Để sống chung với lũ, chống chọi với thiên tai, người dân Quảng Bình đã có nhiều sáng kiến, sáng chế hay đáo để…
Ông Nguyễn Mậu Sơn (xã Duy Ninh, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình) bảo tôi: “Con thuyền này chi phí không vượt quá 2 triệu đồng, nhưng chở được 8 người lớn và đặc biệt là không bao giờ chìm. Tôi cũng muốn phổ biến cách làm thuyền này cho bà con vùng lũ để có phương tiện tốt, rẻ mà sử dụng…”.
Con thuyền ống nhựa được ông Sơn thiết kế với chi phí thấp. Ảnh: M.S.
Đang vận hành trơn tru, thì cả thế giới chững lại chỉ vì một loài virus mắt thường không nhìn thấy. Nhiều người bi quan bó tay than vãn, còn những doanh nhân lạc quan của “Nhóm Bạn Từ Tâm Đắk Lắk” đều biến nguy thành cơ, chọn lối sống quên mình vì mọi người để chung tay đẩy lùi đại dịch.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp tán thưởng cách khởi nghiệp 4.0 của MISS EDE
Chọn bạn mà chơi
Tháng 3 năm 2020, Đắk Lắk chưa có ca dương tính Covid-19 nào. Các biện pháp phòng dịch đã được triển khai, còn mọi hoạt động giao thương vẫn bình ổn, thông suốt.
Lúc đó tôi vừa nhận quyết định nghỉ hưu sau 5 năm công tác ở Tỉnh Đoàn, 26 năm làm báo chuyên nghiệp. Rời vị trí chiến đấu thân yêu quá lâu gắn bó, tôi lập Nhóm Bạn Từ Tâm để “có cơ sở” vẽ logo in backdrop tặng nhà cho các trò nghèo hiếu học, tổ chức các chương trình thiện nguyện hỗ trợ chính quyền, người dân cùng chống dịch Covid-19. Nhóm Bạn Từ Tâm ban đầu chỉ có 3 người, sau tăng dần lên, tới nay đã gần 200 thành viên.
Cuộc đời bà cụ Thò Thị Chơ ở xã Lũng Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang đã đi qua 70 mùa đông lạnh giá, mùa nào cũng lo sợ, bất an. Nhất là giờ đây, bà phải bao bọc 2 đứa cháu nội chưa đầy 5 tuổi. Con dâu bà không chịu được cuộc sống khô kiệt vì thiếu nước, đã lẳng lặng bỏ nhà ra đi trong một buổi tối mùa đông rét mướt.
Bản đồ xã Lũng Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang
Anh con trai bà buồn tủi, chán chường rồi cũng tìm đến cái chết. Chỉ còn lại bà và hai cháu nhỏ với cái nghèo cái đói bủa vây. Hằng ngày, bà vẫn lết đôi chân đi gùi chút nước ít ỏi về cho cháu qua cơn khát. Nhìn hai đứa trẻ mặt mũi lúc nào cũng nhọ nhem, da mốc trắng, chân tay nứt nẻ, đau rát, bà thương lắm nhưng đành bất lực…
PLO – “Ở đâu cũng có người khó khăn nhưng so với miền xuôi thì trẻ em miền núi khó khăn hơn bội phần. Có những bạn nhỏ mồ côi cha mẹ từ sớm, mấy anh em nheo nhóc dựa nhau sống. Nhiều em không có quần áo lành để mặc, không có vở để viết, phải học trong những lớp học tồi tàn, sập xệ.
Mình đã không thể ngăn được những giọt nước mắt khi nhìn thấy đám nhỏ chân trần, lem luốc ăn cơm với muối ớt nhưng đôi mắt lấp lánh vui sướng. Phải làm gì đây để giúp các con có điều kiện học hành tốt hơn? Đó là điều mà tụi mình đau đáu trong suốt một thời gian dài” – anh Nam bộc bạch.
Là quận đầu tiên phát thuốc kháng viêm, kháng đông cho F0 tự điều trị tại nhà dù chưa có hướng dẫn của Sở Y tế, Bí thư quận 6 Lê Thị Hờ Rin chia sẻ đây là quyết định phải làm.
Phương pháp “không coi F0 là người bệnh”, đưa thuốc Đông y vào sử dụng từ rất sớm đã giúp Củ Chi điều trị khỏi nhiều ca bệnh rất nhanh, và đặc biệt không có trường hợp tử vong.
