Ở Đà Nẵng, du lịch trở thành lớp học trải nghiệm

Mekong Eye (mekongeye.com) là trang web và mạng lưới báo chí chuyên cung cấp thông tin về môi trường, khí hậu và các vấn đề phát triển tại khu vực sông Mê Kông.

Đây là một dự án truyền thông phi lợi nhuận của Mạng lưới Báo chí Trái đất (Earth Journalism Network – EJN) thuộc tổ chức quốc tế Internews. Dự án này cũng nhận được sự tài trợ từ Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển (Sida).

***

Ở Đà Nẵng, du lịch trở thành lớp học trải nghiệm

mekongeye – By Alex Nguyễn

30 January 2026 at 12:09

Du lịch học tập cộng đồng (CLT) là nỗ lực bền bỉ ở Đà Nẵng, điểm nóng du lịch ở miền trung Việt Nam, nhằm chuyển dịch ngành du lịch vượt ra khỏi những giá trị giải trí và hưởng thụ thuần túy.

Một thành viên Hợp tác xã Du lịch Học tập Cộng đồng Kim Bồng trò chuyện với du khách về hệ sinh thái dừa nước trong chuyến đi thuyền dọc sông Thu Bồn tại Hội An. Ảnh: Quang Vinh

Read the English version here.

ĐÀ NẴNG, VIỆT NAM – Trong không gian mới xây của trung tâm du lịch học tập cộng đồng ở Giàn Bí – ngôi làng tái định cư của nhóm dân tộc thiểu số Cơ Tu tại Đà Nẵng, nhóm du khách trung niên chăm chú lắng nghe người dân địa phương thuyết minh về nghề dệt truyền thống. Mỗi người một cuốn sổ tay, họ ghi chép cẩn thận từng chi tiết về nghề dệt.

Đến buổi chiều, đoàn tiếp tục gặp gỡ một nông dân ở thung lũng Nam Yên gần bên để tìm hiểu về thực trạng khan hiếm nước và mô hình phục hồi rừng. Sang ngày hôm sau, trong trải nghiệm du ngoạn bằng thuyền trên hạ lưu sông Thu Bồn, nhóm khách lại được nghe người dân chia sẻ về hệ sinh thái rừng dừa nước. Một lần nữa, họ lại chăm chú ghi chép.

Chỉ trong ít ngày, nhóm du khách đã đi qua nhiều khu vực ở Đà Nẵng – điểm nóng du lịch của miền Trung Việt Nam – để trải nghiệm và tìm hiểu sự đa dạng địa lý, văn hoá cũng như các thách thức mà mỗi cộng đồng đang đối mặt.

Mô hình này được gọi là du lịch học tập cộng đồng (tiếng Anh “community-based learning tourism,” viết tắt là CLT), một hình thức du lịch đã và đang bén rễ tại nhiều địa phương ở Đà Nẵng. Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở chỗ: thay vì chỉ đóng vai người biểu diễn hay phục vụ khách du lịch, người dân địa phương đã trở thành “giảng viên”, mời gọi du khách cùng thâm nhập và trải nghiệm đời sống thường nhật của họ.

Mục tiêu cốt lõi của mô hình này là bảo tồn hệ sinh thái địa phương và tạo một nguồn sinh kế mang giá trị bền vững cho cộng đồng.

Du lịch học tập cộng đồng (CLT) là nỗ lực bền bỉ ở Đà Nẵng nhằm chuyển dịch ngành du lịch vượt ra khỏi những giá trị giải trí và hưởng thụ thuần túy. Mô hình này cũng đặt người dân địa phương vào trung tâm trải nghiệm, trao cho họ quyền tự quyết để biến du lịch thành một yếu tố cải thiện sinh kế và môi trường sống của chính họ, thay vì bào mòn nó.

Tuy nhiều tiềm năng, CLT vẫn phải đối diện với nhiều thách thức từ biến đổi khí hậu, áp lực của làn sóng du lịch đại trà và tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng của địa phương.

Bà Bùi Thị Kim Cúc, Giám đốc Hợp tác xã Du lịch Học tập Cộng đồng Kim Bồng, chia sẻ về vùng hạ lưu sông Thu Bồn trong khuôn khổ một chương trình CLT. Ảnh: Quang Vinh
Thiên Quách, đại diện Cộng đồng VCIL và Xóm Tour, trò chuyện với các du khách trẻ. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Vượt lên những giá trị giải trí thuần tuý

Mô hình CLT là sự giao thoa giữa ba hoạt động chủ đạo: du lịch, học tập và đời sống cộng đồng. Du khách không chỉ dừng lại ở việc tham quan, tìm hiểu văn hoá địa phương mà còn trực tiếp tham gia vào các hoạt động thường nhật, sử dụng dịch vụ của cộng đồng, từ đó đóng góp thiết thực vào sinh kế của người dân địa phương.

