Đóng dấu ấn Việt trên thế giới

Chào các bạn,

Mình ở Washington nên thường có cơ hội gặp người từ mọi nơi trên thế giới. Nhưng mình lại tồi về địa lý, cho nên nhiều khi gặp bạn mới, mình rất ngớ ngẩn và thiếu ngoại giao.

“Hi, I am John Lawata. I’m from Fiji.
“I’m Hoanh Tran. Nice to meet you. Sorry I couldn’t catch where you’re from.”
“Fiji. Republic of Fiji Islands.”
“Uhm…”
“You know, Fiji Islands.”
“Yes… yes… Please forgive me for my ignorance. Where is that?”
“We’re in the Pacific. We’re close to Vanuatu to the west, New Caledonia to the southwest, New Zealand’s Kermadec to the southeast, Tonga to the east, Wallis and Futuna to the northeast and Tuvalu to the north.”
“Oh, great. A group of islands in the Pacific!”

Thực thì các tên này, đối với nhiều người chúng ta, nghe cũng giống như nơi nào đó trên mặt trăng, chứ chẳng biết là đó là những quốc gia hải đảo nằm giữa Thái Bình Dương, mà Việt Nam là một phần bờ Thái Bình Dương, láng giềng rất gần.

Rất may là nếu bạn đi khắp nơi trên thế giới, khi nói “Tôi đến từ Việt Nam” thì mọi người đều biết đến Việt Nam. Hai cuộc chiến thắng chống Pháp và Mỹ làm Việt Nam trở thành một quốc gia nổi danh và được thán phục trên thế giới.

Được cả thế giới biết đến tên là một vốn liếng kinh tế chính trị rất lớn. Cho dù Thái Lan có dùng hàng tỉ đô là mỗi năm quảng cáo trên TV thế giới hàng chục năm liền như vậy, thì thế giới vẫn ít người biết về Thái Lan như là Việt Nam, vì học sinh thế giới, nhất là học sinh Mỹ, đều phải học về hai cuộc chiến lớn mà Việt Nam đã thắng–về chiến lược, về qui ước chiến tranh, về sự thay đổi chính trị quốc tế, về chính sách ngoại giao của Mỹ trên thế giới… Khi người khác phải học về ta, thì đó là một vốn liếng kinh tế chính trị lớn ngoài sức tiền bạc có thể mua. Đừng quên vốn liếng vô giá này.

Ít ra là cũng không còn “vô danh”.

Nhưng có lẽ vẫn còn “tiểu tốt”. Vì chúng ta vẫn còn là một quốc gia nghèo kém.

Vây thì, nhiệm vụ của chúng ta vào thời đại này là mang Việt Nam ra khỏi vòng “tiểu tốt” lên đến hàng “đại gia.” Và cuộc “chiến” này sẽ dài hơn, gay go hơn, và đòi hỏi nhiều trí tuệ và quyết tâm hơn hai cuộc chiến trước—Chúng hắn không giỏi đấm đá, nhưng chúng hắn rất giỏi về phát triển.

“Thừa thắng xông lên” là dùng những chiến thắng cũ làm bàn đạp để tiến lên. Chúng ta cần tận dụng tiếng tăm có sẵn của chúng ta để tiếp tục để lại dấu ấn Việt Nam trên cánh đồng quốc tế.

Những vốn liếng truyền thống chúng ta đã có mà người khác chưa có thì cần phải triển để tiếp thị ra ngoài:

1. Văn hóa cổ truyền: Nhất là Phật giáo. Đây là một luồng tư tưởng hòa bình thâm sâu, mà chúng ta là một trong chỉ vài truyền nhân lâu đời. Phật học Việt Nam nên được khôi phục vững mạnh, các học giả Phật học cần được ủng hộ để học tập sâu sắc, với tầm mức có thể dạy lại cho thế giới. (Và ta đang nói chuyện tư tưởng, không phải chuyện xây chùa).

Văn hóa truyền thống của 55 dân tộc anh em cần được bảo vệ và phát triển, để làm mạnh bản chất tâm linh của mỗi dân tộc, và để dùng đó làm nền tảng cho kỹ nghệ du lịch, cho du khách thế giới học được chiều sâu của một quốc gia, hơn là chỉ tắm biển rồi về như là đi mọi nơi khác.

