Rome Statute of the International Criminal Court – Đạo luật Rome của Tòa Hình sự Quốc tế (Phần 8)

Dịch sang tiếng Việt: Phạm Thu Hương & Trần Đình Hoành

Mục lục >>
Dẫn nhập và Phần 1 >>
Phần 2 (từ Điều 5 đến Điều 8 bis) >>
Phần 2 (từ Điều 9 đến Điều 21) >>
Phần 3 >>
Phần 4 >>
Phần 5 >>
Phần 6 >>
Phần 7 >>
Phần 8 >>

PART 8. APPEAL AND REVISIONPHẦN 8. KHÁNG CÁO VÀ XEM LẠI
Article 81
Appeal against decision of acquittal or conviction or against sentence
Điều 81
Kháng cáo quyết định trắng án hoặc kết tội hoặc hình phạt
1. A decision under article 74 may be appealed in accordance with the Rules of Procedure and Evidence as follows:

(a) The Prosecutor may make an appeal on any of the following grounds:

(i) Procedural error,
(ii) Error of fact, or
(iii) Error of law;

(b) The convicted person, or the Prosecutor on that person’s behalf, may make an appeal on any of the following grounds:

(i) Procedural error,
(ii) Error of fact,
(iii) Error of law, or
(iv) Any other ground that affects the fairness or reliability of the proceedings or decision.
1. Quyết định theo điều 74 có thể bị kháng cáo theo Quy tắc về Thủ tục và Chứng cứ như sau:

(a) Công tố viên có thể kháng cáo dựa trên bất kỳ lý do nào sau đây:

(i) Sai về thủ tục,
(ii) Sai về sự kiện, hoặc
(iii) Sai về luật;

(b) Người bị kết tội, hoặc Công tố viên thay mặt người đó, có thể kháng cáo dựa trên bất kỳ lý do nào sau đây:

(i) Sai về thủ tục,
(ii) Sai về sự kiện,
(iii) Sai về luật, hoặc
(iv) Bất kỳ lý do nào khác ảnh hưởng đến tính ngay thẳng hoặc độ tin cậy của quá trình tố tụng hoặc quyết định.
2.

(a) A sentence may be appealed, in accordance with the Rules of Procedure and Evidence, by the Prosecutor or the convicted person on the ground of disproportion between the crime and the sentence;

(b) If on an appeal against sentence the Court considers that there are grounds on which the conviction might be set aside, wholly or in part, it may invite the Prosecutor and the convicted person to submit grounds under article 81, paragraph 1 (a) or (b), and may render a decision on conviction in accordance with article 83;

(c) The same procedure applies when the Court, on an appeal against conviction only, considers that there are grounds to reduce the sentence under paragraph 2 (a).
2.

(a) Hình phạt có thể bị kháng cáo, theo Quy tắc về Thủ tục và Chứng cứ, bởi Công tố viên hoặc người bị kết tội với lý do không cân xứng giữa hình tội và hình phạt;

(b) Nếu khi kháng cáo quyết định hình phạt, Tòa xét thấy có lý do làm cho sự kết tội có thể bị hủy bỏ, toàn bộ hoặc một phần, thì Tòa có thể mời Công tố viên và người bị kết tội đệ trình các lý do theo điều 81, đoạn 1 (a) hoặc (b), và có thể đưa ra quyết định kết tội theo điều 83;

(c) Thủ tục tương tự cũng được áp dụng khi Tòa, chỉ khi kháng cáo quyết định kết tội, xét thấy có lý do để giảm hình phạt theo đoạn 2 (a).
3.

(a) Unless the Trial Chamber orders otherwise, a convicted person shall remain in custody pending an appeal;

(b) When a convicted person’s time in custody exceeds the sentence of imprisonment imposed, that person shall be released, except that if the Prosecutor is also appealing, the release may be subject to the conditions under subparagraph (c) below;

(c) In case of an acquittal, the accused shall be released immediately, subject to the following:

(i) Under exceptional circumstances, and having regard, inter alia, to the concrete risk of flight, the seriousness of the offence charged and the probability of success on appeal, the Trial Chamber, at the request of the Prosecutor, may maintain the detention of the person pending appeal;

(ii) A decision by the Trial Chamber under subparagraph (c) (i) may be appealed in accordance with the Rules of Procedure and Evidence.
3.