Bằng việc đặt trọng tâm vào công tác bảo tồn và gìn giữ môi trường, CLT mang đến không gian để du khách sống chậm lại, tìm về sự kết nối với thiên nhiên và giúp việc nghỉ dưỡng trở nên ý nghĩa hơn.

Mô hình này nằm trong nỗ lực lớn hơn để tái định nghĩa về du lịch – không còn là một ngành công nghiệp “khai thác” cạn kiệt tài nguyên, mà là công cụ để trao quyền cho cộng đồng, bảo tồn văn hóa và thúc đẩy sự phát triển bền vững.

Đại diện XomTour, sáng kiến xã hội thúc đẩy sự chuyển dịch sang những thực hành du lịch mang tính tái tạo trong ngành du lịch ở Đà Nẵng, và là đơn vị hỗ trợ kết nối các đoàn khách quốc tế đến trải nghiệm mô hình du lịch học tập cộng đồng, anh Quách Thanh Thiên chia sẻ: ”Chúng tôi mong muốn tái hình dung cách trải nghiệm du lịch, để nó trở thành công cụ tác động xã hội, sinh thái và văn hoá, thay vì xói mòn những giá trị đó.”

Ở Cẩm Thanh, nơi du lịch từng chỉ gói gọn trong những hoạt động cốt để mua vui đơn thuần như lắc thúng, chèo thuyền, hay các tiết mục văn nghệ, ăn uống thì nay đã mở thêm không gian cho việc nghiên cứu và bảo tồn rừng dừa nước.

Hay tại Cẩm Kim, nơi những làng nghề truyền thống đang dần mai một như đóng tàu, đánh cá và làm bánh tráng cũng đang hồi sinh mạnh mẽ nhờ các chương trình CLT. Trong khi đó ở Hòa Bắc, du khách không còn chỉ đến để “săn mây” hay leo núi; họ còn có thêm lựa chọn tìm hiểu về các mô hình giữ nước và phục hồi rừng nguyên sinh.

Những nỗ lực này không chỉ dừng ở giá trị bảo tồn và phát triển bền vững cho nguồn lực tự nhiên của các địa phương, mà còn tái định nghĩa về thịnh vượng và giá trị của một vùng đất.

Từ phương thức tiếp cận ABCD – Phát triển dựa trên tài sản cộng đồng (tiếng Anh “Asset-Based Community Development”), CLT nhìn nhận mỗi cộng đồng có nội lực riêng, có khả năng tự chủ và phát triển tương lai của mình. Không còn là đối tượng thụ hưởng thụ động từ hoạt động du lịch, các cộng đồng địa phương giờ đây chủ động xây dựng sản phẩm dựa trên chính nguồn lực và kho tàng tri thức bản địa sẵn có.

Trong mô hình du lịch học tập cộng đồng, người dân địa phương chính là “linh hồn”, giữ vị thế bình đẳng với các chủ thể khác là doanh nghiệp, chính quyền hay nhà nghiên cứu. Họ không còn đứng bên lề mà chủ động kiến tạo tri thức, chia sẻ trải nghiệm và trực tiếp hưởng lợi kinh tế.

Mặt khác, thay vì tâm lý thụ hưởng từ các hoạt động giải trí thuần tuý, du khách dần hình thành sự gắn kết, ý thức và trách nhiệm bảo tồn từ các chuỗi hoạt động thiết thực như lưu trú nhà dân, tham gia phân loại rác, các hoạt động bảo tồn hệ sinh thái biển.

So với mô hình du lịch đại trà, vốn xây dựng dựa trên mối quan hệ doanh nghiệp – khách hàng, hình thức này là một công cụ mạnh mẽ để giảm bất bình đẳng nếu thu hút được sự tham gia của người dân địa phương và các trụ cột vào quá trình phát triển chung.

Các thành viên Hợp tác xã Du lịch Học tập Cộng đồng Kim Bồng trên chuyến đi thuyền thu gom cây giống và trồng dừa nước. Ảnh: Thuỳ Dung

Những rào cản về sinh kế vẫn hiện hữu

Tại Đà Nẵng, mô hình CLT bắt đầu những ngày đầu tiên ở Cù Lao Chàm, cụm đảo được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Từ vài nghìn đến hàng trăm nghìn lượt khách, khu vực nhanh chóng đối diện với tác động tiêu cực của du lịch. Từng là một “viên ngọc thô” hoang sơ, cụm đảo này đã có lúc phải gánh chịu tình trạng ô nhiễm rác thải nghiêm trọng và hệ sinh thái biển rơi vào trạng thái báo động đỏ khi làn sóng du khách đổ về.