Ngay cả các truyền thống tâm linh và văn hóa mới, như Thiên chúa giáo, có thể tự làm giàu cho chính mình và cho quốc gia mình bằng cách hòa nhập với văn hóa Việt Nam để cho nó một dáng vẻ Việt Nam đặc sắn riêng (như công giáo Việt Nam, tin lành Việt Nam), thay vì nhìn và suy nghĩ rất Tây và rất đối chỏi với văn hóa truyền thống Việt.

2. Võ thuật, nhất là các môn võ Viêt Nam như Tây Sơn Bình Định hay Vovinam nên được khuyến khích xuất cảng.

3. Văn chương: Bao nhiêu năm chinh chiến đau thương với các đại cường mà chúng ta không có được những tác phẩm lớn trên thế giới, thì nhất định là mọi tội tình phải đổ lên đầu ông văn hóa (thay vì kết luận cả nước chúng ta toàn người dốt). Ông văn hóa thích chém đầu chém đuôi, gọt dũa chuyện có thật thành truyện nhi đồng giả tưởng… cho nên không có gì gọi là đáng giá.

Nhưng nguồn hứng khởi thì còn nguyên đó — lịch sử bi thảm và hào hùng, những hùng tráng cộng những lỗi lầm còn thấy đó… Nếu các nhà văn của ta được khuyến khích viết tự do, viết thật, không chỉ viết quàng cáo ba xu, thì nhất định là ta sẽ có những tác phẩm lớn trên thế giới. Điều này chắc chắn 100%. Một giải Nobel cho một nhà văn Viêt Nam cũng giúp kỹ nghệ du lịch nhiều lắm chứ không ít (dù rằng rất tiếc là nhà văn sẽ không được chia tí hoa hồng nào 🙂 ).

4. Thực phẩm (nhà hàng): Các món ăn Việt Nam đã có tiếng trên thế giới. Nếu ta chăm chút vào vệ sinh thực phẩm và nhà hàng, thì nhiều người trên thế giới sẽ muốn đến thăm Việt Nam chỉ để… ăn.

5. Hòa Bình: Thế giới hiện đang nằm trong nhiều cuộc chiến địa phương và quốc tế lớn lao. Dân ta đã biết mùi đau khổ của chiến tranh, văn hoá Việt Nam lại là văn hóa tổng hợp của nhiều văn hóa khác nhau, cho nên Việt Nam có đủ tư cách và khả năng để lãnh đạo các tổ chức và phong trào hòa bình trên thế giới. Chúng ta đủ tư cách làm trung gian điều hợp hòa bình cho nhiều cuộc chiến trên thế giới. Không phải chỉ là các cường quốc mới xây dựng hòa bình được. Thực ra các cường quốc thường là những tay gây chiến. Thế giới cần những tổ chức thứ ba, ngoài cuộc, không thiên vị, không mâu thuẫn quyền lợi, để giúp các bên lâm chiến hòa giải.

6. Made in Viet Nam: Chúng ta muốn thương hiệu “Made in Vietnam” có tiếng tăm trên thế giới, từ con người đến văn hóa đến vật chất. Con người Việt Nam chúng tôi hiền hậu, hiếu khách và dũng mãnh. Văn hóa chúng tôi phong phú, đa dạng và sâu sắc. Hàng hóa chúng tôi sáng tạo, bền rẻ đẹp.

Nói chung là các bạn đừng có ảo tưởng là chúng ta đang có thể thong thả ngủ ngày vì chiến tranh đã xong hơn 30 năm. Chúng ta hiện đang ở trong một vận hội mới với những tranh đấu mới và những cơ hội mới. Đây là một thời kỳ rất kích thích và thú vị. Đã hàng ngìn năm ông cha chúng ta chỉ là một cái bóng trong một góc đất nhỏ của thế giới, chẳng ai biết đến. Nhưng ngày nay, thế hệ đàn anh ngay trước ta đã giúp chúng ta trở thành nổi tiếng trên thế giới. Nhiệm vụ của chúng ta là tiếp tục tiến lên, biến Việt Nam trở thành hùng cường trên thế giới. Đây là một cuộc chạy đua rất thú vị, vì nếu chúng ta quyết tâm, tận lực, và đồng nhất như một, thì không về nhất, nhì, hay ba, chúng ta cũng về rất cao, chẳng thể thua được.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Thứ năm, 15 tháng 4 năm 2010

Bài hôm nay

Giới thiệu bài hát Hallelujah, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, chi Hoàng Khánh Hòa.