(a) Trừ khi Phòng Xét xử ra lệnh khác, người bị kết tội sẽ bị giam trong khi chờ kháng cáo;

(b) Khi thời gian bị giam của người bị kết tội vượt quá hình phạt tù được tuyên án, người đó sẽ được thả, trừ khi Công tố viên cũng đang kháng cáo, việc thả có thể tùy vào các điều kiện theo điểm (c) dưới đây;

(c) Trong trường hợp trắng án, bị cáo sẽ được thả ngay lập tức, tùy vào những điều sau đây:

(i) Trong những trường hợp ngoại lệ, và có xét đến, giữa những điều khác, rủi ro cụ thể của bỏ chạy, tính nghiêm trọng của vi phạm bị cáo tố và khả năng kháng cáo thành công, Phòng Xét xử, theo yêu cầu của Công tố viên, có thể duy trì việc cầm tù người đang chờ kháng cáo;

(ii) Quyết định của Phòng Xét xử theo điểm (c) (i) có thể bị kháng cáo theo Quy tắc về Thủ tục và Chứng cứ.
4. Subject to the provisions of paragraph 3 (a) and (b), execution of the decision or sentence shall be suspended during the period allowed for appeal and for the duration of the appeal proceedings.4. Theo các điều khoản tại đoạn 3 (a) và (b), việc thi hành quyết định hoặc hình phạt sẽ được tạm hoãn trong thời gian được phép kháng cáo và trong thời gian tiến hành kháng cáo.
Article 82
Appeal against other decisions
Điều 82
Kháng cáo các quyết định khác
1. Either party may appeal any of the following decisions in accordance with the Rules of Procedure and Evidence:

(a) A decision with respect to jurisdiction or admissibility;

(b) A decision granting or denying release of the person being investigated or prosecuted;

(c) A decision of the Pre-Trial Chamber to act on its own initiative under article 56, paragraph 3;

(d) A decision that involves an issue that would significantly affect the fair and expeditious conduct of the proceedings or the outcome of the trial, and for which, in the opinion of the Pre-Trial or Trial Chamber, an immediate resolution by the Appeals Chamber may materially advance the proceedings.
1. Một trong hai bên có thể kháng cáo bất kỳ quyết định nào sau đây theo Quy tắc về Thủ tục và Chứng cứ:

(a) Quyết định liên quan đến thẩm quyền tài phán hoặc thụ lý;

(b) Quyết định cho phép hoặc từ chối thả người đang bị điều tra hoặc truy tố;

(c) Quyết định của Phòng Tiền-Xét-xử tự hành động theo điều 56, đoạn 3;

(d) Quyết định liên quan đến một vấn đề có thể ảnh hưởng quan trọng đến việc tiến hành quá trình tố tụng ngay thẳng và nhanh chóng hoặc kết quả của phiên tòa, và, theo ý kiến của Phòng Tiền-Xét-xử hoặc Phòng Xét xử, một giải pháp ngay lập tức bởi Phòng Kháng cáo có thể cải thiện đáng kể quá trình tố tụng.
2. A decision of the Pre-Trial Chamber under article 57, paragraph 3 (d), may be appealed against by the State concerned or by the Prosecutor, with the leave of the Pre-Trial Chamber. The appeal shall be heard on an expedited basis.2. Quyết định của Phòng Tiền-Xét-xử theo điều 57, đoạn 3 (d), có thể bị kháng cáo bởi Quốc gia liên quan hoặc bởi Công tố viên, với sự cho phép của Phòng Tiền-Xét-xử. Kháng cáo sẽ được nghe nhanh chóng.
3. An appeal shall not of itself have suspensive effect unless the Appeals Chamber so orders, upon request, in accordance with the Rules of Procedure and Evidence.3. Tự bản thân kháng cáo sẽ không có hiệu lực tạm hoãn trừ khi Phòng Kháng cáo ra lệnh, theo yêu cầu, theo Quy tắc về Thủ tục và Chứng cứ.
4. A legal representative of the victims, the convicted person or a bona fide owner of property adversely affected by an order under article 75 may appeal against the order for reparations, as provided in the Rules of Procedure and Evidence.4. Đại diện pháp lý của nạn nhân, người bị kết tội hoặc người chủ thật của tài sản bị ảnh hưởng bất lợi bởi một lệnh theo điều 75 có thể kháng cáo quyết định lệnh bồi thường, như được quy định trong Quy tắc về Thủ tục và Chứng cứ.
Article 83
Proceedings on appeal
Điều 83
Thủ tục kháng cáo
1. For the purposes of proceedings under article 81 and this article, the Appeals Chamber shall have all the powers of the Trial Chamber.1. Cho các mục đích tố tụng theo điều 81 và điều 83 này, Phòng Kháng cáo sẽ có mọi quyền hành của Phòng Xét xử.
2. If the Appeals Chamber finds that the proceedings appealed from were unfair in a way that affected the reliability of the decision or sentence, or that the decision or sentence appealed from was materially affected by error of fact or law or procedural error, it may:

(a) Reverse or amend the decision or sentence; or

(b) Order a new trial before a different Trial Chamber.

