English Discussion–Poem: Người kể khan

Dear everyone,
Edekekhan
Below is a very good poem from a young Ede school teacher named H’Triem Knul (which I’ve got from chị Linh Nga). Hope that you guys, especially the Daklak gang, will translate this into English (and I will help editing it), so that we will have a nice gift to the author.

To know more about kể khan, please read the VHTT article and the VietBao.vn article following the poem.

Have fun!

Hoanh
.

Người kể khan

Già đang khan
Già say lời kể
Người nghe say lời già
Già kể từ ngày trước
Ngày sau chưa hết lời
Trẻ em đến lúc buồn ngủ
Người lớn đến lúc mỏi lưng
Chỉ có già đau
Khi anh hùng của bài khan ngủ quên
edegirl. không bảo vệ nhà sàn của anh
Già bật tiếng khóc
Khi dân làng của người anh hùng bị bắt làm nô lệ
Giọng già như gió cuốn bụi bay
Giọng già như hổ gầm buổi tối
Giọng già như suối chảy đầu hôm
Già cao giọng giữa nhà
Trẻ em đến phải ngủ dậy mà nghe
Người lớn đến phải thẳng lưng mà nghe
Lời kể trở thành bài ca
Lời kể như hoa ban sớm
Người anh hùng của bài khan như vẫn còn sống
Người anh hùng của bài khan như chưa hề lầm lỗi
Con cháu của người luyến tiếc người không hết
Con cháu của người không trách người một lời
Giọng già kể không bớt bồi hồi
Giọng già kể càng lúc càng say
Chưa đến mùa rượu cần
Đã nghe nồng mùi men
Những anh hùng
Bởi già khan
Bất tử

H’Triem Knul

.

(TT&VH Cuối tuần) – “… Làng Đăk Rơwa bên bờ con sông Đak Bla hiền hòa của Kontum. Làng như một tổ chim nhỏ đậu trên một gành đá hơi nhô ra trên mặt sông ở đoạn này vừa duyên dáng như một cô gái lại vừa thư thái như một cụ già. Cả làng là một tiếng ngân dài nhẹ nhàng và sâu lắng của chính dòng sông kia và những cánh rừng kia, bên này và bên nọ con sông hiền hòa ấy. Nhà rông của làng, có lẽ vào loại nhà rông đẹp nhất hiện nay ở Kontum, cũng rất tài tình, nhỏ thôi nhưng không hiểu tại sao lại tạo cảm giác rất cao, bay bổng mà đằm chắc, mảnh mai và vững chãi. Chính trong ngôi nhà rông ấy tôi đã nghe già làng Đăk Rơwa hát kể sử thi…” (*)

Nhưng đấy là câu chuyện từ hơn 10 năm trước của nhà văn Nguyên Ngọc. Lần này dẫn chúng tôi về lại Kontum, ông bảo: “Còn mấy nghệ nhân hát kể sử thi hay lắm…”

Ngôi nhà rông nơi từng diễn ra những đêm kể khan
Có lẽ một trong những điều kỳ lạ nhất của văn hóa Tây Nguyên nhiều bí ẩn chính là sử thi. Người Êđê gọi đó là khan, người M’nông gọi là Ót Nrông, người Gia Lai gọi Hri, Bana gọi H’ăng mon, còn người Kinh gọi đó là trường ca. Một trong những bản trường ca tráng lệ nhất, gần như học sinh phổ thông nào cũng biết, ấy là Bài ca chàng Đam San – Khan Damsan, từng gây chấn động giới nghiên cứu folklore châu Âu khi nó được phát hiện và xuất bản lần đầu năm 1927 (người phát hiện và sưu tầm, dịch khan Damsan từ tiếng Êđê ra tiếng Pháp là viên Công sứ Pháp cai trị tại Đăk Lăk lúc bấy giờ, Léopold Sabatier.

