúng ta, như là một dân tộc, thấy là chúng ta cần phải xin lỗi chính thức? Chính phủ chúng ta phải xin lỗi chính thức?

Trong thời gian chờ đợi một câu xin lỗi chính thức, chúng ta có thể làm được gì NGAY BÂY GIỜ để chấm dứt các áp bức vô tình hay cố ý, và để nâng cao tiếng nói, vị thế và quyền lợi của các dân tộc anh em thiểu số trong nước ta?

Hãy thành thật nhìn lại lòng mình và chính sách của mình trước con tim của chính mình và Chúa hay Phật của mình.

Chúc các bạn một ngày thành thật.

Mến,

Hoành

.

For Immediate Release
10/07/09
Email This
Print This
BROWNBACK, DORGAN APPLAUD SENATE PASSAGE OF NATIVE AMERICAN APOLOGY RESOLUTION
WSAHINGTON, DC – U.S. Senators Sam Brownback (R-KS) and Byron Dorgan (D-ND) today applauded Senate passage of the Native American Apology Resolution, which offers an apology from the United States government to American Indians.    “The Senate’s action today is a big step for the relationship between the federal government and Native Americans,” said Brownback.  “The resolution seeks reconciliation and offers an official apology to Native Americans for the hurtful choices the federal government made in the past.  With this resolution we acknowledge previous failures and express sincere regrets.” Dorgan, Chairman of the Senate Committee on Indian Affairs, joined Brownback as co-sponsor of the amendment.  Dorgan said, “It is difficult to know the history of the First Americans and the destructive policies our government has too often followed regarding them, and not be filled with both sadness and regret.  It is appropriate that we, as a nation, express that sorrow and regret with this apology resolution.” The Native American Apology Resolution passed as an amendment to the Defense Appropriations bill.  The resolution extends a formal apology from the United States to tribal governments and Native American people nationwide.  The resolution of apology does not authorize or serve as a settlement of any claim against the United States and does not resolve many challenges still facing Native Americans.  The Native American Apology Resolution has been introduced in previous Congresses, and passed the Senate in 2008, but was not signed into la

.

Local American Indians Call for Formal Apology Print E-mail
By Natalie Bedell
Tuesday, November 24 2009 17:24
While families across the U.S. gather around their household tables this Thanksgiving, local members of the American Indian Society of Washington, D.C. will be meeting up with their own family — each other, for a potluck dinner at the Burgundy Community Center in Alexandria.

powwow Members of the American Indian Society (AIS) of Washington, D.C. celebrate Mother’s Day with a pow wow. (Photo: Courtesy Kathleen Dorn)

But, according to Michael Nephew of Falls Church, their table talk will be less about a pilgrim story of the past and more about catching up with one another.

Nephew, who serves as the organization’s president, saw the American Indian Society (AIS) as an opportunity for American Indians to get together with their brothers and sisters in the community when he moved to the area from New York years ago. He is an enrolled member of the Eastern Band of Cherokee Indians, as well as being part of Seneca and Cayuga.

Nephew first heard the story of Thanksgiving when he was a young boy, but said he “ironically heard very little” about Native American Indian history during his high-school years.

He said the biggest misconception about how Thanksgiving is taught in public schools is the “fighting that occurred shortly afterwards between [the settlers] and Native Americans often goes unmentioned.”

The holiday story traditionally taught in classrooms is a happy one of pilgrims who were befriended by the Natives, taught to hunt and gather and showed their gratitude with a shared meal. However, Nephew recalled a slightly different version of the feel-good tale, one of bloodshed and greed.

“[The settlers] were biting the hand that fed them,” said Nephew, referring to various wars that took place soon following 1621, during which many Natives were killed by colonists.

One thing Nephew believes can heal the wounds of political and social distrust between modern-day American Indians and the U.S. government is a formal expression of remorse from the latter.

“I think there needs to be an apology,” said Nephew, citing the Canadian government’s apology to its indigenous tribes in 1998.

Nephew said he wouldn’t be able to show anyone the land where he played as a kid even if he wanted to.

“People don’t think [the government] is taking away Natives’ land today, but yes, it has happened. And it’s happened in our lifetime,” said Nephew.

And what about those who believe they shouldn’t have to apologize for something they didn’t personally do?

“Well, it might have been their parents, especially in this area, where so many parents are involved with the government at that time. It’s not as far back as some may think,” said Nephew.