For these purposes, the Appeals Chamber may remand a factual issue to the original Trial Chamber for it to determine the issue and to report back accordingly, or may itself call evidence to determine the issue. When the decision or sentence has been appealed only by the person convicted, or the Prosecutor on that person’s behalf, it cannot be amended to his or her detriment.
2. Nếu Phòng Kháng cáo nhận thấy rằng quá trình bị kháng cáo là không ngay thẳng theo cách ảnh hưởng đến độ tin cậy của quyết định hoặc hình phạt, hoặc quyết định hoặc hình phạt bị kháng cáo bị ảnh hưởng đáng kể do sai về sự kiện hoặc về luật hoặc sai về thủ tục, thì có thể:

(a) Đảo ngược hoặc sửa đổi quyết định hoặc hình phạt; hoặc

(b) Ra lệnh một phiên tòa mới trước một Phòng Xét xử khác.

Vì những mục đích này, Phòng Kháng cáo có thể gửi trả một vấn đề về sự kiện cho Phòng Xét xử ban đầu để Phòng này xác định vấn đề và báo cáo lại cho phù hợp, hoặc có thể tự xét chứng cứ để xác định vấn đề. Khi quyết định hoặc hình phạt chỉ bị kháng cáo bởi người bị kết tội, hoặc Công tố viên thay mặt người đó, thì quyết định hoặc hình phạt đó không thể được sửa đổi về hướng thiệt hại cho người đó.
3. If in an appeal against sentence the Appeals Chamber finds that the sentence is disproportionate to the crime, it may vary the sentence in accordance with Part 7.3. Nếu trong kháng cáo quyết định hình phạt, Phòng Kháng cáo nhận thấy rằng hình phạt không cân xứng với hình tội, thì có thể thay đổi hình phạt theo Phần 7.
4. The judgement of the Appeals Chamber shall be taken by a majority of the judges and shall be delivered in open court. The judgement shall state the reasons on which it is based. When there is no unanimity, the judgement of the Appeals Chamber shall contain the views of the majority and the minority, but a judge may deliver a separate or dissenting opinion on a question of law.4. Phán quyết của Phòng Kháng cáo sẽ do đa số thẩm phán thực hiện và sẽ được đọc tại phiên tòa mở. Phán quyết phải tuyên bố lý do phán quyết dựa vào. Khi không có sự nhất trí, phán quyết của Phòng Kháng cáo sẽ có quan điểm của đa số và thiểu số, nhưng thẩm phán có thể đọc ý kiến riêng biệt hoặc bất đồng về một vấn đề luật.
5. The Appeals Chamber may deliver its judgement in the absence of the person acquitted or convicted.5. Phòng Kháng cáo có thể đọc phán quyết của mình khi không có mặt người được tuyên trắng án hoặc bị kết án.
Article 84
Revision of conviction or sentence
Điều 84
Xem lại kết tội hoặc hình phạt
1. The convicted person or, after death, spouses, children, parents or one person alive at the time of the accused’s death who has been given express written instructions from the accused to bring such a claim, or the Prosecutor on the person’s behalf, may apply to the Appeals Chamber to revise the final judgement of conviction or sentence on the grounds that:

(a) New evidence has been discovered that:

(i) Was not available at the time of trial, and such unavailability was not wholly or partially attributable to the party making application; and

(ii) Is sufficiently important that had it been proved at trial it would have been likely to have resulted in a different verdict;

(b) It has been newly discovered that decisive evidence, taken into account at trial and upon which the conviction depends, was false, forged or falsified;