Năm

1927 cuốn sách được xuất bản tại Paris, do Toàn quyền Pháp P.Pasquier và nhà văn Roland Dorgelès viết lời tựa). Lời ca của khan Damsan đến bây giờ vẫn có thể khiến chúng ta phải nghiêng mình kính nể về sự gợi cảm, sức tưởng tượng và bay bổng của từng con chữ. “Hãy đánh vang lên tiếng chiêng nhịp nhàng, hãy đánh thật êm, cho điệu nhạc vang xa khắp xứ. Hãy đánh lên, tiếng chiêng luồn qua dưới sàn nhà, dâng lên cao và thoát ra từ các xà trên mái nhà; cho con khỉ Hua quên cả nắm lấy cành cây; cho các ác thần và các phù thủy quên làm hại con người; cho con rắn mang bành cuộn mình trong hang phải bò ra nằm dài; cho con hươu phải dừng lại, lắng nghe; cho con thỏ phải ngồi yên dựng ngược tai lên; cho con hoẵng phải dừng lại, trương cổ ra mà quên cả gặm cỏ; cho tất cả đều chỉ còn có thể nghe đến tràn ngập tiếng chiêng nhịp nhàng của Damsan…”(**)

Được dự đoán ra đời vào khoảng thế kỷ 16, khi xã hội Tây Nguyên có những thay đổi lớn do các cuộc chiến tranh giữa các buôn làng và từng được so sánh với thần thoại Hy Lạp, sử thi Tây Nguyên cũng gắn liền với tên tuổi những anh hùng thần thoại của buôn làng Tây Nguyên như Đam San, Đăm Di, Xinh Nhã… Thậm chí sử thi Tây Nguyên còn được đánh giá là nhiều hơn hẳn thần thoại Hy Lạp về dung lượng, với hơn 200 bộ đã được sưu tầm, ghi chép; có những sử thi ngắn mà cũng có tới vài trăm câu, có những sử thi dài tới 30.000 câu, có thể xếp vào loại dung lượng lớn nhất trong văn học dân gian thế giới!

Nhưng sự kỳ diệu của sử thi Tây Nguyên so với nhiều sử thi dân gian các dân tộc khác, cũng giống như sự độc đáo của cồng chiêng Tây Nguyên (xem loạt Di sản văn hóa Tây Nguyên bài 3 và 4), là sức sống đương đại của nó trong các buôn làng: chiêng phải được đánh lên và khan phải được kể, được hát lên. Khan được kể trong những đêm đặc biệt ở nhà rông, với những nghi lễ cũng thật đặc biệt.

Và nhà rông với mái tôn (Ảnh: Trần Công Minh)
“… Đêm trong nhà rông, hầu như cả làng đều có mặt. Mấy ché rượu cần đã được mở. Từng nhóm quây quanh ché rượu. Cười nói lúc râm ran, lúc thì thào. Đủ mọi chuyện, chuyện có con thú lạ nào đó mới xuất hiện trong từng, tiếng kêu lạ, dấu chân lạ, hành tung cũng lạ. Con thú gì? Vì sao nó tìm đến rừng này? Hay một con thú quen không biết bỏ đi đâu lâu lắm rồi nay bỗng đột ngột trở về, đã có người gặp, điềm gì đây? Chuyện mùa tỉa lúa đã bắt đầu, những cơn mưa mong chờ sao còn chưa đến? Chuyện mắng mỏ và khuyên nhủ một cậu con trai mới lớn chưa biết ứng xử cho phải phép với người già. Cả chuyện ngoài Hà Nội vừa nghe được trên đài. Cả chuyện quốc tế nữa, bên Mỹ, bên Tàu… (kiểu này ngôn ngữ đương đại của người Kinh gọi là “tám”). Thỉnh thoảng một cô gái trong một nhóm ở cuối nhà rông bỗng đột ngột cất lên tiếng hát. Rồi tiếng hát chợt tắt, cũng như nó đã chợt bắt đầu… (một kiểu “hát với nhau”?). Nhưng, đến một lúc, có ai đó gõ mạnh mấy tiếng xuống mặt sàn, và như một dấu hiệu đã được thống nhất, các nhóm rải rác khắp nhà bỗng kéo nhau dồn hết về một chỗ: quanh bếp lửa ngay chính giữa nhà rông. Hóa ra nãy giờ nhân vật chính của đêm nay đã ngồi sẵn ở đấy: già làng. Và việc chính đêm nay bây giờ mới khởi sự: già làng sẽ kể sử thi!”.

