Văn hóa Tây nguyên có nguy cơ tuyệt chủng ?

1- Mở hộp thư những giờ phút cuối cùng của ngày Rắn bàn giao thời gian cho Ngựa, định lang thang trò chuyện cùng bạn bè, chúc nhau năm mới. Chợt buồn đến se thắt cả tâm trạng, mặc cho tiếng nổ & ánh sáng chói chang của pháo hoa ran ran bầu trời đêm Ban Mê. Nỗi buồn đến từ sự sẻ chia nỗi lo âu của một người bạn. Chắc cũng bức xúc lắm nên bạn mới phải tỏ bày với mình vào giờ phút này.

Bạn dẫn bài viết của một ma soeur về việc “anh em buôn làng” ở một buôn trong tỉnh Đắk Lắk (nơi địa bàn chăm sóc tinh thần của soeur) “không có Tết Nguyên Đán như người Kinh”, chỉ xum vầy cùng nhau vào ngày Chúa Giáng Sinh & Lễ phục sinh. Bạn cũng dẫn một bài báo về tết cổ truyền của một số tộc người thiểu số. Câu cuối cùng của thư bạn, chính là điều làm cho mình thảng thốt, rằng “Thường thường mỗi dân tộc đều có một ngày Tết lớn trong năm–thường là sau kỳ thu hoạch mùa màng, hoặc đầu xuân trước khi làm mùa trở lại… Rất khó để cho rằng một dân tộc không có một ngày lễ nghi lớn trong năm, vì thời tiết và mùa màng ấn định ngày lễ qua kinh nghiệm sống cả nghìn năm. Việc anh em Buôn Làng nói là họ không có ngày Tết, làm anh quan tâm là có thể họ đã sống theo tập tục công giáo quá lâu năm và không có cố gắng để bảo vệ văn hóa truyền thông của họ, nên ngày nay họ không còn biết đến lễ hội cổ truyền của họ nữa

TN2

Đúng vậy đó anh H. ơi. Không có một tộc người nào, trong một năm, lại không có ngày lễ trọng, có thể tạm gọi là “Tết cổ truyền ” của mình. Các tộc ngưởi thiểu số ở miền núi, theo tín ngưỡng tâm linh đa thần truyền thống, lại càng nhiều lễ nghi lớn, rất quan trọng với cả gia đình và cộng đồng. Đặc biệt như những lễ cúng bến nước vào dịp đầu năm, hay lễ ăn cơm mới vào những tháng cuối cùng của năm. Cho dẫu họ chẳng quen tính ngày, tính tháng mà chỉ biết tính theo nông lịch của hai mùa mưa nắng trong một năm đi nữa. Khi được mùa, lễ có thể kéo dài từ ngày này sang ngày khác, giữa dòng họ, gia đình này qua gia đình, dòng họ khác. Thậm chí là từ buôn, bon, kon, plei này kéo qua kon, plei, buôn, bon khác. Chính vì vậy mà người Ê đê mới gọi mùa lễ hội của mình là “Hoă mnăm bơng thun – Ăn năm uống tháng” , người Bâhnar gọi là “Khai ning nơng – tháng nghỉ ngơi”… Đó chính là “ngày Tết” của bà con. Ngày dòng họ, gia đình xum họp, bạn bè gặp gỡ, làng nọ thăm hỏi làng kia. Đây cũng là dịp để nấu những món ăn đặc biệt, mặc những bộ trang phục đẹp nhất, đánh những bài ching hay nhất.

Về Tây Nguyên sau 1975 tôi đã từng may mắn còn được tham dự một số những lễ hội như thế. Đã được hòa mình trong tình cảm ấm áp của một dòng họ, đã từng được phấn khích nhịp bước chân theo tiếng ching chêng với sự đón rước, đãi đằng, mời mọc nhau, thi nhau múa hát… một cách hồn nhiên của cả một hay nhiều cộng đồng làng. Chẳng có “kịch bản, đạo diễn” nào, của ai, mà lễ hội vẫn diễn ra náo nức, cuốn hút như tự bao đời nay vẫn thế… Than ôi, bao giờ cho đến… ngày xưa ấy?

