Những điểm bất hợp lý trong Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc – 2 kỳ

Kỳ 1: Mập mờ về các vùng biển

Kỳ cuối: Tạo tiền đề để hiện thực hóa mưu đồ độc chiếm biển Đông

Tàu Trung Quốc cố tình đâm một tàu kiểm ngư của Việt Nam, trong khi một tàu khác của Trung Quốc bắn vòi rồng. Vụ việc xảy ra hồi tháng 6-2014 trên vùng biển của Việt Nam.

***

Những điểm bất hợp lý trong Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc (kỳ 1)

08:20 12/04/2021 – cand

Sau hơn 2 tháng chính thức có hiệu lực, Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc tiếp tục thu hút sự chú ý của dư luận và gây nhiều tranh cãi, bất bình do có những điểm vi phạm Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).

Kỳ 1: Mập mờ về các vùng biển

Vi phạm UNCLOS về vùng nước thuộc quyền tài phán

Cảnh sát biển Trung Quốc (CCG) được thành lập vào năm 2013 trên cơ sở hợp nhất các cơ quan thực thi pháp luật trên biển trước đây được gọi là ngũ long gồm: Lực lượng hải giám (CMS), hải cảnh, ngư chính (cơ quan đảm bảo thực thi pháp luật ngư nghiệp), Tổng cục hải quan và Cơ quan hải dương Trung Quốc (GAC).

Theo đó, các lực lượng này khi hoạt động ở Biển Đông và biển Hoa Đông đều phải lấy danh nghĩa CCG. Việc hợp nhất các lực lượng hàng hải thành một tổ chức thống nhất, nằm dưới sự điều hành của một cơ quan chủ quản duy nhất là một phần trong kế hoạch đầy tham vọng của Trung Quốc nhằm phát triển lực lượng tuần duyên có quy mô sức mạnh ngang bằng các quốc gia khác như Mỹ, Nhật Bản và giúp cho việc tập trung hoá chiến lược xâm lấn biển.

Còn về Luật Hải cảnh mới, Bộ Ngoại giao Trung Quốc từng tuyên bố việc ban hành luật này là “một hoạt động lập pháp bình thường” và “các nội dung liên quan đều phù hợp với các công ước và thông lệ quốc tế”.

Nhưng xem xét kỹ hơn văn bản của luật thì lại thấy nó khác rất nhiều so với các quy định của UNCLOS 1982 mà Trung Quốc là một quốc gia thành viên. GS Shigeki Sakamoto, chuyên về luật pháp quốc tế tại Đại học Doshisha ở Tokyo (Nhật Bản) trong một bài phân tích gửi trang Lawfareblog cho hay, Điều 3 của Luật Hải cảnh mới quy định rằng, CCG sẽ tiến hành các hoạt động thực thi pháp luật trên các vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc và trong vùng trời phía trên vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc.

Tàu cảnh sát biển Nhật Bản (bên phải, phía trước) di chuyển song song với tàu hải cảnh Trung Quốc (bên trái, phía sau) gần nhóm đảo Senkaku/Điếu Ngư. Ảnh: JCG.
Tàu của Hải cảnh Trung Quốc và Nhật Bản tại vùng biển gần quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư.

Theo UNCLOS, các vùng biển thuộc quyền tài phán của một quốc gia là nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và vùng nước của thềm lục địa (bao gồm cả thềm lục địa mở rộng). Nhưng quan điểm của Trung Quốc về các vùng nước có quyền tài phán ở Biển Đông từ lâu đã mâu thuẫn với UNCLOS.

“Trung Quốc đơn phương tuyên bố chủ quyền đường chín đoạn ở Biển Đông. Nguồn gốc của đường chín đoạn bắt nguồn từ ngày 1/12/1947, khi chính quyền Bắc Kinh ban hành hai tài liệu do Bộ Nội vụ lập: Bảng tham chiếu chéo về tên mới và tên cũ của các đảo ở Biển Đông và Bản đồ vị trí của các quần đảo ở Biển Đông.