Ông già gỡ chiếc ống điếu ra khỏi miệng và gõ nhẹ lên hòn đá dùng làm ông đầu rau ở bếp lửa. Tiếng gõ nhẹ nhưng rất âm vang. Im lặng. Ông cụ ngồi thẳng người, đằng hắng lấy giọng và bắt đầu hát. Giọng ông ngân nga, trầm bổng, một điệu nhạc đều đều, đôi khi hơi cất lên một thoảng, lại chùng xuống, đều đều, đến buồn tẻ, nhưng rồi bỗng đột ngột vút lên, cao vọi, đến ngút hơi, và cũng đột ngột như vậy, lại trầm xuống đến thì thầm…

Có kịch nữa. Lời đối thoại được hỗ trợ bằng chuyển động phong phú và liên tục trên khuôn mặt người kể, bằng cả động tác tay, có lúc toàn thân… Thỉnh thoảng ông cụ đứng hẳn dậy, bước đi và vung vẩy tay chân trong một không gian tưởng tượng” (*).

Giống như một giao hưởng, khan cũng có từng chương với những khoảng lặng khá dài. Và cũng giống như một vở kịch, với những nguyên tắc ước lệ rất cao. Một khan như già làng Đăk Rơwa đã kể, kéo dài qua nhiều đêm, có thể 10 đêm như vậy mới xong. “Có một nguyên tắc bất di bất dịch khi hát kể sử thi: đã bắt đầu một sử thi thì mười hay đến mấy chục đêm cũng không bao giờ được bỏ dở. Hết đêm trắng này qua đêm trắng khác, phải hát kể cho tận cùng, phải nghe theo cho đến tận cùng. Bởi, cũng như mọi con người ở trên trần gian và mọi vật trong vũ trụ vô biên này, các nhân vật trong sử thi cũng phải đi cho kỳ hết số phận của mình, không ai được dừng lại dang dở giữa chừng” (*). Nhưng hơn 10 năm đã qua rồi. Vâng, tất cả những câu chuyện kể trên là chuyện của 10 năm trước. Con đường mà hơn 160 năm trước, những nhà truyền giáo Pháp đầu tiên tìm lối lên Tây Nguyên muốn vượt qua phải mất nhiều tháng và nhiều người đã gục ngã, thì giờ đây chỉ mất hơn nửa ngày từ Đà Nẵng và khoảng một ngày đi xe từ TP.HCM. Mọi thứ lao nhanh với tốc độ khiến chính chúng ta cũng phải giật mình. Và cũng giống như mọi con người trên trần gian và mọi vật trong vũ trụ vô biên này, những đêm kể khan đang đi đến đến dấu chấm hết cho số phận của mình…

(*) Trích từ Những chiều kích của rừng – Nguyên Ngọc
(**) Trích Bài ca Chàng Đam San

Phạm Thị Thu Thủy

.

Người kể Khan kỳ lạ ở làng Ghè

Ở làng Ghè (xã Ia Dơk – Đức Cơ) có một người còn trẻ, chưa từng nghe một nghệ nhân nào kể Khan (trường ca, sử thi…) lại bỗng nhiên biết kể 10 Khan rất dài. Các nghệ nhân và dân làng chỉ còn biết gọi anh là “người Yàng”!

Trận ốm kỳ dị

Nguoi ke Khan ky la o lang Ghe
Rơmah Kim. Ảnh: Ngọc Tấn

Rơmah Kim không biết năm mình sinh, chỉ nhớ năm nay vừa tròn 30 mùa rẫy. Kim sinh ra tại làng Sung Kép – xã Ia Kla. Cha mất lúc Kim mới 10 tuổi. Anh chỉ có một em gái đang ở với mẹ.

