Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Chương 1-3)

 

CHAPTER 1

MY EARLY STUDIES IN CHRISTIANITY

It was more than I could believe that Jesus was the only incarnate son of God, and that only he who believed in Him would have everlasting life. If God could have sons, all of us were His sons. If Jesus was like God, or God Himself, then all men were like God and could be God Himself.

My reason was not ready to believe literally that Jesus by his death and by his blood redeemed the sins of the world. Metaphorically there might be some truth in it.

Again, according to Christianity only human beings had souls, and not other living beings, for whom death meant complete extinction; while I held a contrary belief.

I could accept Jesus as a martyr, an embodiment of sacrifice, and a divine teacher, but not as the most perfect man ever born. His death on the Cross was a great example to the world, but that there was anything like a mysterious or miraculous virtue in it, my heart could not accept.

 

The pious lives of Christians did not give me anything that the lives of men of other faiths had failed to give. I had seen in other lives just the same reformation that I had heard of among Christians.

Philosophically there was nothing extraordinary in Christian principles. From the point of view of sacrifice, it seemed to me that the Hindus greatly surpassed the Christians. It was impossible for me to regard Christianity as a perfect religion or the greatest of all religions.

An Autobiography, pp. 98-99, Edn. 1958

CHAPTER 2

THE SERMON ON THE MOUNT

I could not possibly read through the Old Testament. I read the book of Genesis, and the chapters that followed invariably sent me to sleep But just for the sake of being able to say that I had read it, I plodded through the other books with much difficulty and without the least interest or understanding. I disliked reading the book of Numbers.

But the New Testament produced a different impression, especially the Sermon on the Mount which went straight to my heart. I compared it with the Gita.

The verses, “But I say unto you, that ye resist not evil: but whosoever shall smite thee on thy right cheek, turn to him the other also. And if any man take away thy coat let him have thy cloak too,” delighted me beyond measure and put me in mind of Shamal Bhatt’s “For a bowl of water, give a goodly meal”, etc.

An Autobiography, p. 49, Edn. 1958

I have not been able to see any difference between the Sermon on the Mount and the Bkagavadgita. What the Sermon describes in a graphic manner, the Bkagavadgita reduces to a scientific formula. It may not be a scientific book in the accepted sense of the term, but it has argued out the law of love — the law of abandon as I would call it — in a scientific manner. The Sermon on the Mount gives the same law in wonderful language.

The New Testament gave me comfort and boundless joy, as it came after the repulsion that parts of the Old had given me. Today supposing I was deprived of the Gita and forgot all its contents but had a copy of the Sermon, I should derive the same joy from it as I do from the Gila.

Young India, 22-12-1927

 

Christ, a Supreme Artist

Truth is the first thing to be sought for, and Beauty and Goodness will then be added unto you. Jesus was, to my mind, a supreme artist because he saw and expressed Truth; and so was Mahomed, the Koran being the most perfect composition in all Arabic literature — at any rate, that is what scholars say. It is because both of them strove first for Truth that the grace of expression naturally came in and yet neither Jesus nor Mahomed wrote on art. That is the Truth and Beauty I crave for, live for and would die for.

Young India, 20-1 1-1924

CHƯƠNG 1

NHỮNG TÌM HIỂU BAN ĐẦU CỦA TÔI VỀ KITÔ GIÁO

Tôi không thể tin rằng Giêsu là người con đầu thai duy nhất của Thượng Đế và chỉ có ai tin vào Giêsu mới có cuộc sống vĩnh hằng. Nếu Thượng Đế có thể có nhiều con, tất cả chúng ta đều là con của Người. Nếu Giêsu giống Thượng Đế, hoặc chính là Thượng Đế, thì tất cả con người đều giống Thượng Đế và có thể là chính Thượng Đế.

Lý trí của tôi không sẵn sàng để tin, theo nghĩa đen, rằng Giêsu đã chuộc tội của thế gian này bằng cái chết và bằng máu của mình. Nhưng nói nột cách ẩn dụ, trong đó có thể có một số sự thật.

Một lần nữa, theo Kitô giáo, chỉ có con người có linh hồn, còn những sinh vật khác thì không có linh hồn và cái chết của chúng có nghĩa là tiệt diệt hoàn toàn; trong khi tôi tin ngược lại.

Tôi có thể chấp nhận Giêsu là một vị tử đạo, một hiện thân của hiến sinh và một người thầy thiêng liêng, nhưng không phải là người hoàn hảo nhất từng được sinh ra. Cái chết của Người trên Thập giá là một ví dụ vĩ đại cho thế giới, nhưng trái tim tôi không thể chấp nhận là có bất cứ điều gì như một đức hạnh bí ẩn và thần diệu trong đó.

