Bagan – Myanmar

Kinh đô cổ đại Bagan
Kinh đô cổ đại Bagan

Tuy chỉ là một quốc gia nhỏ bé nằm khiêm tốn bên cạnh người láng giềng khổng lồ Thái Lan, Myanmar lại tự hào được sở hữu một trong những di chỉ khảo cổ lớn nhất, nổi tiếng nhất Đông Nam Á. Đó là Bagan (còn được gọi là Pagan) – cội nguồn của đất nước Miến Điện. Nếu tới Myanmar mà chưa tới Bagan thì chẳng khác nào kẻ khát nước chưa tìm được nguồn nước. Bagan chính là thành phố tôn giáo đặc biệt nhất trên thế giới. Hiện nay ở Bagan vẫn còn tồn tại tới 2.224 trong tổng số 4.446 ngôi đền được xây dựng từ thế kỷ 11 cho tới thế kỷ 13 – bộ bách khoa thư đồ sộ về kiến trúc cổ Miến Điện. Từng là thủ phủ của một vương quốc hùng mạnh, giờ đây Bagan chỉ là thành phố bị dòng chảy của xã hội văn minh “bỏ quên”, nằm lặng lẽ ở tả ngạn sông Ayeyawady hiền hòa. 

Theo lịch sử, trong 12 thế kỷ (kể từ năm 168), 55 vị vua đã kế tiếp nhau trị vì vùng đất này và người có công lớn nhất trong việc biến Bagan thành một trung tâm quyền lực, tôn giáo và kinh tế hưng thịnh là vua Anawrahta (1044 – 1077). Ông đã chinh phục vương quốc láng giềng Thaton, bắt hàng ngàn thợ thủ công Thaton về nước để xây dựng đền chùa, đưa đạo Phật thành quốc giáo. Cũng dưới triều đại Anawrahta, văn tự burman (miến điện cũ) ra đời. Truyền thuyết kể lại rằng, cứ một ngày, ở Bagan lại mọc lên 40 ngôi chùa và ngày nay, bất cứ du khách nào đặt chân tới Bagan cũng bị choáng ngợp trước tài năng của những người thợ vô danh khi xưa, và cả sự cuồng tín của một quốc gia: hàng vạn, có thể là hàng triệu người bỏ công sức, tiền bạc, của cải để dựng lên những công trình vĩ đại với mục đích duy nhất – ngợi ca công đức cùng những giáo lý của Phật tổ từ bi. 

Chùa Shwezigon
Chùa Shwezigon

Trong cái nóng nực, bụi bặm của miền trung Myanmar, dọc theo bờ sông Ayeyawady, từng cụm đền, chùa với những ngọn tháp nhọn hoắt như muốn chọc thủng cả bầu trời xanh ngắt hiện dần ra trước mắt, trên một vùng cao nguyên rộng lớn. Mỗi công trình mang một dáng vẻ, kiểu kiến trúc riêng biệt, hoàn toàn không có sự trùng lắp. Tuy nhiên, hầu hết đã mất đi màu trắng tinh khôi của lớp tường vôi ban đầu, thay vào đó là màu đỏ thẫm hoặc bị xỉn đi bởi lớp bụi dầy do những cơn gió dữ dội trong mùa khô mang tới. Không có nhiều màu xanh trên cao nguyên này, chỉ toàn cọ và những thân xương rồng khẳng khiu, đầy gai nhọn. Thỉnh thoảng mới có một cơn mưa ngắn ngủi, không đủ để gột rửa sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Hiếm hoi lắm mới thấy được ánh vàng rực rỡ còn sót trên một đỉnh chóp. Ấy vậy mà từ năm 1300, khi cư dân cuối cùng rời khỏi Bagan, những ngôi đền chùa này vẫn đứng sừng sững, trơ gan cùng tuế nguyệt, ngắm nhìn cảnh bể dâu, xem vật đổi sao dời. Một sự may mắn lớn dành cho hậu thế.

Với những người lần đầu tiên tới Bagan, có lẽ chùa Shwezigon nằm ở khu vực ngoại ô là thắng cảnh để lại nhiều ấn tượng nhất. Bản thân nó cũng giữ một vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chùa ở Myanmar, chẳng kém gì Chùa Vàng (Shwedagon) ở thủ đô Yangon. Shwezigon là ngôi chùa đầu tiên của quốc gia Miến Điện xưa được xây dựng theo lối kiến trúc Phật giáo tiểu thừa. Hơn thế, nó còn là nơi lưu giữ Xá lợi phật – bao gồm hai mẩu xương và phiên bản của một chiếc răng.

Những điều bí ẩn ở ngôi chùa này cho đến ngày nay vẫn làm đau đầu các nhà khoa học, còn hàng triệu lượt du khách đến viếng thăm Shwezigon chỉ biết lắc đầu khâm phục mà thôi. Bạn có biết rằng, dù là sáng, trưa hay chiều, chiếc bóng khổng lồ của Shwezigon chẳng bao giờ đổ qua bốn bức tường bao bọc. Và bất chấp những cơn gió cuồn cuộn, vô số mẩu giấy rơi xuống từ đỉnh tháp dát vàng cũng không bao giờ bay qua những bức tường kia. Đó thực sự là một ranh giới vô hình ngăn cách Shwezigon với thế giới phàm tục bên ngoài. Và bất cứ ai đã một lần tới đây cũng phải thừa nhận, dù lượng khách viếng thăm Shwezigon có nhiều tới cỡ nào thì họ cũng không hề cảm nhận được sự đông đúc trong bốn bức tường bao. Luôn là cảm giác vắng vẻ, u tịch của chốn đình viện thâm nghiêm. Không chỉ có vậy, trong các dịp lễ hội cử hành ở đây, người ta đã phát hiện ra rằng, đứng ở phía bên này của chùa thì chẳng thể nghe thấy bất cứ một âm thanh nào từ phía bên kia, kể cả tiếng trống rền vang. Và ngay cả những trận mưa dầm dề kéo dài hàng tuần cũng không thể làm nước đọng lại ở bất cứ góc nhỏ nào trên khoảng sân trong của chùa. Còn cây sơn trà trồng ở góc chùa phía Đông Nam thì tươi tốt và ra hoa quanh năm. Điều cuối cùng là dù được xây trên khoảng đất bằng nhưng nhìn từ xa, du khách luôn có cảm giác chùa đứng sừng sững trên một ngọn đồi nhỏ. Thật là kỳ diệu. 

Đền Anada
Đền Anada

Hai ngôi đền nổi tiếng nhất ở Bagan là Anada va Thatbynnyu. Cả hai đều được xây vào cuối thế kỷ 11, trong đó Thatbynnyu với chiều cao 62m là ngôi đền cao nhất và Anada – chịu nhiều ảnh hưởng từ kiến trúc Ấn Độ – là ngôi đền đẹp và hài hòa nhất. Cái tên Anada bắt nguồn từ Anata, tức là sự sáng suốt vô tận của Phật tổ. Du khách đến với Anada và Thatbynnyu không chỉ để chiêm ngưỡng vẻ tráng lệ của hai ngôi đền này mà còn để thưởng thức cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp trên cao nguyên Bagan. Mặt trời khuất dần sau những ngọn đồi phía xa, ráng chiều đỏ rực phủ lên những hoang tàn, đổ nát của muôn vàn đền đài càng làm tăng thêm vẻ cô liêu, hoang vắng. Trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ đó, con người chợt cảm thấy mình nhỏ nhoi biết nhường nào…

Loan Sabaru

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s