Bất lập văn tự… kiến tánh thành Phật

Chào các bạn,

Bồ Đề Đạt Ma, tổ thứ 28 của Thiền tông Ấn độ, và là sơ tổ Thiền tông Trung quốc, có để lại 4 câu thơ tinh yếu của Thiền tông.

Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền
Trực chỉ chân tâm
Kiến tánh thành Phật

Tạm dịch:

Không lập chữ nghĩa
Truyền riêng ngoài dạy
Chỉ thẳng tâm thật
Thấy tánh thành Phật

Không dùng chữ nghĩa, truyền riêng ngoài dạy [thông thường], bởi vì người ta thường dạy bằng chữ nghĩa, và đây là cách không dùng chữ nghĩa.

Chữ nghĩa rất có giới hạn, mù mờ, méo mó, không bao giờ thực sự rõ ràng, lý luận kiểu nào cũng được, cho nên dạy bằng chữ và học bằng chữ, nhiều khi chẳng đi được đến đâu, mà học trò có thể càng học thì càng lạc vì cứ bám chặt vào từ ngữ mà không nắm được “cái thần” mà thầy muốn chuyển tải. Như là cứ chú ý 100% về áo quần của một người, mà chẳng biết gì về người đó.

Các bạn cũng đã kinh nghiệm nhiều về điều này, như khi ta nói một điều mà người khác hiểu ta một nẻo, và sinh ra gây gổ. Trong khoa học quản lý người ta nói “80% các vấn đề của một công ty là vấn đề truyền thông” (80% of the problems of a company are communication problems). Những vấn đề này có hai loại: (1) không nói, và (2) khi nói thì ông nói gà bà hiểu vịt.

Cho nên chữ nghĩa rất có giới hạn. Chúng ta phải dùng chữ nghĩa và lời nói hàng ngày, thì phải dùng. Nhưng cần nhớ, hiểu lầm là chuyện thông thường hơn cơm bữa. Ngay một câu giản dị “Em thông tin cho anh thường xuyên nhé.” Hai tháng sau anh hỏi: “Em làm tới đâu rồi, sao anh chẳng thấy thông tin gì hết? Anh nói thông tin cho anh thường xuyên mà.” “Ô, em tưởng thường xuyên là khoảng 3 tháng một lần.” “Anh nghĩ là 2 tuần một lần thì tốt hơn.”

Trong đời sống tâm linh, mọi thứ đều là trừu tượng, cho nên hiểu lầm có thể xảy ra gần như là trong MỖI câu, đọc một bài 100 câu thì có thể hiểu sai hết 60 câu trong đó, và sai vĩnh viễn, cả đời. (Đó là chưa nói nếu thầy hiểu sai, thì mọi trò đều hiểu sai, và cấp độ sai sẽ càng ngày càng cao với các thế hệ học trò hậu duệ).

Cho nên phải nắm được “cái thần”, cái tinh yếu của bài học, chứ đừng dính vào chữ nghĩa. Phật dạy yêu người thì yêu mọi người, đừng đánh con người ta sặc máu mũi rồi nói: “Em đánh vậy để cho nó một bài học tốt, đó là em yêu người mà.”

Đừng nói yêu người bằng cái miệng, tức là chỉ bằng lời. Nếu bạn yêu vợ bạn, con bạn, thì yêu bằng hành động – về nhà ăn tối thường xuyên, chăm sóc mọi người thường xuyên… Đừng có đi làm đến mức chẳng ai trong nhà thấy được mặt bạn lúc nào, và mỗi năm thấy mặt bạn và bó hoa chỉ vào ngày 8/3.

Vì ngôn ngữ có vấn đề, và nhiều người trên thế giới cứ bám cứng vào từ ngữ để đi lạc vĩnh viễn, Thiền tông có cách dạy “không lời, không chữ.” Mình nghĩ có lẽ vẫn dùng lời để dạy nhau vài điều, nhưng không lệ thuộc vào kinh sách, mà chỉ chú tâm vào người học trò thấy được bản tánh thật của anh ta.