Mùi vị , Danh Ngôn, song ngữ, anh Nguyễn Hoàng Long.

Mang theo ánh nắng của chính mình , Danh Ngôn, song ngữ, chị Phạm Thanh Hằng.

Giàu thật sự , Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.

Dừng chân bên đường , Thiền thi, anh Trần Đình Hoành.

Không thay đổi, Trà Đàm, song ngữ, anh Nguyễn Minh Hiển.

Không làm, không ăn , Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.

Người trông cậy được, Trà Đàm, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Giới thiệu bài hát Hallelujah

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu với các bạn một bài hát tên là Hallelujah. Từ hallelujah theo tiếng Do Thái có nghĩa là “Praise His Holy Name”, lời cảm tạ Chúa.

Bài hát Hallelujah được viết bởi ca sĩ – nhạc sĩ Leonard Cohen phát hành trong album Various Positions của ông vào năm 1984. Mặc dù ban đầu bài hát không gạt hái mấy thành công nhưng mấy năm gần đây có rất nhiều các nghệ sĩ bản phối lại bài hát này.

Bài Hallelujah có âm hưởng của nhạc Waltz và thánh ca. Bối cảnh của bài hát là câu chuyện của vua David và nàng Bethesda trong kinh thánh Hebrew (Bible of Judges). Chuyện kể rằng khi nhà vua đang đi dạo trên mái nhà thì bắt gặp nàng Bathesda đang tắm. Bathesda là vợ của Uriah, con của một trong các quân sư của vua David. Vua David đem lòng khao khát Bathesda và đã khiến nàng có thai. Vua David do không muốn nhận tội lỗi của mình đã cố gắng mọi cách buộc Uriah trở về với Bathesda từ chiến trường và hi vọng Uriah nghĩ rằng đứa trẻ là con mình. Nhưng Uriah đã không về và sau đó đã bị bỏ rơi và hi sinh trong chiến trận theo lệnh của vua David. Vua David sau đó cưới Bathesda làm vợ. Hành động bất chính đó của vua David đã khiến Chúa trời phiền lòng nên đã trừng phạt vua David. Đứa trẻ sau khi sinh ra đã bị ốm nặng và qua đời sau vài ngày.

Câu chuyện của vua David và nàng Bathesda là một bài học về sức mạnh của niềm tin, tránh xa tội lỗi và sự trừng phạt thích đáng của Chúa Trời đối với kẻ phạm tội.

Các bạn cùng nghe bản Hallelujah do Cohen trình bày và một số bản phối lại rất thành công như bản của Alexandra Burke. Bài hát này của cô đã đứng đầu bảng xếp hạng các bài hát dịp Giáng Sinh của Anh vào tháng 12 năm 2008. Ngoài ra bản do Il Divo trình bày cũng là một trong những bản mà mình yêu thích nhất vì giai điệu rất nhẹ nhàng.

Chúc các bạn một ngày tươi hồng.

Hoàng Khánh Hòa

Bản gốc do Leonard Cohen trình bày

John Cale

Jeff Buckley

Alexandra Burke

Il Divo

Lời bài hát:

Hallelujah

Now I’ve heard there was a secret chord
That David played, and it pleased the Lord
But you don’t really care for music, do you?
It goes like this
The fourth, the fifth
The minor fall, the major lift
The baffled king composing Hallelujah
Hallelujah
Hallelujah
Hallelujah
Hallelujah

Your faith was strong but you needed proof
You saw her bathing on the roof
Her beauty and the moonlight overthrew you
She tied you
To a kitchen chair
She broke your throne, and she cut your hair
And from your lips she drew the Hallelujah

Baby I have been here before
I know this room, I’ve walked this floor
I used to live alone before I knew you.
I’ve seen your flag on the marble arch
Love is not a victory march
It’s a cold and it’s a broken Hallelujah

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

There was a time you let me know
What’s really going on below
But now you never show it to me, do you?
And remember when I moved in you
The holy dove was moving too
And every breath we drew was Hallelujah

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

You say I took the name in vain
I don’t even know the name
But if I did, well really, what’s it to you?
There’s a blaze of light
In every word
It doesn’t matter which you heard
The holy or the broken Hallelujah

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

I did my best, it wasn’t much
I couldn’t feel, so I tried to touch
I’ve told the truth, I didn’t come to fool you
And even though
It all went wrong
I’ll stand before the Lord of Song
With nothing on my tongue but Hallelujah

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah

Mùi vị

Mùi vị, hầu như hơn bất kỳ thứ gì khác, có sức mạnh gợi nhớ kỷ niệm và thật đáng tiếc rằng bạn sử dụng nó quá ít.