TN1

2- Anh H. lại đúng nữa rồi. Tất cả những lễ hội đã từng, của những ngày đã xa ấy, đều diễn ra trong tín ngưỡng đa Thần. Ngày nay những lễ hội liên quan đến tâm linh cổ truyền ấy không có đất để tồn tại nữa. Những “Báu vật dân gian sống” – danh xưng Unessco dành tôn vinh các nghệ nhân dân gian Tây Nguyên – ngày càng nhiều vị rủ nhau đi về “Đất nước ông bà”, thì người còn biết, còn hiểu về truyền thống văn hóa, trong đó có lễ hội càng thiếu vắng. Nên như anh nói:

    “Phải có một phong trào bảo tồn văn hóa của các sắc tộc anh em để nhắc nhở người Kinh giúp anh em giữ gìn văn hóa của mình. Người Kinh nhiều khi không phải là cố tình, nhưng chỉ biết sống kiểu Kinh và không nghĩ gì. Các anh em sắc tộc ở trong những vùng nhiều người Kinh mà lại không được khuyến khích giữ văn hóa của mình thì quên luôn.

    Nhưng chúng ta phải nhìn thực tế là mọi văn hóa của mọi sắc tộc đều là văn hóa Việt Nam. Bất kì nền văn hóa nào chết đi cũng là tai hại cho văn hóa Việt Nam, làm nước Việt nghèo nàn đi một chút. Đó là chưa nói văn hóa càng phồn thịnh và đa dạng thì càng phát triển du lịch và các loại kinh tế văn hóa tốt hơn”.

TN3

Nhà nước Việt Nam hiểu điều đó, nên có nhiều chủ trương, chính sách để khuyến khích bà con các tộc người thiểu số gìn giữ & bảo tồn lấy những giá trị truyền thống của chính mình (điều này thì tôi biết chính xác là có, chi hàng ngàn tỷ đồng nữa là khác). Nhưng như tôi đã nói , một phần do chính người dân tộc không còn mấy ai hiểu mình là ai, mình còn gì. Sự hòa nhập, hội nhập khiến giới trẻ khát khao vươn ra bên ngoài, mà không thấy cái đẹp ở bên trong của mình, để tự nguyện tham gia gìn giữ. Bởi rất vô tư, không biết rằng “mất văn hóa là mất tất cả, mất chính mình”. Rất ít cán bộ văn hóa là người dân tộc. (Ai cũng thích học kinh tế, học quản trị kinh doanh, luật… Tất nhiên cái gì cũng cần. Nhưng không lẽ văn hóa của mình lại để người Kinh gìn giữ hộ?) Bởi nếu hiểu, và yêu, người ta sẽ biết cách tự mình cứu lấy mình. Ngoài ra cũng do điều kiện kinh tế còn khó khăn, nên chưa thể “sinh lễ nghĩa” được.

Mặt khác, như anh H. nói, người Kinh hiểu và làm, thậm chí là cũng vô tư áp đặt theo kiểu người Kinh lên lối sống, lối nghĩ và cũng với sự thay đổi tín ngưỡng, làm thay đổi diễn trình văn hóa thiểu số. Phải công nhận một điều rằng, gần đây, phần nào các tôn giáo đã ý thức ra điều này, nên ở một vài vùng, nhà thờ đã góp phần cùng bà con gìn giữ những gì có thể, trong mối quan hệ với giáo dân thiểu số. Ví dụ như in sách Kinh thánh bằng tiếng dân tộc, dạy chị em cải tiến sản phẩm dệt thổ cẩm để trở thành hàng hóa, khuyến khích bà con đi lễ mặc trang phục truyền thống… Hay ở vùng người Sê Đăng tại Kon Hring (Cư M’gar, Đăk lak), cùng nhóm di cư từ Đăk Tô sang năm 1972, những lễ hội truyền thống hàng năm vẫn được làng tự tổ chức thường xuyên vào ngày 1/1 dương lịch. Trong ngày hội không chỉ có diễn tấu ching chêng, mà còn có bữa ăn cộng cảm của cả làng với rượu cần, cơm, canh thịt nấu ống nứa… của mọi gia đình cùng góp vào nơi sân nhà Rông. (Chỉ tiếc một điều nhà Rông đã quá lâu đời nên đổ sập rồi, chưa làm lại được, người già biết làm cây nêu đã khuất mấy năm trước, nên thiếu vắng bóng nêu vươn cao, và tre nứa mỗi ngày một thiếu, một xa cho những “ống cơm lam” thảo thơm cổ truyền )…