BDT – “Biệt đội” giải cứu thú rừng ở Pù Mát (Nghệ An) có một người rất đặc biệt, cậu ấy từng là “lâm tặc”, từng là “người rừng”. Đó là Nguyễn Văn Huy. Với Huy, gia nhập “biệt đội” này là để trả nợ cho rừng.
Niềm vui của Huy (người bên trái) và đồng đội khi giải cứu thành công một chú tê tê. (Ảnh Lê Tất Thành)
Một thời “lâm tặc”
Như có duyên nợ với Nghệ An, chuyến luồn rừng tìm trầm đầu tiên của Nguyễn Văn Huy là đến huyện Con Cuông. Huy nói, năm đó em vừa tròn 20 tuổi. Quê em ở xã Hưng Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình), cũng là vùng rừng núi… Từ Con Cuông, nhóm của Huy tỏa đi khắp nơi để tìm kiếm vận may từ cây dó trầm. Không la bàn, không thiết bị, chỉ bằng kinh nghiệm của các “đại ca”, nhóm tìm trầm cứ thế cắt rừng mà đi. Sau 1 tháng, nhóm “người rừng” đã sang đến đất Lào. Huy cho biết, kỳ nam và trầm có trong thân cây dó. Cây càng lâu năm, thì trầm càng nhiều và chất lượng càng tốt. Trầm có giá rất cao, nên hấp dẫn nhiều người đi tìm.
TTO – Đó là lời chia sẻ của chị Thùy Dung trên cộng đồng Go Volunteer về mẹ mình, hiện là tình nguyện viên cụm 4 tại quận Bình Thạnh. “Tình nguyện không giới hạn tuổi tác, chỉ cần cái tâm thôi phải không mọi người?”, chị viết.
Cô Đỗ Thị Hạnh (bìa phải) chụp ảnh cùng các tình nguyện viên trẻ – Ảnh: HOÀNG OANH
Những ngày này, trong số hàng chục ngàn tình nguyện viên thuộc đội phản ứng nhanh phòng chống dịch COVID-19, ngoài những người trẻ còn có nhiều thành viên vô cùng “đặc biệt”. Đó là những cô, chú lớn tuổi nhưng tràn đầy sự nhiệt huyết, tinh thần xông pha, dấn thân cho cộng đồng.
Tình nguyện đi chống dịch ở TP.HCM suốt 60 ngày không về nhà, Trần Ngô Hồng Phước (27 tuổi) cho biết dù có từng bị những người đi lấy mẫu xét nghiệm chửi mắng hoặc ngất xỉu vì nắng vẫn không bỏ cuộc vì không muốn phí sức trẻ, góp sức giúp TP vượt qua dịch bệnh.
Tình nguyện viên nghỉ tạm sau ca trực điều phối tiêm vắc xin tại nhà thi đấu Phú ThọẢNH: D.MNgày 30.5, nhận thông tin quận đoàn Gò Vấp cần thêm tình nguyện viên để hỗ trợ lấy mẫu xét nghiệm và trực chốt kiểm soát, Trần Ngô Hồng Phước (27 tuổi, quê Long An) đăng ký và ngay lập tức bắt tay vào việc trong đêm.
Sợ nhưng không muốn phí sức trẻ
Đây là thời điểm ổ dịch liên quan nhóm truyền giáo diễn biến phức tạp, lần đầu tiên TP.HCM trong 1 ngày có nhiều ca nhiễm như vậy khiến anh lần đầu cảm thấy sợ khi đi tình nguyện.
“Mình sợ đến mức mắt kiếng thỉnh thoảng xệ xuống mũi nhưng không dám đưa tay lên đẩy vì sợ tay chạm mắt, nước đọng ở tấm kính che giọt bắn chảy thành dòng luôn cũng không dám lau. Đêm đó mình về đến nhà là 3 giờ sáng”, anh kể.
(HNMO) – Tính đến sáng 30-7, thành phố Hồ Chí Minh đang điều trị cho 36.378 bệnh nhân Covid-19; có 847 bệnh nhân nặng phải thở máy, 14 bệnh nhân phải can thiệp ECMO (tim phổi nhân tạo). Trong ngày 29-7, có thêm 3.131 bệnh nhân xuất viện. Cùng với việc tăng cường điều trị các ca nhiễm, thành phố Hồ Chí Minh còn tăng cường chăm sóc sức khỏe tinh thần cho người bệnh và đội ngũ nhân viên y tế đang ngày đêm căng sức chống dịch.
Các ca sĩ hát phục vụ bệnh nhân trong chiều mưa 29-7.