Đời sống ngoan đạo của các Kitô hữu không cho tôi thấy bất cứ điều gì mà những người có những đức tin khác không làm được. Tôi đã thấy trong đời sống của những người khác những hoán cải mà tôi đã được nghe trong các Kitô hữu.

Về mặt triết học, không có gì phi thường trong các nguyên lý Kitô giáo. Từ cái nhìn về sự hiến sinh, dường như đối với tôi, người Ấn giáo đã vượt qua các Kitô hữu rất nhiều. Tôi không thể coi Kitô giáo là một tôn giáo hoàn hảo hay vĩ đại nhất trong tất cả các tôn giáo.

Trích Gandhi Tiểu sử tự thuật – An Autobiography, năm 1958, trang 98-99

CHƯƠNG 2

BÀI GIẢNG TRÊN NÚI

Tôi đã không thể đọc hết tập Cựu Ước. Tôi đã đọc cuốn Sáng Thế Ký, và những chương tiếp theo khiến tôi rất buồn ngủ. Vì chỉ muốn nói là tôi đã đọc Cựu Ước, tôi đã lê lết qua các cuốn khác trong Cựu Ước với nhiều khó khăn và không hề có hứng thú hay hiểu biết nào. Tôi không thích đọc cuốn Dân Số.

Nhưng Tân Ước tạo ra một ấn tượng khác, đặc biệt là Bài Giảng Trên Núi đi thẳng vào trái tim tôi. Tôi đã so sánh bài giảng đó với Bhagavad Gita [gọi tắt là Gita, một trường ca cổ tiếng Phạn, còn được gọi là Bài ca của Thượng Đế – The song of God].

Những câu, “Nhưng thầy nói với anh em, anh em không chống lại kẻ ác: hễ ai đánh vào má phải, thì giơ ra má trái cho họ luôn. Và hễ ai lấy áo trong của anh em, hãy để họ lấy luôn cả áo choàng,” khiến tôi vui sướng khôn tả, và đưa tôi vào tâm trí của Shamal Bhatt [một nhà thơ Ấn Độ thời trung cổ] “Nhận một bát nước, cho lại một bữa tiệc”, v.v …

Trích Gandhi Tiểu sử tự thuật – An Autobiography, năm 1958, trang 49

Tôi đã không thể thấy bất cứ khác biệt nào giữa Bài giảng trên Núi và trường ca Bkagavad Gita. Những gì Bài giảng mô tả theo phương cách đồ họa, thì Bkagavadgita rút gọn thành một công thức khoa học. Gita có thể không phải là một cuốn sách khoa học theo nghĩa được chấp nhận của thuật ngữ “khoa học”, nhưng Gita thảo luận sâu sắc một cách khoa học về luật tình yêu – luật đầu hàng như tôi gọi. Bài giảng trên Núi đưa ra luật tương tự bằng ngôn ngữ tuyệt vời.

Tân Ước mang đến cho tôi sự thoải mái và niềm vui vô biên, vì cuốn sách xuất hiện sau những đáng ghét mà nhiều phần của Cựu Ước đã mang lại cho tôi. Hôm nay, giả như tôi bị lấy mất cuốn Gita và quên tất cả nội dung trong đó nhưng vẫn có một bản sao của Bài giảng trên Núi, tôi sẽ nhận được niềm vui tương tự như tôi có được từ Gita.

Trích báo Young Indian, 22-12-1927

Giêsu Kitô, một Nghệ sĩ Tối cao

Sự thật là điều đầu tiên được tìm kiếm, Vẻ đẹp và Điều lành sẽ được mang đến cho bạn. Giêsu, theo tôi, là một nghệ sĩ tối cao bởi vì Giêsu đã nhìn thấy và bày tỏ Sự thật; và Tiên tri Mahomed cũng vậy, Koran là tác phẩm hoàn hảo nhất trong toàn bộ văn học Ả Rập – dù sao thì đó cũng là điều các học giả nói. Chính vì cả hai cuốn sách đều cố gắng trước tiên vì Sự thật, mà cách diễn tả đầy ân sủng đến rất tự nhiên, dù cả Giêsu và Mahomed đều không dùng nghệ thuật viết. Đó là Sự thật và Vẻ đẹp mà tôi khao khát, sống vì đó, và sẵn sàng chết vì đó.