Đứng trước thách thức đó, nhóm chuyên gia của khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm bắt tay cùng cộng đồng địa phương, tìm lời giải cho bài toán cân bằng của bảo tồn và du lịch. Cũng từ đây, nền tảng khoa học đầu tiên cho cộng đồng địa phương về CLT dần thành hình.

Thành công của Cù Lao Chàm là một minh chứng rõ nét của mô hình CLT. Sau 10 năm triển khai, hơn 40% cư dân đã chuyển đổi sinh kế từ đánh bắt hải sản sang làm du lịch sinh thái với hơn 12 loại hình sinh kế mới. Đặc biệt, thu nhập bình quân đầu người tại đây đã ghi nhận mức tăng trưởng ngoạn mục gấp 4 lần trong giai đoạn 2005–2012. Thu nhập và chất lượng cuộc sống được cải thiện thông qua hoạt động du lịch sinh thái đã tạo thêm động lực cho người dân tích cực tham gia bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên để tiếp tục phát triển sinh kế của mình một cách bền vững.

Mô hình CLT về sau dần nảy nở ở nhiều cộng đồng khác như Cẩm Thanh, Cẩm Kim hay Hoà Bắc. Tuy nhiên, tại các địa phương, mô hình cũng phải đối mặt với không ít rào cản và thách thức.

Ông A Lăng Như, giám đốc hợp tác xã Nông Nghiệp sinh thái và du lịch cộng đồng Tà Lang – Giàn Bí, cũng thừa nhận những hạn chế trong nguồn thu nhập từ du lịch học tập cộng đồng. Ông cho rằng, sự ra đời của hợp tác xã là mắt xích thiết yếu để cộng đồng cam kết xây dựng một nguồn sinh kế bền vững từ du lịch.

“Sản phẩm du lịch cộng đồng hiện vẫn chưa thực sự đa dạng, và đây chính là bài toán chúng tôi đang nỗ lực tìm lời giải”, ông chia sẻ với tờ Mekong Eye.

Cũng theo ông, hợp tác xã đóng vai trò khuyến khích người dân kiến tạo các sản phẩm bền vững từ nghề thủ công, ẩm thực cho đến các hoạt động trải nghiệm. “Từ đó, du lịch mới mang lại nguồn thu nhập ổn định, giúp các gia đình có điều kiện tái đầu tư vào vườn tược, ao hồ để tiếp tục phát triển các sản phẩm du lịch, thay vì phá rừng trồng keo để làm kinh tế” – ông phân tích thêm.

Mô hình hợp tác xã ra đời ở cộng đồng khuyến khích các thành viên tham gia đồng kiến tạo, định hình được mô hình phát triển cũng như chăm sóc không gian sống, thay vì đơn thuần hưởng lợi từ các hoạt động mang tính thời vụ như biểu diễn cồng chiêng, chèo thuyền với mức thù lao cố định. 

Tại đây, các thành viên cùng chia sẻ doanh thu tổng thể, thụ hưởng những lợi ích dài hạn hơn, từ đó tạo động lực mạnh mẽ để họ đóng góp vào việc xây dựng một nền kinh tế du lịch bền vững do chính cộng đồng làm chủ.

A Lăng Như, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Sinh thái và Du lịch Cộng đồng Tà Lang – Giàn Bí, trong một chương trình học tập cộng đồng. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Với mô hình CLT, tệp khách hàng lựa chọn mô hình du lịch vẫn còn giới hạn, thường tập trung vào nhóm chuyên gia, sinh viên. Do đó, vai trò của nhóm doanh nghiệp kết nối trở nên cần thiết, anh Quách Thanh Thiên nhận định: “Chúng tôi muốn đa dạng hoá các trải nghiệm du lịch, đáp ứng cho phân khúc khách hàng khác như doanh nghiệp bên cạnh nhóm nghiên cứu, giáo dục, bảo tồn. Du lịch học tập cộng đồng có nhiều điều để níu chân du khách trở lại, nó tập trung vào khía cạnh trải nghiệm, kết nối mối quan hệ giữa người với người, cho du khách thấy được tác động của họ với địa phương thì họ sẽ có nhiều động lực hơn để quay trở lại”.