AIS Treasurer Mary Sunbeam agreed, challenging President Obama to a second Thanksgiving — to which tribal chiefs are invited to the White House for a peace-offering meal.

“We have not been healed. No president has come forward. We’re not asking for money or retribution,” said Sunbeam, who added that “these kinds of forgiveness need to happen” and that American Indians are looking for it to come from “power sources who’ve been too lax.”

On Nov. 5, President Obama held the first annual White House Tribal Nations Conference at the Department of the Interior. Invited were leaders from each of the federally recognized tribes in the U.S., as Obama signed a memorandum directing “every Cabinet agency to give a detailed plan within 90 days of how … to improve tribal consultation.” A formal apology was not issued.

“At some point, [the U.S. government] needs to say, ‘This is what happened. It wasn’t a good thing for our country. It wasn’t a good thing for the tribal people,’ and to heal the pain where there’s no closure, just open wounds,” said Sunbeam, a member of the Cherokee Nation of the Appalachia tribe.

Aside from her AIS duties, Sunbeam serves as the president of Positive Education, Inc., designing and presenting courses on Native American Indian cultures to schools, businesses and religious organizations.

She said the only Native American education she’s heard of public-school students having are brief mentions during the second and sixth grade, but that “most teachers are not trained in college to teach Native American history.”

“Thank goodness they will call on people like me to teach these things. Even today’s immigrants coming to the U.S. will ask me if I am a real Indian because they’ve been told we’re all dead,” said Sunbeam.

She said the blame, however, doesn’t fall solely on government-run school systems, but equally in the laps of American Indians. Sunbeam added that, unlike the NAACP, the American Indian community has not had enough advocacy for more extensive education.

“We can’t say it’s the government’s fault. Where are we? We don’t have enough activism in our own culture,” said Sunbeam, who hopes to change that through her own curriculum. Her work has been acknowledged by the American Association of Community Colleges with a Northern Virginia Community College Model Program Award.

As far as an organization comparable to the NAACP, Nephew said the Association is racially categorized, whereas “the tribal government is a political entity.”

“Part of the reason why there isn’t something like [the NAACP] for American Indians is people from each tribe have to make sure their particular tribe survives as opposed to recognizing all Natives and trying to lend support to other tribes,” said Nephew.

Still, Sunbeam believes U.S. politics play a critical role in Native American history teachings, or lack thereof, in today’s schools.

“The bottom line is education is political,” said Sunbeam, who suggested the U.S. government incorporate Native American history into the U.S. citizenry test.

michaelnephew Michael Nephew, President, American Indian Society of Washington, D.C. (Photo: News-Press)

As far as Thanksgiving, Sunbeam and Nephew agreed that the holiday’s theme is a bit novel, given that expressing thanks is a culturally embedded part of their everyday lives and not just a one-day event.“What came to be known as the first Thanksgiving was the idea of sharing food for people in need. It wasn’t a kindness thing; it was something you just do. It wasn’t religious, though it became so later on,” said Sunbeam, who added that “giving thanks to God, the great source, for weather to produce a harvest was always part of her culture” growing up.

She recalled being taunted by her peers in grade school for once bringing a dandelion sandwich to school.

“Nowadays, people go to GNC and buy dandelion root, the weed in their yard they find a nuisance. But when I was a kid, I was taught it was nature’s product for organs after the winter time and your body gets sluggish,” said Sunbeam, who garnered more than a few chuckles as a little girl with green stuff in her teeth. Taking the high road even then, she said she looked at it as “their ignorance, and I tried to educate them.”

Nephew recalled being looked to in high school from his peers as a historical fact checker. Still offering up the facts today, he works alongside other AIS leaders, to speak at government agencies and private schools about his culture’s historical footprint.

As far as Sunbeam’s message to open ears she encounters, she said, “Save money on the self-help books. We all have a belly button. We’re all one human race. I’m working on getting that message across.”

There are 564 federally recognized tribes in the U.S. To this day, neither Virginia, Maryland nor Washington, D.C. have federally recognized tribes, leaving people within those tribes ineligible for federal funds ranging from health care to housing assistance.

Both Rep. Jim Moran and Sen. Jim Webb sponsored legislation this year granting federal recognition to six Virginia Indian tribes, which was OK’d by the House in June.

As of Oct. 22, the Indian Tribes of Virginia Federal Recognition Act of 2009 passed in the Senate Committee on Indian Affairs.