Trích báo Young Indian, 20-1 1-1924

GIÊSU (theo Tin Mừng của Luke, chuyển ngữ Tin Lành). Phim này đã đươc chuyển ngữ sang hơn 1 ngàn thứ tiếng từ khi được ra mắt năm 1979, và là phim được chuyển ra nhiều thứ tiếng nhất và được xem nhiều nhất trong lịch sử thế giới.

JESUS (film full)
A docudrama on the life of Jesus Christ based on the Gospel of Luke, JESUS has been translated into more than 1,000 languages since its 1979 release. It remains the most translated and viewed film in history.

CHAPTER 3

WHY I AM NOT A CONVERT TO CHRISTIANITY

Though I admire much in Christianity, I am unable to identify myself with orthodox Christianity…Hinduism as I know it entirely satisfies my soul, fills my whole being, and I find a solace in the Bhagavadgita and Upanishads that I miss even in the Sermon on the Mount. Not that I do not prize the ideal presented therein; not that some of the precious teachings in the Sermon on the Mount have not left a deep impression upon me, but I must confess… that when doubt haunts me, when disappointments stare me in the face, and when I see not one ray of light on the horizon, I turn to the Bhagavadgita, and find a verse to comfort me; and I immediately begin to smile in the midst of overwhelming sorrow. My life has been full of external tragedies, and if they have not left any visible and indelible effect on me, I owe it to the teachings of the Bhagavadgita.

Young India, 6-8-1925

 

 

There is nothing in the world that would keep me from professing Christianity or any other faith, the moment I felt the truth of and the need for it. Where there is fear there is no religion…. If I could call myself, say, a Christian, or a Mussalman, with my own interpretation of the Bible or the Koran, I should not hesitate to call myself either. For then Hindu, Christian and Mussalman would be synonymous terms.

Young India, 2-9-1926

 

Though I cannot claim to be a Christian in the sectarian sense, the example of Jesus’ suffering is a factor in the composition of my undying faith in non- violence which rules all my actions, worldly and temporal.

Harijan, 7-1-1939

CHƯƠNG 3

TẠI SAO TÔI KHÔNG CẢI ĐẠO SANG KITÔ GIÁO

Mặc dù tôi ngưỡng mộ Kitô giáo rất nhiều, tôi không thể tự nhận mình là người Kitô giáo chính thống… Ấn Độ giáo như tôi biết hoàn toàn thỏa mãn tâm hồn tôi, làm đầy toàn bộ con người tôi, và tôi tìm thấy an ủi trong Bhagavadgita và Upanishads, điều mà tôi không tìm thấy ngay cả trong Bài giảng trên núi. Điều đó không có nghĩa là tôi không đề cao lý tưởng của Bài giảng; cũng không phải là một vài lời dạy quý giá trong Bài giảng không để lại ấn tượng sâu sắc với tôi, nhưng tôi phải thú nhận rằng … khi hoài nghi ám ảnh, khi thất vọng trực diện, và khi tôi không thấy một tia sáng nào phía chân trời, tôi quay sang Bhagavadgita và tìm một câu để an ủi mình; và tôi ngay lập tức bắt đầu mỉm cười giữa nỗi buồn quá lớn. Cuộc sống của tôi đầy rẫy những bi kịch bên ngoài, và nếu những bi kịch đó chưa từng để lại bất cứ ảnh hưởng hiển hiện và không thể xoá được trong tôi, là do tôi mang nợ những lời dạy của Bhagavadgita.

Trích báo Young Indian, 6-8-1925

Không có gì trên thế gian khiến tôi không tuyên xưng Kitô giáo hay bất cứ đức tin nào khác, ngay khi tôi cảm nhận được sự thật và sự cần thiết của đức tin đó. Ở đâu có sợ hãi thì không có đức tin…. Nếu tôi có thể tự gọi mình là một người Kitô giáo hay một người Hồi giáo, với sự giải thích của riêng tôi về Kinh Thánh hoặc Kinh Koran, thì tôi không ngần ngại tự gọi mình như thế. Bởi vì khi đó Ấn Độ giáo, Kitô giáo và Hồi giáo chỉ là các thuật ngữ đồng nghĩa.

Trích báo Young Indian, 2-9-1926

Mặc  dù tôi không thể tự nhận mình là Kitô hữu theo nghĩa giáo phái, nhưng hình mẫu về nỗi thống khổ của Giêsu là một yếu tố tạo nên niềm tin bất diệt của tôi vào bất bạo động, niềm tin đó chi phối mọi hành động của tôi, trần tục và tạm thời.