Nguyễn Hoàng Long dịch
.

The sense of smell, almost more than any other, has the power to recall memories and it is a pity that you use it so little.

Rachel Carson (1907 – 1964)

Dừng chân bên đường

Trên đường hành hương
Dừng chân bên hồ vắng
Trời trong xanh
Nước trong xanh
Ném viên sỏi vào mặt hồ tĩnh lặng
Ô những vòng đồng tâm
Của lòng ta gợn sóng
Một cánh hồng hạc
Lao xuống lòng hồ rồi lại vút lên
Mất hút vào quãng trời không
Những vòng sóng lăn tăn
Lại biến tan vào tĩnh lặng
Mây trắng
Lững lờ đáy nước
Tựa gốc phong già
Lá tím gió nắng lao xao
Con đường hành hương đất đỏ
Hun hút dài, hun hút cao
Qua dải đồi chiều
Biến mất sau cánh đồng thông
Về hướng rừng phong chập chùng vách núi

TĐH
LOW, 4;09pm, Wednesday, April 14, 2010

Không thay đổi

Chào các bạn,

Thay đổi là một vấn đề khó khăn. Một số người thay đổi cách nghĩ và cả cuộc đời trong có một giây. Một số người học tiếng Anh dễ như không. Nhưng một số người khác tốn bao công sức hàng tháng năm ròng với bao đau đớn, bao chương trình kế hoạch để thay đổi mà vẫn vô hiệu.

Tại sao vậy?  Tại sao cố gắng “leo dốc” vất vả làm vậy? Hay là cứ nhẹ nhàng yêu giọt nước mưa đang lăn trên má ta  🙂

Sau đây là một câu chuyện về Thay Đổi. Các bạn hãy đọc và cho ý kiến nhé.

Chúc các bạn một ngày dịu dàng,

Hiển.
.

Không thay đổi

“Tôi là một người điên nhiều năm rồi. Tôi lo lắng, trầm cảm và ích kỷ. Mọi người liên tục bảo tôi phải thay đổi đi.

Tôi bực tức lại họ, và tôi đồng ý với họ, và tôi muốn thay đổi, nhưng đơn giản là không thể, bất kể tôi đã cố gắng vất vả thế nào.

Điều làm tôi đau đớn nhất là, như những người khác, người bạn tốt nhất của tôi cứ đòi hỏi tôi phải thay đổi. Do đó tôi thấy bất lực và kẹt bẫy.

Rồi, một ngày kia, anh ấy nói với tôi, “Đừng thay đổi. Tôi yêu bạn đơn giản như bạn bây giờ.” Những từ ngữ đó là âm nhạc cho tai của tôi. “Đừng thay đổi. Đừng thay đổi. Đừng thay đổi… tôi yêu bạn như bạn bây giờ.”

Tôi thoải mái. Tôi sống động. Và đột nhiên tôi thay đổi.
Bây giờ tôi biết rằng tôi không thể thực sự thay đổi cho đến khi tôi tìm thấy ai đó yêu tôi bất kể tôi có thay đổi hay không.”

Đây có phải là cách Chúa yêu con không, Chúa ơi?
.

Don’t change

“I was a neurotic for years. I was anxious and depressed and selfish. Everyone kept telling me to change.

I resented them, and I agreed with them, and I wanted to change, but simply couldn’t, no matter how hard I tried.

What hurt the most was that, like the others, my best friend kept insisting that I change. So I felt powerless and trapped.

Then, one day, he said to me, “Don’t change. I love you just as you are.” Those words were music to my ears. “Don’t change. Don’t change. Don’t change. . . I love you as you are.”

I relaxed. I came alive. And suddenly I changed.

Now I know that I couldn’t really change until I found someone who would love me whether I changed or not.”

Is this how you love me, God?
~ Anthony de Mello, The song of the bird

Không làm, không ăn

Hyakujo, thiền sư người Trung quốc, thường làm việc lao động với các học trò ngay cả khi cả đã tám mươi, dọn vườn, cắt cỏ, tỉa cây.