Vào khoảng năm 1990 Kim lấy vợ. Vợ Kim là Keng – vốn là con của một người Kinh lưu lạc được ông Klit mang về nuôi. Lấy vợ được mấy tháng, Kim theo cánh thanh niên lên biên giới đãi vàng. Một hôm do sơ ý, Keng làm vỡ quả bầu đựng nước. Bị mẹ đánh đuổi, Keng xấu hổ bỏ nhà đi. Khi trở về Kim tìm vợ khắp nơi nhưng không thấy. Mãi sau này trong một lần đi rừng, Kim tình cờ nhìn thấy một bộ xương người. Nhờ chiếc còn lại của bộ xương mà Kim nhận ra đó chính là vợ mình. Năm 1992 Kim lấy vợ khác và về sống tại làng Ghè. Vợ chồng anh giờ đã có 5 con…

Nhìn tướng mạo Kim, khó ai nghĩ là anh là một con người đặc biệt. Kim cao dong dỏng, mái tóc xoăn tự nhiên khá đẹp; da hơi vàng do dấu tích của những trận sốt rét. Mắt Kim không hoạt nhưng khi suy nghĩ để trả lời một điều gì thì ánh lên những tia rất sắc. Kim hay chuyện và có vẻ sôi nổi dù vốn tiếng phổ thông không nhiều bởi Kim không được đi học và ít tiếp xúc với người Kinh…

Ở làng Súng Kép, Kim lớn lên như mọi đứa trẻ bình thường. Chẳng có gì đặc biệt nếu câu chuyện không bắt đầu từ một trận ốm kì lạ vào tuổi 15. Kim vẫn còn nhớ rất rõ, hôm ấy anh sang nhà người bà con ở xã B1 xin củ mì (sắn) về. Nồi mì bắc lên bếp vừa chín, bỗng Kim thấy hoa mắt rồi gục xuống. Qua một đêm vẫn thấy Kim bất động, người nhà tưởng Kim anh đã chết, liền trói heo để chuẩn bị đám ma thì tự nhiên Kim tỉnh lại.

Hai mắt anh đỏ ngầu, miệng lảm nhảm những gì không ai hiểu, Kim chạy khắp làng hùng hổ như tìm đánh ai. Rồi Kim vớ cái bao tải nhét đủ thứ giẻ rách, chổi cùn vắt lên vai chạy vào rừng. Mãi hôm sau, dân làng mới tìm thấy Kim đang ngồi lảm nhảm dưới một gốc cây to. Phải ba người đàn ông khỏe mạnh mới bắt nổi Kim đưa về nhà. Thêm một ngày nằm thiêm thiếp, cuối cùng Kim tỉnh lại và ăn uống bình thường.

Sau trận ốm kì dị đó tự dưng Kim thấy đầu mình như có ai vén sang một bên bức màn tối. Khan ở đâu tự dưng đầy ắp trong đầu Kim. Đầy nghi hoặc, Kim cố nhớ lại những gì đã xảy ra trong lúc ốm. Trong cái đêm mê man đó, Kim đã gặp một ông già. Đó là một người Jrai ăn vận theo lối xưa, bên mình mang một cây mác dài. Ông già dẫn Kim đi hết ngọn núi này đến con suối khác. Sau cùng hai người tới một ngôi làng xa lạ. Ở đó có một đám đông ăn mặc rất đẹp đang ngồi nghe một ông già kể Khan. Ông già bảo Kim ngồi nghe cho đến khi thuộc hết các Khan thì hai người trở về làng cũ. Rồi ông già biến mất…

Kim đem Khan Điêu H’lun kể cho tụi con nít trong làng nghe thử. Chúng nghe say sưa quên cả ăn. Chuyện Kim biết kể Khan lan ra từ đó.

“Người già chịu thua thôi!”

Sử thi, người Kinh gọi là trường ca, người Êđê gọi là khan, người Ba Na gọi là H””ăng mon, người Jarai gọi là H””Rih, người Mơ Nông gọi là Ốt nrông… đã ăn sâu, đã sống, đã phát triển hòa trong không gian sinh tồn ngàn đời của cư dân miền thượng và chính nó đã góp phần làm cho không gian ấy càng trở nên kỳ vĩ. Sử thi không chỉ là huyền thoại. Nó không chỉ tồn tại trong không gian tiền sử mà trường tồn trong đời sống tinh thần của các tộc người, của nhân loại bởi chính những giá trị thẩm mỹ lớn lao của nó. Sử thi là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, là một kho tư liệu về các tộc người thời cổ xưa. Khơi nguồn sử thi chính là con đường tìm về thời tiền sử, tìm về những giá trị văn hóa đích thực của các dân tộc.