Chị Điểu Thị Trang – Dự án Rừng và Đồng bằng (VFD) do USAID tài trợ
Chị Điểu Thị Trang là người dân tộc Châu Mạ sinh ra và trưởng thành ở khu vực Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, Tây Nguyên, Việt Nam. Từ khi còn nhỏ đến nay đã kết hôn và có hai con, nguồn thu nhập của chị Trang và gia đình vẫn dựa vào rừng Cát Tiên.
Nhằm giảm phụ thuộc vào rừng và khuyến khích thành viên các cộng đồng sống dựa vào rừng tham gia vào hoạt động bảo vệ rừng bền vững tại nơi sinh sống, năm 2010 Chính phủ Việt Nam đã đưa vào triển khai hệ thống chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES). Theo quy định của hệ thống này, các công ty thủy điện sẽ trả cho thành viên các cộng đồng sống dựa vào rừng, giống như gia đình chị Trang, tiền bảo vệ các lưu vực sông để đảm bảo các công ty này có nguồn cung nước ổn định cho hoạt động sản xuất điện.
Đối với trường hợp của chị Trang, gia đình chị đã nhận gần 1.100 đô la (tương đương khoảng 24 triệu đồng) mỗi năm thông qua hệ thống PFES cho việc bảo vệ và chăm sóc các khu rừng tại Cát Tiên.
Ông Vì Văn Hạnh, Trưởng bản LùnDự án Rừng và Đồng bằng Việt Nam (VFD) của USAID
Ông Vì Văn Hạnh – Trưởng bản Lùn, tỉnh Sơn La. Ngôi làng của ông cũng giống như các ngôi làng khác ở tỉnh Sơn La đều chịu chung tình trạng thiếu thốn cơ sở hạ tầng, ít cơ hội sinh kế và nghèo khó. Do người dân chuyển sang khai thác rừng để kiếm sống đã làm gia tăng áp lực và khiến các khu rừng rơi vào nguy cơ bị khai thác quá mức.
Để giải quyết được thách thức kép vừa bảo tồn rừng vừa đem đến các cơ hội thu nhập, Chính phủ Việt Nam đã phát triển và thực hiện hệ thống Chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Thông qua chính sách này, các doanh nghiệp thủy điện và người sử dụng dịch vụ rừng ở hạ nguồn sẽ chi trả cho các cộng đồng ở thượng nguồn phí bảo vệ rừng và lưu vực sông để tránh mất rừng và thoái hóa rừng, đảm bảo cho các công ty có nguồn cung nước ổn định để sản xuất điện.
The Payment for Forest Environmental Services (PFES) system implemented at national scale under an USAID project now generates approximately 120 million USD annually to finance the management of approximately 6 million hectares of Vietnam’s forests.
Friday, December 18, 2020 19:05Pine trees planted in the Ta Dung National Park in the Central Highlands province of Dak Nong (Photo: VNA)
Lam Dong (VNA) – The Payment for Forest Environmental Services (PFES) system implemented at national scale under an USAID project now generates approximately 120 million USD annually to finance the management of approximately 6 million hectares of Vietnam’s forests.
Picking tea leaves in Chiềng Đi village, Vân Hồ District in Sơn La province. Many Chiềng Đi tea products are made according to organic standards sponsored by the GREAT. — Photo equality.aus4vietnam.org
HÀ NỘI — More than 8,000 ethnic minority women have enjoyed increased income and 834 new jobs have been created for women in Lào Cai and Sơn La provinces due to the GREAT (Gender Responsive Equitable Agriculture and Tourism) programme supported by the Australian government.
The figure was announced at the event ‘Empowering ethnic minority women: A taste of Lào Cai and Sơn La’ held in Hà Nội on Wednesday.
TS Nguyễn Nam Hà (56 tuổi, ở Hà Nội) được mọi người yêu quý gọi là ‘Thần Cầu’, vì ông đi đến đâu là cầu mọc lên đến đó. Đặc biệt, đây là những cây cầu được xây bằng 4 chữ tâm.
Ông Nguyễn Nam Hà khảo sát xây dựng cầu Thác Mật ở H.Hoàng Su Phì, Hà GiangNGUYỄN HUY
TS Nguyễn Nam Hà (chuyên gia của Trung tâm phát triển giao thông đô thị và nông thôn, thuộc Viện Chiến lược và phát triển giao thông vận tải, Bộ GTVT) là trưởng nhóm Nhịp cầu hạnh phúc. Hơn 3 năm qua, nhóm đã xây dựng được 27 cây cầu ở các vùng rừng núi xa xôi, mang lại niềm hạnh phúc cho người dân.