Chỉ thẳng chân tâm. Chỉ thẳng vào trái tim thật của mình. Có người viết là “trực chỉ nhân tâm – chỉ thẳng tâm người”, nhưng có lẽ câu này không đúng, vì chữ nhân (người) bị dư. Đương nhiên là chỉ thẳng tâm người học trò, chẳng lẽ lại chỉ thẳng tâm chó, mèo trong nhà.

Nhưng, chỉ thẳng chân tâm (tâm thật) vì còn có vọng tâm (tâm sai), là tâm còn si mê, suy nghĩ đầy tham sân si, tức là nhiều vọng tưởng (tư tưởng sai). Như là tham tiền, chạy theo chức vụ, chạy theo quyền lực… và cho rằng chạy theo những thứ đó là yêu gia đình mình, hay là hạnh phúc.

Tâm thật là trái tim tinh khiết, đầy yêu thương, trái tim nguyên thủy của mình.

Nhưng ai “chỉ thẳng tâm thật”? Thầy chỉ tâm học trò cho học trò thấy? Hay học trò tự chỉ thẳng tâm mình? Và chỉ thế nào?

Chúng ta có câu chuyện về Bồ Đề Đạt Ma và Huệ Khả, học trò đầu tiên của Bồ Đề Đạt Ma và là tổ thứ 2 của Thiền tông Trung Quốc:

Huệ Khả nói: “Con không an được tâm, xin thầy an tâm cho con.”
Đạt Ma bảo: “Đưa tâm cho ta, ta sẽ an cho.”
Sư đáp: “Con không thấy tâm đâu cả.”
Đạt Ma đáp: “Ta đã an tâm cho con.”

Trong đối thoại ngắn ngủi này, Bồ Đề Đạt Ma đã làm hai việc: (1) chỉ cho Huệ Khả biết mình làm chủ tâm mình, (2) chỉ cho Huệ Khả tìm đến tâm thật của Huệ Khả.

Tâm của con, con chẳng đưa được cho thầy, thì thầy làm gì với tâm con được. Con là chủ của tâm con, con muốn làm gì với tâm con thì con làm. Thầy chẳng làm gì được.

Con chẳng thấy tâm đâu cả, thì con cũng chẳng thấy được cái bất an ở đâu cả. Nghĩa là bất an của con không có thật, đó là vọng tưởng. Và tâm bất an cũng không có thật, đó là vọng tưởng, vọng tâm. Con chỉ cần dẹp vọng tưởng, dẹp suy nghĩ lăng nhăng đi, thì không còn vọng tưởng, thì tâm con sẽ an. Thầy đã chỉ con cách cho tâm an rồi đó. Con làm đi.

Và khi con bỏ hết được mọi thứ lăng nhăng trong đầu làm con bất an như thế, thì đó là tâm thật, chân tâm, tâm Phật của con.

Thầy có thể chỉ trò cách bỏ vọng tâm để thấy chân tâm. Nhưng trò phải là người làm. Trò phải dẹp mọi vọng tưởng, để có thể thấy tâm thật của mình. Thầy không làm thay trò điều đó được.

Cho nên chữ “chỉ” trong “trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật” phải là học trò chỉ thẳng vào tâm thật của trò. Thầy chẳng làm điều đó cho trò được.

Kiến tánh thành Phật. Thấy chân tâm, là thấy được bản tánh của con, vì chân tâm chính là bản tánh. Bản tánh thật của con là Phật, thấy được tánh đó thì thành Phật.

Các bạn, từ nói về hành động quan trọng nhất ở câu này là “kiến” – thấy rõ. Thấy rõ bản tánh thì thành Phật.

Đây là điều rất ít người nắm được. Chỉ “thấy” mà “thành.” Xưa nay có ai nói vậy? Thấy bản tánh của em thì em thành tiến sĩ. Hay thành hoa hậu. Hay thành bác sĩ. Nghe đã khó trôi rồi, nói gì đến thành Phật.

Có lẽ nhiều người nói đến câu này nhưng không hiểu được tầm mức bom hạt nhân của chữ “kiến”. Làm sao thấy mà thành được? Sao mà em soi gương thấy em mà em thành hoa hậu được trong khi ảnh em trong gương thì như cô bé lọ lem?