Các học trò lo lắng thấy vị thầy già làm việc cực quá, nhưng họ biết thầy chẳng nghe lời khuyên của họ mà nghỉ ngơi, nên họ dấu đồ nghề làm vườn.

Ngày đó sư phụ chẳng ăn. Ngày kế tiếp thầy cũng chẳng ăn, và ngày kế tiếp cũng vậy. “Có lẽ thầy giận mình đã dấu đồ nghề,” các học trò đoán, “Mình phải trả lại thôi.”

Ngày họ trả lại đồ nghề, thầy làm việc và ăn như trước đó. Tối đó thầy dạy học trò: “Không làm, không ăn.”
.

Bình:

• Thiền sư già này là Bách Trượng Hoài Hải, đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất, một trong ba người có ảnh hưởng lớn nhất trong Thiền tông–Sư tổ Bồ Đề Đạt Đa, Lục tổ Huệ Năng, Mã Tổ Đạo Nhất.

Sau khi Mã Tổ sáng lập tu viện Tòng Lâm, Bách Trượng Hoài Hải nối tiếp lập ra hệ thống các quy tắc trong tu viện. Chủ trương cuộc sống “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (Ngày nào không làm, ngày đó không ăn) của Bách Trượng từng gặp nhiều khó khăn, bị chỉ trích vì trái với quy củ, giới luật trước đây của người tu hành Phật Giáo, thậm chí có người còn cho sư là kẻ ngoại đạo.

• Thiền tông từ đó trở thành tích cực hơn. Các thiền sư có lối sống “vào đời” rất tích cực. Các vị không chỉ ngồi thiền cả ngày, chẳng làm gì như mọi người lầm tưởng. Thiền có thể thực hành mỗi giây phút, dù ta đang làm việc gì. Thiền không có nghĩa chỉ là ngồi Thiền.

• Ngay trong hàng khất sĩ, khất thực (xin ăn) là một loại tu tập tích cực hàng ngày. Đi khất thực là một công việc khó khăn, để tu tập hạnh khiêm tốn và tĩnh lặng cho mình, đồng thời giúp mọi người thực hành hạnh bố thí.

• “Không làm, không ăn” hay “làm để ăn” là quy luật tự nhiên. “Sống là làm”—đây là một triết lý tự nhiên về hoạt động tích cực trong đời sống.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

No Work, No Food

Hyakujo, the Chinese Zen master, used to labor with his pupils even at the age of eighty, trimming the gardens, cleaning the grounds, and pruning the trees.

The pupils felt sorry to see the old teacher working so hard, but they knew he would not listen to their advice to stop, so they hid away his tools.

That day the master did not eat. The next day he did not eat, nor the next. “He may be angry because we have hidden his tools,” the pupils surmised. “We had better put them back.”

The day they did, the teacher worked and ate the same as before. In the evening he instructed them: “No work, no food.”

# 83

Người trông cậy được

Chào các bạn,

Từ quan trọng nhất khi định điểm một người để tuyển họ vào việc nào đó là “trông cậy được” (reliable). Tất cả mọi nhận xét về đức tính và vốn liếng của người đó—thông mình, hoạt bát, kinh nghiệm…– rốt cuộc quy về một chữ “reliable.” Reliable thì tuyển, không reliable thì không tuyển.

Trong mọi liên hệ khác ở đời cũng chỉ một từ reliable—thương mãi, kinh tế, chính trị, chủ thợ, vợ chồng, bạn trai bạn gái, teamwork, v.v… Một người mà ta có thể sống chung hay làm việc chung thường xuyên là một người có thể trông cậy được. Hắn có thể đẹp trai hay xấu trai, kiêu căng hay khiêm tốn, thông minh hay khù khờ, nhưng nếu trông cậy được là được.

Trông cậy được (reliable, reliability) tối thiều được thành hình nhờ các tính chất sau:

1. Thành thật: Nếu bác không thành thật thì Diêm Vương gặp bác cũng phải chạy, nói chi người.

2. Lời nói chắc chắn: Nói 3 giờ có mặt thì động đất cũng có mặt lúc 3 giờ. Nói là sẽ làm việc gì thì sẽ làm việc đó. Việc gì chưa biết thì nói chưa biết, biết mơ hồ thì nói biết mơ hồ.