(Theo Uông Thái Biểu)

Rơmah Kim đã kể cho tôi nghe chuyện anh trở thành “người Yàng” một cách trung thực. Khó mà nghĩ được một con người quanh năm miệt mài với nương rẫy, ít khi bước chân ra khỏi làng lại bịa chuyện nhằm mục đích gì. Điều này càng được khẳng định khi tôi có dịp tìm hiểu qua các nghệ nhân.

Ở làng Súng Kép – nơi Rơmah Kim sinh ra và lớn lên có một người biết Kim rất rõ – đấy là ông Rơma Mloi. Mloi năm nay đã gần 60 tuổi, nguyên là bộ đội phục viên. Ông cho biết ở làng Súng Kép trước nay duy nhất chỉ một người biết kể Khan – đó là Rơmah Tơ (cha vợ ông). Nhờ cha vợ, Mloi cũng biết một số Khan nhưng những Khan này không giống những Khan Rơmah Kim biết. Hơn nữa Rơmah Tơ đã chết từ năm 1979, và ông cũng chưa thấy Kim nghe ông già kể Khan bao giờ.

“Việc Kim nghe rồi bắt chước người già ở làng là không có. Lúc đó nó còn nhỏ, làm gì đủ trí khôn để nhớ. Còn chuyện nó biết nhiều Khan là thật. Thằng Chel với bọn thanh niên ở làng này đã nghe nó kể lúc đi đào vàng. Nó kể hay đến mức lũ thằng Chel bảo nó cứ ở nhà không phải đi làm, tối cứ khan cho chúng nó nghe là được… Mình nghĩ nó không có tài phép gì đâu, do cái đầu nó mà ra cả thôi”Ông Mloi nói.

Như vậy khả năng còn lại là Rơmah Kim học Khan từ những nghệ nhân bên làng vợ hoặc các làng khác? Thế nhưng điều nghi vấn đầu tiên của tôi đã bị loại trừ khi gặp trưởng thôn Rơlanh Luinh. Ông cho biết làng Ghè trước nay không có ai biết kể Khan. Hơn nữa khi Kim về sống với vợ thì đã biết kể Khan rồi. Hỏi thêm ông Luinh tôi được biết cả vùng này trước nay chỉ có ông Rơmah Jam ở làng Do là biết khan. Ông Jam cũng đã từng nghe Kim kể Khan và biết khá nhiều điều thú vị về Kim.

Ông Jam năm nay đã 75 tuổi, được coi là “cán bộ Cách mạng lão thành” của xã. Nghe hỏi về Kim, ông tỏ vẻ rất thú vị và nói ngay những điều mình nghĩ: “Việc thằng Kim tự nhiên biết Khan như thế, cả đời mình chưa thấy mà cũng chưa nghe ông bà nói bao giờ. Còn tại sao thì mình chịu. Mình chỉ biết sự thật là nó khan rất hay. So với nó thì mình thua xa!”

Là một nghệ nhân có tiếng nhưng ông Jam cũng chỉ biết có bốn Khan (đã được sưu tầm và lưu giữ tại Viện NCVHDG). Ông Jam không giấu nổi sự khâm phục của mình với Kim, và dường như trong tâm tưởng ông cũng tin là Kim có “Yang” thật. – “Những nghệ nhân bình thường như mình, do học từ miệng người khác nên giỏi lắm cũng chỉ nhớ được các Khan ngắn hoặc nhớ không trọn vẹn; khi kể có thể bị vấp. Trong khi thằng Kim có những Khan dài kể tới 2 ngày 2 đêm mới hết. Mà nó kể rất mạch lạc, rất hay, không vấp váp – cứ như là nước mạch ngầm chảy ra!”

Sử thi Tây Nguyên ra đời khi con người chưa có chữ viết. Nó được lưu truyền chỉ nhờ vào khả năng nhớ, diễn và kể của các nghệ nhân. Sử thi Tây Nguyên có không gian sống chủ yếu bên bếp lửa dưới mái nhà rông. Người kể sử thi kể từ đêm này qua đêm khác, người nghe cũng vậy. Nếu ai đã cùng người Tây Nguyên dự một đêm khan sẽ thấu hiểu nỗi đam mê của cư dân bản địa với khan.