Thế nên có bạn hỏi tôi “công trình sưu tầm, nghiên cứu của mình mấy chục năm, sao đưa tất lên mạng thế? Không sợ bị ‘đạo’ ư?” Thì cũng có rồi đấy, nhưng tôi chỉ muốn thế hệ trẻ Tây Nguyên biết & hiểu giá trị tốt đẹp những gì tộc người mình có, để rồi tự mình tìm cách mà giữ lấy. Tôi có trách ngành văn hóa chưa bao giờ hỏi trực tiếp bà con các tộc người mỗi vùng, xem cần phải bảo tồn những gì? Nhưng đó chỉ là một cách nói thôi. Nhiều người yêu Tây Nguyên lắm, thế giới cũng tôn vinh văn hóa Tây Nguyên là DI SẢN CỦA NHÂN LOẠI. Nhưng đa số người Tây Nguyên còn thờ ở với sự mất đi này lắm lắm.

Đức Cha  Jacques Dournes
Đức Cha Jacques Dournes

Như vậy sẽ có hai mặt của một vấn đề phải không anh H. Một mặt là người Tây Nguyên phải biết, phải hiểu giá trị của văn hóa truyền thống để tự mình chọn lựa cách thức gìn giữ. Mặt khác người Kinh và các tôn giáo, không chỉ tôn trọng mà cũng phải hiểu, để bằng việc làm và tiếng nói của mình, giúp bà con các tộc người Tây Nguyên gìn giữ, bảo tồn. Đức Cha – Nhà khoa học Jacques Dournes chẳng từng đã nói về tình cảm của ông với Tây Nguyên: “Yêu thì phải hiểu & Hiểu thì sẽ yêu” đó sao? Có còn ai được như Cha?

Một lần nữa cám ơn anh H. đã cho tôi được sẻ chia

Linh Nga Niê Kdăm

 

Một suy nghĩ 2 thoughts on “Văn hóa Tây nguyên có nguy cơ tuyệt chủng ?”

  1. Cám ơn chị Linh Nga đã quan tâm đến vấn đề này.

    Đúng như chị nói, các dân tộc Tây nguyên cần có lãnh đạo của mình thúc đầy vấn đề bảo tồn văn hóa Tây nguyên.

    Và các tổ chức xã hội và tôn giáo do người Kinh lãnh đạo cũng phải hiểu là xóa bỏ văn hóa Tây nguyên là xóa bỏ văn hóa Việt Nam, là chống lại văn hóa Việt Nam.

    Văn hóa Tây nguyên là một phần của văn hóa Việt Nam, và mọi chúng ta, Kinh hay sắc tộc thiểu số, đều có nhiệm vụ bảo tồn văn hóa Tây nguyên.

    @ Cả nhà: Anh H. trong bài là Anh Hoành.

    Số lượt thích

  2. Em Cảm ơn Anh Hai và Chị Linh Nga đã trải lòng nói lên những điều trọng yếu của một dân tộc mà không phải ai cũng hiểu và cảm thấu được!

    Em rất mong mọi người không phân biệt cũng như những nhà lãnh đạo tôn giáo hiểu và yêu, để tạo điều kiện cũng như khắc phục những khó khăn để bảo tồn văn hóa của anh em đồng bào sắc tộc thiều số.

    Và em cũng cầu chúc cho các dân tộc Tây nguyên có lãnh đạo thực thụ của mình để thúc đầy vấn đề bảo tồn và phát triển văn hóa Tây nguyên.

    Matta Xuân Lành

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s