Dĩ nhiên là người nói chắc chắn cũng là người thành thật, nhưng đôi khi có người thành thật nhưng lại ăn nói không chắc chắn. Ví dụ: Hắn nói có mặt 3 giờ, thì thế nào hắn cũng có mặt, nhưng có thể là 4, 5 giờ. Tên này rât lỏng lẻo về thời gian.

3. Trung thành: Đã là bạn thì luôn là bạn, không vì bất đồng ‎y’ kiến về việc gì đó mà đổi bạn thành thù, hay vì cả hai mê một cô hoặc giành một chức vị mà không chơi với nhau được nữa, hay bực nhau chuyện gì đó rồi đổi bạn thành thù.

Trung thành không có nghĩa là luôn luôn đồng ý. Trung thành là luôn luôn giữ vững liên hệ nền tảng, dù có bất đồng ý về chuyện gì đó.

Trung thành là không bỏ chạy khi đụng chuyện—khi bạn lên thì là bạn, khi bạn bị đời chối bỏ và ngyền rủa thì ta bỏ bạn. Thế thì ruồi chạy theo mật chứ bạn bè gì. Bạn có nghĩa là: Khi cả thế giới bỏ bạn, bạn có thể đến tựa vào vai mình.

Vợ chồng, thầy trò … cũng vậy.

4. Hiểu ‎ý nhau: Người reliable nghe rất kỹ và luôn cố để hiểu đúng ý người kia và làm đúng ý. Rất ít khi có chuyện “Ồ, em tưởng thế này.”

Người reliable chẳng cần nói nhiều. Nói một từ với nhau là đã hiểu trọn ý.

Nhưng làm sao thực hiện được nghệ thuật hiểu nhau này? Thưa, lắng nghe với sự nhậy cảm của cả con tim và khối óc.

4. Không có ngạc nhiên: Một người reliable không bao giờ làm người kia ngạc nhiên. “Ủa, sao anh làm kỳ vậy?” “Trời, tui đâu có ngờ anh làm việc này.”

Người thường đưa cho bạn ngạc nhiên là không reliable.

Người reliable, nếu có việc gì không rõ thì luôn luôn hỏi lại. Muốn làm gì cũng nói chuyện qua với nhau trước.

Nói chung, người reliable là người nếu làm việc chung với bạn, buôn bán chung với bạn, ngủ chung với bạn, thì bạn luôn cảm thấy an tâm, thấy được thêm đồng minh, thêm sức mạnh; có thể đi chơi xa, để công việc lại cho người này chăm sóc mà không mảy may lo lắng.

5. Không dễ tin việc nhảm. Người reliable là người nếu có người nói xấu với họ về bạn, bạn biết là họ sẽ không tin, vì họ hiểu bạn.

Nếu có người nói xấu bạn mà họ tin ngay thì họ không reliable.

6. Tha thứ: Người reliable dù biết bạn sai cũng không thay đồi tình cảm với bạn, sẽ tha thứ cho bạn, và sẽ vẫn thương yêu bạn.

Nếu đọc đến đây mà bạn vẫn chưa hiểu reliable là thế nào thì theo công thức này: Người reliable nhất với bạn mà bạn đã biết là mẹ bạn. Hãy theo đó mà sống reliable với mọi người.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Thứ tư, 14 tháng 4 năm 2010

Bài hôm nay

Kumbaya – Come by my God, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, anh Nguyễn Minh Hiển.

Học dũng cảm và kiên nhẫn , Danh Ngôn, song ngữ, chị Lê Phan Hiên Vi.

Luôn đặt câu hỏi , Danh Ngôn, song ngữ, chị Lâm Thanh Thanh .

Logic và trí tưởng tượng, Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.

Nguyện Cầu Ân Phúc Cho Em , Thơ, song ngữ, Nhạc Xanh, Video, chị Huỳnh Huệ.

Impression – Cảm Nhận, Thơ, song ngữ, chị Vivian Hoàng Nhất Phương.

Một rổ nước , Trà Đàm, song ngữ, Phạm Hoàng Hiệp.

Chẳng có gì hiện hữu, Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.

Ba điều căn bản cho ta và đất nước, Trà Đàm, anh Trần Đình Hoành.
.