Bên cạnh đó, mô hình này đòi hỏi người dân địa phương không ngừng bồi dưỡng kỹ năng và đổi mới tư duy. Dẫu các chuyên gia có thể hỗ trợ thiết kế mô hình hoặc tư vấn kỹ thuật trong giai đoạn đầu, nhưng khả năng vận hành về lâu dài vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào những người dân thực sự tâm huyết và đủ năng lực để tự thúc đẩy sự phát triển.
“Suy cho cùng, công tác bảo tồn phải dựa vào người dân”, ông Chu Mạnh Trinh, một chuyên gia về mô hình CLT, từng nhận định.

Ở nhiều hợp tác xã ít nhân lực vận hành, việc truyền thông và phát triển mô hình cũng là một thách thức lớn. ”Người dân địa phương có thể là người kể chuyện và kiến tạo trải nghiệm thú vị, nhưng để thực hiện các hoạt động truyền thông, chúng tôi cần những người trẻ, những người am hiểu cả địa lý, lịch sử lẫn công nghệ, để giới thiệu mô hình này phổ biến hơn” – Chú Nhất, đội trưởng đội tàu thuyền hợp tác xã Kim Bồng chia sẻ.

Lấy thiên nhiên làm trọng tâm

Cải thiện thu nhập cho người dân không phải là mục tiêu duy nhất cho Đà Nẵng, nhất là khi bối cảnh miền Trung Việt Nam đang phải gồng mình đối phó với cuộc khủng hoảng khí hậu và rác thải.

Giữa bối cảnh ngập lụt và ô nhiễm nhựa ngày càng trầm trọng, khu vực này vẫn đang đẩy mạnh việc xây dựng các khu nghỉ dưỡng, dự án nhà ở và tổ hợp vui chơi giải trí. Tốc độ phát triển nóng này đang tạo ra áp lực đè nặng lên các hệ sinh thái vốn mong manh như rừng tự nhiên, vùng ven biển và khu vực cửa sông.

Việc bảo vệ các hệ sinh thái này là ưu tiên hàng đầu đối với những người làm du lịch học tập cộng đồng (CLT). Theo bà Bùi Thị Kim Cúc, Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp sinh thái và du lịch học tập cộng đồng Kim Bồng, việc đặt công tác bảo tồn làm giá trị cốt lõi là yếu tố then chốt để giảm bớt áp lực về sinh kế.

Bởi lẽ, người dân vẫn duy trì những công việc riêng như đánh bắt, làng nghề truyền thống, nuôi trồng, và tạo thêm sinh kế nhờ du lịch, nhưng về bản chất đây là nỗ lực để bảo tồn hệ sinh thái xung quanh đời sống cộng đồng, và cho cả một hệ sinh thái rộng khắp.

Chiêu Kỳ, người từng tham gia CLT và nay trở thành người đồng hành hỗ trợ chương trình tại Hòa Bắc. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Chiêu Kỳ là một bạn trẻ bén duyên với mô hình CLT ở Hoà Bắc với tư cách du khách. Sau một thời gian, chị quyết định quay trở lại hỗ trợ các cộng đồng với tư cách điều phối viên kết nối cộng đồng, hỗ trợ công tác phiên dịch hay thực hiện các chương trình du lịch học tập.

“Tôi đã thực sự xúc động khi thấu hiểu những mục tiêu mà du lịch cộng đồng Hòa Bắc đang theo đuổi,” Chiêu Kỳ nhớ lại. “Ưu tiên hàng đầu của họ là phục hồi rừng và tái tạo môi trường địa phương. Tiếp đến là bảo tồn văn hóa của đồng bào Cơ Tu và thúc đẩy canh tác sạch, nông nghiệp thuận nhiên tại địa phương. Sau cùng mới là phát triển sinh kế, được đặt trong sự cân nhắc hài hòa với các giá trị môi trường và xã hội.”

Vào một buổi chiều muộn sau trận lũ lịch sử trên sông Thu Bồn tháng 10 vừa qua, ông Nhất, trưởng nhóm chèo thuyền, hồ hởi chỉ tay về phía những hàng dừa nước mà ông và các đồng nghiệp trong hợp tác xã vừa mới xuống giống.

Những tán cây vươn mình lớn nhanh chỉ sau một thời gian gieo cây mầm. Giờ đây, chúng không chỉ là tâm điểm của các hoạt động du lịch trải nghiệm như ông từng mong, mà còn mạnh mẽ bám chặt vào đất, như hàng rào chắn sóng cho ngôi làng chạy dọc hạ lưu sông, trước như cơn lũ dữ bất định trong tương lai.


About the writer

Alex Nguyễn

Alex Nguyễn is an independent writer based in Central Viet Nam. Her works focus on marginalized groups in contemporary Vietnamese society in vulnerable contexts such as climate change, cultural decline, and inequality. More by Alex Nguyễn

Leave a comment