Những tài liệu này mô tả một đường chín đoạn hay còn gọi là đường lưỡi bò gồm mười một phần bao quanh quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Năm 2009, Trung Quốc còn đệ trình một công hàm lên Liên hợp quốc (LHQ) trong đó đính kèm một bản đồ về khu vực rộng lớn trên Biển Đông được bao quanh bởi đường chín đoạn với tuyên bố rằng Trung Quốc có chủ quyền đối với khu vực này.

Nhưng năm 2016, Toà án trọng tài (PCA) đã bác bỏ yêu sách đường chín đoạn trên Biển Đông của Trung Quốc bằng kết luận: “Yêu sách của Trung Quốc đối với các quyền lịch sử về các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong cái gọi là đường chín đoạn là không phù hợp với UNCLOS. PCA cũng khẳng định, khi Trung Quốc gia nhập UNLCOS và UNCLOS có hiệu lực, mọi quyền lịch sử mà Trung Quốc có thể có đối với các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong cái gọi là đường chín đoạn cũng đều bị thay thế”, GS Shigeki Sakamoto chỉ rõ và khẳng định: “Tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông là vô căn cứ”.

Tuy nhiên, cho đến nay, Trung Quốc vẫn từ chối thực hiện phán quyết của PCA và Luật Hải cảnh mới một lần nữa lại sử dụng cụm từ “vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc”, ngang nhiên tuyên bố CCG sẽ tiến hành các hoạt động thực thi pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích hàng hải tại các vùng biển mà Trung Quốc không thể thực hiện quyền tài phán theo quy định của UNCLOS.

“Tác động của việc này là rất lớn bởi lẽ trước đây, khi căn cứ vào Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1992, Trung Quốc cũng đã thực hiện trái pháp luật quyền tài phán của mình và đơn phương thiết lập các vùng lãnh hải xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu ngư”, GS Shigeki Sakamoto viết.

“Bàn đạp” để đối phó với tàu nước ngoài

Một thành phần quan trọng hơn của Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc là Điều 83, quy định rằng “CCG thực hiện các hoạt động quốc phòng và các nhiệm vụ khác theo Luật Quốc phòng, Luật Cảnh sát vũ trang và các luật khác có liên quan, các quy định của quân đội, và lệnh của Quân ủy Trung ương.

Nói cách khác, Luật Hải cảnh mới chỉ rõ CCG là một tổ chức có chức năng kép của hải quân, tiến hành các hoạt động phòng thủ trong vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc và là cơ quan thực thi pháp luật trên biển”.

Sự hợp tác giữa CCG và Hải quân Trung Quốc bắt đầu từ tháng 7/2020, trong một cuộc tập trận chung. Trong cuộc tập trận này, tàu đổ bộ Type 071 của Hải quân Trung Quốc và các tàu khác đã tham gia. Các binh sĩ của CCG, được sự hỗ trợ của hải quân, đã đổ bộ lên một đảo và tiến hành một cuộc tập trận để khuất phục những công dân kháng cự.

Bryan Clark, một thành viên cấp cao và chuyên gia hải quân tại Viện Hudson có trụ sở tại Washington, nói rằng, cuộc tập trận không nhằm mô phỏng một cuộc tấn công nhằm vào một lực lượng quân sự khác, mà là sử dụng quân đội trong một hoạt động của cảnh sát để trấn áp tình trạng bất ổn tiềm tàng của dân thường.