(Theo Uông Thái Biểu)

…Đến đây thì xem như sự hoài nghi của tôi về việc Kim học Khan từ một nghệ nhân nào đó trong vùng đã không có cơ sở. Tôi nghĩ đại thể Kim tự dưng biết nhiều Khan cũng tương tự như những hiện tượng mà khoa học đã nói tới: có người không may bị điện giật hay sét đánh, lúc sống dậy quên hết tiếng mẹ đẻ và tự dưng nói được những ngoại ngữ mà mình chưa hề biết.

Theo GS.TS Phan Đăng Nhật thì Rơmah Kim là hiện tượng mà các nhà khoa học nước ngoài gọi là “những yếu tố Shaman trong sử thi”. Những yếu tố Shaman có thể tìm thấy trong sử thi viết của nhiều nước trên thế giới cũng như trong sử thi của nhiều nền văn hóa không có chữ viết ở phương Bắc”. Hiểu một cách đơn giản, nó tương tự như hiện tượng người bị “ốp đồng” sau những biến động về tâm – sinh lý…

“Yang cho mình, mình phải cho lại dân làng”

Dù được mọi người cho là “người Yàng” nhưng Rơmah Kim không nghĩ như vậy. Trái lại anh còn tỏ vẻ không thích khi có người tò mò muốn biết chuyện đời mình. Ở làng Ghè, Kim vẫn sống một cuộc sống bình thường như mọi người: ngày lên rẫy, tối về với vợ con. Kim không mấy khi đi đâu nếu không có người mời anh đi kể Khan cho một đám cưới hay đám ma nào đó.

Kim cho biết hiện anh đang thuộc 10 Khan. Dài nhất là Điêu H”Lun và Nhuốt – Nhoang. Mỗi Khan phải kể tới 2 ngày đêm mới hết. Các Khan còn lại đều có độ dài 1 đêm. Hiện nay tên Rơmah Kim khắp vùng ai cũng biết, bởi vậy người mời anh đi kể Khan ngày càng nhiều.

Này đây là người kể khan. Giọng ông lên bổng, xuống trầm, rồi ông hú, ông hét, ông hát, ông giả giọng của tất cả các nhân vật có trong câu chuyện. Ông bắt chước tiếng chim hót, suối chảy, cọp gầm, mang tác, tiêng khiên đao va nhau, tiếng mũi tên lướt vèo trong gió… Này đây là người nghe khan. Lúc thì tất cả mọi người nghệt mặt ra thẫn thờ; lúc thì bi thảm, xót thương; lúc thì cười lăn cười bò; lúc lại cùng ồ lên ngạc nhiên hoặc phẫn nộ. Cứ như thế sáng theo ngọn lửa, khan kéo dài từ đêm này qua đêm khác.

(Theo Uông Thái Biểu)

Với đồng bào dân tộc, kể khan, đánh chiêng hay đẽo tượng nhà mồ đều không phải là nghề kiếm sống, nó không mang lại lợi ích vật chất nào cho người biết. Bởi vậy Rơmah Kim không bao giờ đòi hỏi gì, ngược lại mỗi lần nhận lời đi kể khan cho ai là một lần Kim phải tốn kém vì phải làm lễ tạ ơn Yàng theo lệ tục. Lễ vật cho mỗi lần thường là một con gà, một ghè rượu. Kim tự mình cúng lễ. Anh gọi tên ông già Glung, cảm ơn ông đã dạy cho mình kể Khan; xin ông phù hộ cho mình và dân làng mạnh khỏe… Ngoài Kim không ai biết đến điều kì dị này: mỗi lần kể Khan Kim đều thấy ông già Glung đến ngồi cạnh. Ông luôn nhắc Kim kể cho đúng, cho hay – nhất là không được bỏ dở nửa chừng. Bởi vậy nếu vì một lý do nào đó mà kể dở thì Kim phải mổ gà làm lễ tạ.

Mỗi đêm Kim kể Khan thật sự là một đêm hội làng. Nhà Kim nghèo, vợ chồng quanh năm vất vả mà vẫn thiếu ăn, có năm thiếu tới bốn tháng. Nhưng mỗi lần thấy bà con kéo đến nghe say sưa là Kim quên hết. Làng Kim không có người quậy phá, ai cũng chăm chỉ làm ăn; biết giữ những gì ông bà để lại – có ai biết một phần cũng là nhờ những đêm trắng nghe Kim kể Khan.