Nhưng thế giới tâm linh là thế giới của phép lạ, của những điều phi thường.

Em là con vua, nhưng vì vua cha đã bị gian thần giết lúc em còn sơ sinh, em được một cung nữ mang lên miền rừng núi ở, đóng vai mẹ của em, để trốn tránh. Bây giờ em đã 18, bỗng nhiên có nhiều người lạ – tiều phu, thầy thuốc, người bán vải… – thỉnh thoảng đến thăm và nói cho em biết họ trước kia là tướng của cha em, đã nhiều năm trốn tránh, nay em đã lớn khôn, họ muốn em biết em là thái tử và muốn em đứng đầu cho họ để giành lại sơn hà xã tắc vua cha để lại.

Đương nhiên là em chới với vì cảm thấy như mình đang ở trong truyện Phong Thần. Nhưng từ từ em “thấy” được mình là thái tử, “tin” rằng mình là thái tử, và em “hành xử” như thái tử suy tính việc lấy lại cơ đồ cho cha.

Các bạn, chữ “thấy” này không phải là chỉ thấy bằng mắt, hoặc bằng lý luận, hay cả trí tuệ, mà còn là thấy đến mức “tin”. Chưa tin là chưa thấy đến nơi.

Nếu ta tin ta là Phật, thì đương nhiên là ta sống như Phật, với tư duy của Phật, và như thế có nghĩa là thành Phật.

Nếu em tin em là thái tử, mà vẫn hằng đêm đi ăn trộm, thì đương nhiên đó là em chỉ tin bằng cái miệng, chứ chẳng tin bằng cả trái tim, cả trí óc, cả linh hồn. Nếu em tin thật sự, em sẽ bắt đầu hành xử như thái tử với một gánh nặng sơn hà trên vai.

Các bạn, chữ “thấy” với nghĩa “tin” này rất rốt ráo trong đời sống tâm linh, vì nó giúp ta “hành xử” để đến đỉnh điểm cuối cùng.

Nhưng làm sao để thấy thật và sâu được như thế?

Các bạn, có lẽ muốn thấy trái tim thật của ta, thì ta phải có trái tim thật dễ thấy. Nếu trái tim ta còn đầy tham sân si che lấp, có lẽ ta chẳng thể thấy trái tim thật của ta. Phải hết tham sân si che mắt, che trí và che tim, thì ta mới có thể thấy trái tim thật của ta.

Hay nói một cách khác, ta phải có trái tim đầy tình yêu đầy từ tâm rõ ràng, tức là tâm thật của ta, trước khi ta có thể thấy tâm thật của ta.

Nếu tư duy (tức con mắt trí tuệ) của ta tràn đầy tham sân si, thì ta chẳng thể kiến tánh để mà thành Phật được. Muốn kiến tánh thì phải không có tham sân si che mất mắt và che mất tánh.

Cho nên nếu chúng ta chỉ đọc câu “kiến tánh thành Phật” khi trong lòng đầy tham sân si, thì ta chẳng thể kiến và thành gì cả.

Hết tham sân si thì ta không còn gì che mờ mắt và che mờ trái tim. Nên ta có thể thấy (kiến) được trái tim trong sáng, tức trái tim Phật, của mình. Và đó chính là “kiến” được “tánh” của mình – bản tánh nguyên thủy của mình là bản tánh Phật. Và kiến tánh Phật như thế thì thành Phật.

Hay, thực ra là ta đã “thành” Phật rồi, thì mới “thấy” mình thành Phật?

Thiền tông lục tổ Huệ Năng không biết đọc không biết viết, nhưng nghe đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” thì liền giác ngộ. Hay, thật ra, Huệ Năng đã ngộ trong tư duy và hành động rồi, nay nghe câu ấy thì hiểu được câu ấy ngay, vì đó đã là cách sống của Huệ Năng?

Phải chăng ta phải yêu trước khi có thể hiểu được yêu có nghĩa là gì?

Chúc các bạn luôn sống với bản tánh Phật của mình.

Mến,

Hoành

© copyright 2018
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s