Trích báo Harijan, 7-1-1939

 

Một suy nghĩ 2 thoughts on “Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Chương 1-3)”

  1. Cảm ơn Hằng, bài dịch này cho chúng ta hiểu sâu sắc hơn về con người và suy tư của Gandhi rất nhiều trên con đường tìm kiếm Sự thật. Sự chân thật trong Gandhi và trong mỗi hành giả tâm linh đều có thể nhận ra nhau và nhận ra Jesus cũng từ sự chân thật đó.

    Chị cảm thấy rất đồng cảm với ông về những cảm nhận khi ông tìm hiểu về Kitô giáo: “Tôi không thể tin rằng Giêsu là người con đầu thai duy nhất của Thượng Đế và chỉ có ai tin vào Giêsu mới có cuộc sống vĩnh hằng… Lý trí của tôi không sẵn sàng để tin, theo nghĩa đen, rằng Giêsu đã chuộc tội của thế gian này bằng cái chết và bằng máu của mình. Nhưng nói một cách ẩn dụ, trong đó có thể có một số sự thật… Nhưng Tân Ước tạo ra một ấn tượng khác, đặc biệt là Bài Giảng Trên Núi đi thẳng vào trái tim tôi… Tân Ước mang đến cho tôi sự thoải mái và niềm vui vô biên, vì cuốn sách xuất hiện sau những đáng ghét mà nhiều phần của Cựu Ước đã mang lại cho tôi.”

    Những điều này rất giống với những gì chị đã cảm nhận khi tìm hiểu về Kitô giáo và gặp tinh thần Jesus.

    Chỉ duy có một điểm chị cảm thấy mình khác với Gandhi là cái nhìn của ông vẫn thiên về tôn giáo: “Mặc dù tôi ngưỡng mộ Kitô giáo rất nhiều, tôi không thể tự nhận mình là người Kitô giáo chính thống… Ấn Độ giáo như tôi biết hoàn toàn thỏa mãn tâm hồn tôi,…”. Với xuất phát điểm của mình, thì mình cảm thấy hoàn toàn thỏa mãn với việc “không tôn giáo” như lúc ban đầu.

    Sự giống nhau trong suy tư về Sự thật của những hành giả tâm linh, có lẽ đó là niềm tin vào Tuyệt đối, và tinh thần Jesus là ánh sáng cho Tuyệt đối ấy được hiển bày.

    Cảm ơn em đã dịch bài rất hay ❤
    c. Hường

    Liked by 2 people

  2. Cảm ơn chia sẻ của chị Hường 🙂

    Chị Hường và các bạn chờ đọc hết 17 chương của cuốn này sẽ thấy, từ tôn giáo – religion – mà Gandhi dùng trong các bài viết, bài nói nên hiểu beyond religion, tức là vượt qua tôn giáo. Đó là tâm linh, là một đức tin, hoặc là một truyền thống tâm linh hay văn hoá của nơi đó bao gồm kinh sách, hay các thực hành của văn hoá đó….Như là truyền thống văn hoá Hindu của Ấn Độ, truyền thống Hồi gíáo của Iran, văn hoá Phật giáo của Việt Nam, văn hoá vô thần hiện đại….

    Đối với Gandhi, văn hoá Hindu mà ông được nuôi dưỡng từ khi sinh ra làm thoả mãn tâm linh, tâm hồn hay trái tim ông. Tương tự như người chị Hường nói, trái tim chị thoả mãn với không tôn giáo, hay như em tâm hồn em thoả mãn với văn hoá Phật gia mà không cần phải là đi theo bất cứ tôn giáo nào.

    Gandhi không nói về công thức tôn giáo của các giáo hội, và Gandhi luôn phê phán những hủ tục của tôn giáo và giáo hội dù đó là Kitô hay Hindu. Ông nhìn vào giá trị thực của các kinh sách của mọi tôn giáo trong phát triển tâm linh con người mà không phải là hình thức bên ngoài tôn giáo đó. Tìm hiểu kinh sách hay nhìn nhận mọi truyền thống tâm linh với một sự khiêm nhường và cảm thông.

    Khi thấy được giá trị đó Ấn Độ giáo, Kitô giáo và Hồi giáo, Phật giáo hay niềm tin, đức tin chỉ là các thuật ngữ đồng nghĩa.

    Tuy nhiên em cảm tưởng rằng, Gandhi vẫn dùng từ tôn giáo, religion bởi trong bối cảnh 100 năm trước ở Ấn Độ, như thế dễ hiểu và dễ tiếp nhận cho dân Ấn Độ và “trình độ” hiểu biết tâm linh của cả thế giới thời bấy giờ.

    Liked by 1 person

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s