(c) One or more of the judges who participated in conviction or confirmation of the charges has committed, in that case, an act of serious misconduct or serious breach of duty of sufficient gravity to justify the removal of that judge or those judges from office under article 46.
1. Người bị kết tội, hoặc sau khi chết, vợ hoặc chồng, con cái, cha mẹ hoặc một người còn sống tại thời điểm bị cáo chết đã được chỉ dẫn rõ ràng bằng văn bản từ bị cáo để đưa ra yêu cầu, hoặc Công tố viên thay mặt bị cáo, có thể nộp đơn đến Phòng Kháng cáo để xem lại phán quyết cuối cùng về kết tội hoặc hình phạt với lý do:

(a) Chứng cứ mới đã được phát hiện rằng:

(i) Không có sẵn tại thời điểm phiên tòa, và sự không có sẵn đó không phải hoàn toàn hoặc một phần do người làm đơn; và

(ii) Đủ quan trọng đến mức nếu được chứng minh tại phiên tòa thì có thể dẫn đến một phán quyết khác;

(b) Mới phát hiện ra rằng chứng cứ có tính quyết định, có xét đến tại phiên tòa và dựa vào đó để kết tội, là không thật, giả hoặc làm sai lệch;

(c) Một hoặc nhiều thẩm phán tham gia kết tội hoặc xác nhận các cáo tố đã, trong trường hợp đó, thực hiện một hành vi xấu nghiêm trọng hoặc vi phạm nghiêm trọng nhiệm vụ đủ nặng để biện minh cho việc loại bỏ thẩm phán đó hoặc các thẩm phán đó khỏi văn phòng theo điều 46.
2. The Appeals Chamber shall reject the application if it considers it to be unfounded. If it determines that the application is meritorious, it may, as appropriate:

(a) Reconvene the original Trial Chamber;

(b) Constitute a new Trial Chamber; or

(c) Retain jurisdiction over the matter,

with a view to, after hearing the parties in the manner set forth in the Rules of Procedure and Evidence, arriving at a determination on whether the judgement should be revised.
2. Phòng Kháng cáo sẽ từ chối đơn nếu xét thấy đơn không có cơ sở. Nếu Phòng Kháng cáo xác định rằng đơn đáng tin cậy, Phòng có thể, nếu thích hợp:

(a) Triệu tập lại Phòng Xét xử ban đầu;

(b) Thành lập Phòng Xét xử mới; hoặc

(c) Giữ thẩm quyền tài phán đối với vấn đề này,

với mục đích, sau khi nghe các bên theo cách thức được quy định trong Quy tắc về Thủ tục và Chứng cứ, đi đến quyết định về việc liệu phán quyết có nên được xem lại hay không.
Article 85
Compensation to an arrested or convicted person
Điều 85
Bồi thường cho người bị bắt hoặc bị kết tội
1. Anyone who has been the victim of unlawful arrest or detention shall have an enforceable right to compensation.1. Bất kỳ ai là nạn nhân của việc bắt hoặc cầm tù bất hợp pháp sẽ có quyền được bồi thường.
2. When a person has by a final decision been convicted of a criminal offence, and when subsequently his or her conviction has been reversed on the ground that a new or newly discovered fact shows conclusively that there has been a miscarriage of justice, the person who has suffered punishment as a result of such conviction shall be compensated according to law, unless it is proved that the non-disclosure of the unknown fact in time is wholly or partly attributable to him or her.2. Khi một người theo quyết định cuối cùng bị kết tội về vi phạm hình sự, và rồi sau đó, kết tội của họ được đảo ngược với lý do một sự kiện mới hoặc mới được phát hiện cho thấy chắc chắn rằng đã có sai lầm trong công lý, thì người phải chịu hình phạt do kết tội đó sẽ được bồi thường theo pháp luật, trừ khi người ta chứng minh được rằng việc không tiết lộ sự kiện không biết đúng thời điểm là hoàn toàn hoặc một phần do chính người đó.
3. In exceptional circumstances, where the Court finds conclusive facts showing that there has been a grave and manifest miscarriage of justice, it may in its discretion award compensation, according to the criteria provided in the Rules of Procedure and Evidence, to a person who has been released from detention following a final decision of acquittal or a termination of the proceedings for that reason.3. Trong những trường hợp ngoại lệ, khi Tòa phát hiện ra các sự kiện chắc chắn cho thấy rằng có sai lầm công lý nghiêm trọng và rõ ràng, Tòa có thể tùy ý quyết định bồi thường, theo các tiêu chí được quy định trong Quy tắc về Thủ tục và Chứng cứ, cho một người đã được thả khỏi cầm tù sau khi có quyết định cuối cùng về trắng án hoặc chấm dứt thủ tục tố tụng vì lý do đó.
…..…..

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s