Scholarship, Grants & Jobs

Endeavour Awards for Research, Postgraduate study or research, Vocational education and training, Professional Development and Student Exchanges

Open on 5 April 2010 and will close on 31 July 2010

The Endeavour Awards is an internationally competitive, merit-based program providing opportunities for citizens of the Asia-Pacific region to undertake study, research and professional development in Australia. Awards are also available for Australians to do the same abroad.

The aims of the Endeavour Awards are to:

Deepen Australia’s global engagement in education and research;

Reinforce Australia’s reputation as a high quality education provider and leader in research, innovation and knowledge management;

Enhance language skills and cultural understanding of Australia; and

Provide opportunities for Australian professionals to enhance their skills and knowledge.

As part of Australian Scholarships, the Endeavour Awards promote excellence in education. Australian Scholarships brings together under one umbrella, scholarships administered by the Australian Government Department of Education, Employment and Workplace Relations and AusAID, the Australian Agency for International Development. Australian Scholarships aims to build mutual understanding between Australia and its Asia-Pacific neighbours.

Endeavour Awards for international applicants
Through the Endeavour Awards, the Australian Government provides opportunities for high achieving international students, researchers and professionals to undertake short or long term study, research and professional development in Australia in a broad range of disciplines.

Readmore: http://cambodiajobs.blogspot.com/2008/04/endeavour-awards-for-research.html
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Kumbaya – Come by my God

Chào các bạn,

Vào những đêm mưa gió lạnh giá trong rừng, đoàn người tụ họp bên bếp lửa và họ hát “Kumbaya” hãy đến đây Chúa ơi. Lời hát làm ấm con tim của mọi người, đem đến sức mạnh tinh thần to lớn.

Vào những phong trào đấu tranh giành nhân quyền người Mỹ da đen da trắng những năm 1960s, ca sĩ Joan Baez cũng hát Kumbayah, hãy đến đây Chúa ơi, chúng con đang hát, chúng con đang cầu nguyện, hãy đến đây Chúa ơi.

Bài hát Kumbaya là một bài hát tâm linh Hebrew của người Mỹ châu Phi được sáng tác vào những năm 1930, khởi đầu với tên gọi “Come By Yah”. Yah trong tiếng Hebrew có nghĩa là My God, do đó “Come By Yah” có thể hiểu nghĩa là “Come by My God”, “Come by My God”. Tới năm 1946, mục sư Marvin V. Frey đổi tên bài hát thành “Kumbaya” và bài hát vào những năm 1960 đã trở nên phổ biến với sự sống lại của nhạc folk và là bài hát lửa trại trong đội Scouting và những tổ chức làm việc cho thiên nhiên.

Sau đây mời các bạn nghe ba video của bài hát này. Video đầu do ca sĩ Joan Baez hát vào những năm 1960s. Video thứ 2 là Kumbaya được hát bên lửa trại và video thứ 3 theo hoạt cảnh kinh thánh. Sau đó là lời nhạc.

Chúc các bạn một ngày tinh thần đoàn kết,

Hiển.


Joan Baez – Kumbaya (1980)


“Kum Ba Ya/Take My Hand, Precious Lord”By Lynda Randle (’08)


Kumbaya my Lord
.
Kum Ba Ya

Words: African-American spiritual.
Music: African melody (MIDI, score).
Kum ba yah means “Come by here.”

Kum ba yah, my Lord, kum ba yah!
Kum ba yah, my Lord, kum ba yah!
Kum ba yah, my Lord, kum ba yah!
O Lord, kum ba yah!

Someone’s laughing, Lord, kum ba yah!
Someone’s laughing, Lord, kum ba yah!
Someone’s laughing, Lord, kum ba yah!
O Lord, kum ba yah!

Someone’s crying, Lord, kum ba yah!
Someone’s crying, Lord, kum ba yah!
Someone’s crying, Lord, kum ba yah!
O Lord, kum ba yah!

Someone’s praying, Lord, kum ba yah!
Someone’s praying, Lord, kum ba yah!
Someone’s praying, Lord, kum ba yah!
O Lord, kum ba yah!

Someone’s singing, Lord, kum ba yah!
Someone’s singing, Lord, kum ba yah!
Someone’s singing, Lord, kum ba yah!
O Lord, kum ba yah!

Kum ba yah, my Lord, kum ba yah!
Kum ba yah, my Lord, kum ba yah!
Kum ba yah, my Lord, kum ba yah!
O Lord, kum ba yah!