Cách đây ít lâu, Kim vừa đau một trận nặng, phải đi điều trị tận bệnh viện tỉnh. Trong cơn mê sự việc lại tái diễn y như 15 năm trước, chỉ khác lần này Kim không mộng du và chỉ biết thêm 1 Khan. Tôi gặng hỏi nhiều lần nhưng Kim bảo anh phải làm lễ tạ ông già Glung đã mới tiết lộ được.

Lại thêm một chi tiết kì lạ nữa về con người này! Nhưng thôi, điều đó có lẽ nên giành cho các nhà khoa học. Với tôi, những đêm khan của Kim phục vụ dân làng mới đích thực là ý nghĩa!

  • Ngọc Tấn

Việt Báo // <![CDATA[// (Theo_VietNamNet)

Một suy nghĩ 2 thoughts on “English Discussion–Poem: Người kể khan”

  1. Jun Q’s version:
    GIA TELLING KHAN

    Gia is telling khan
    Gia is getting drunk with his words
    Listeners are getting drunk with their Gia
    From the past day to the following day
    Gia’s words haven’t been stopped
    Till kids fall asleep
    Till adults feel backache
    Just only Gia feels hurt
    When the khan’s hero overslept,
    without protecting his on-stilt house.

    Gia bursts into tears
    When the hero’s villagers were under arrest as slaves
    Gia’s voice like the wind blowing and the dust flying
    Gia’s voice like the tiger roaring in the night
    Gia’s voice like the stream flowing in the early morning
    Gia raises his voice so high in the middle of his house
    Kids have to wake up to listen
    Adults have to stretch themselves to listen
    The word becomes a chant
    The word is like a flower at dawn
    The khan’s hero seems to be still alive
    The khan’s hero seems not to make any mistake
    His posterity regretted without him knowing
    His posterity didn’t put any blame on him
    Gia’s voice is unceasingly fretty
    Gia’s voice gets drunk more and more
    Although the season for jar wine hasn’t still come,
    Strong fermentation is already felt
    Heroes
    By Gia’s khan
    Immortal…

    Số lượt thích

  2. Hi Quan & everyone,

    Thanks Quan for the translation. I add my work to Quan’s version to come up with the following version. This is a bit more than normal editing. I work to come up with a gift for the author.

    Everything is self-explanatory, except for one word: Intoxication. I use intoxicating instead of “drunk”, because I want to use a more formal word, to make the scene a bit more formal and extraordinary, in this context.

    One word I am thinking still is whether I should use “rượu cần” instead of “wine” in the English version. “Wine” has very strong feeling in English here. Changing it to ruou can can only weaken its impact.

    Other than that, let’s sit on this for a while to see if we need to change anything , then I will send to chi Linh Nga to be forwarded to the author.

    This is a very simple poem with some very deep meaning.

    Good job, Quan. Thanks! 🙂

    GIA TELLING KHAN

    Gia is telling khan
    Intoxicated by the khan’s verses
    The audience intoxicated with Gia’s voices
    One day to the next
    Gia’s words haven’t stopped
    The kids have fallen asleep
    The adults have felt backache
    Only Gia is hurt
    When the khan hero overslept
    and failed to protect his nhà sàn
    Gia bursts into tears
    When the villagers were captured into bondage
    Gia’s voice–the wind’s rolling the flying dust
    Gia’s voice–the tiger’s roar in the night
    Gia’s voice–the stream’s flow in the sunset
    Gia lifts up his voice in the mid of the house
    So high that the kids have to wake up and listen
    That the adults have to straighten up and listen
    The words become a chant
    Words like flowers in the dawn
    The khan hero seems alive still
    The khan hero seems to have made no mistake
    His descendants miss him till no end
    His descendants have no blame for him
    Gia’s voice unceasingly moving
    Gia’s voice becomes more intoxicating by the time
    The wine season is not yet here
    But the fermentation is already felt
    Heroes
    By Gia’s khan
    Never die

    TDH & Quan Jun translated

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s