“Đây là bước chuẩn bị để ngăn các quốc gia tăng cường kiểm soát hiệu quả đối với các quần đảo trên Biển Đông”, ông Bryan Clark nhận định và cho biết thêm, Điều 12 của Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc đã quy định trách nhiệm của CCG như sau: (i) Trên các vùng biển thuộc thẩm quyền của mình, tuần tra, cảnh giác, túc trực trên các đảo trọng yếu, quản lý, bảo vệ biên giới biển, ngăn chặn, kiềm chế, xóa bỏ các hành vi đe dọa chủ quyền, an ninh, lợi ích biển của quốc gia; (ii) Bảo vệ an toàn các mục tiêu trọng yếu trên biển và các hoạt động quan trọng, thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ an toàn các đảo trọng yếu, cũng như các đảo nhân tạo, các công trình và cơ chế trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Điều 20 thì cho phép CCG ra lệnh đình chỉ các hoạt động bất hợp pháp, bao gồm cả việc lắp đặt các cơ sở và tòa nhà của các tổ chức hay cá nhân nước ngoài, hoặc ra lệnh cải thiện tình hình trong một thời hạn quy định. Trong trường hợp bị từ chối, luật cho phép CCG, khi cần thiết, theo đuổi các biện pháp trừng phạt khác nhau như dỡ bỏ các cơ sở và tòa nhà này…

Đồng thời, ông Bryan Clark cũng lưu ý rằng, Luật Hải cảnh mới cho phép có các biện pháp bắt buộc chống lại tàu chiến nước ngoài. Chẳng hạn Điều 21 quy định rằng, trong trường hợp tàu quân sự nước ngoài hoặc tàu chính phủ hoạt động vì mục đích phi thương mại vi phạm luật nội địa của Trung Quốc trong vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc, CCG sẽ có quyền thực hiện các biện pháp kiểm soát an ninh cần thiết để hạn chế hoạt động tàu quân sự nước ngoài và các tàu nước ngoài. Đối với những tàu từ chối rời đi và gây tổn hại hoặc đe dọa nghiêm trọng, CCG có quyền áp dụng các biện pháp như trục xuất và buộc phải lai dắt.

Tàu Trung Quốc cố tình đâm một tàu kiểm ngư của Việt Nam, trong khi một tàu khác của Trung Quốc bắn vòi rồng. Vụ việc xảy ra hồi tháng 6-2014 trên vùng biển của Việt Nam.

Bổ sung thêm quan điểm về những điều luật vô lý này, PGS-TS Vũ Thanh Ca, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho hay, Điều 22 của Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc còn quy định rằng, CCG có thể sử dụng tất cả các biện pháp cần thiết, kể cả sử dụng vũ khí để ngăn chặn và loại bỏ các mối nguy hiểm khi các tổ chức và cá nhân nước ngoài xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia”.

PGS-TS Vũ Thanh Ca nhấn mạnh, ngay cả trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc xác lập theo UNCLOS, các quy định nêu trên trong Luật Hải cảnh mới đã trái với UNCLOS và nguy hiểm với cộng đồng quốc tế.

“Đối với vùng biển tuyên bố quyền chủ quyền và quyền tài phán sai trái của Trung Quốc trong phạm vi đường chín đoạn hoặc theo Tứ Sa, các quy định này lại càng nguy hiểm. Luật này sẽ biến tàu thuyền của các quốc gia ven biển hoạt động hợp pháp trong vùng biển của mình xác lập theo UNCLOS thành các hoạt động bất hợp pháp và là đối tượng để lực lượng Hải cảnh Trung Quốc tấn công, trục xuất, thậm chí nổ súng”, PGS-TS Vũ Thanh Ca phân tích.

Còn ông Bryan Clark thì cảnh báo: “Điều này không tương thích với UNCLOS bởi Điều 32 của Công ước quy định, đối với lãnh hải, với những ngoại lệ được nêu trong tiểu mục A và trong các điều 30 và 31, không điều gì trong Công ước này ảnh hưởng đến quyền miễn trừ của tàu chiến và các tàu khác của chính phủ hoạt động vì mục đích phi thương mại.

Và liên quan đến việc bảo vệ và gìn giữ môi trường biển, Điều 236 của UNCLOS quy định rằng, các điều khoản của công ước này liên quan đến bảo vệ và gìn giữ môi trường biển không áp dụng cho bất kỳ tàu chiến nào, tàu phụ trợ hải quân, các tàu khác hoặc máy bay do một quốc gia sở hữu hoặc khai thác và hiện chỉ được sử dụng cho dịch vụ phi thương mại của chính phủ.

Rõ ràng, Công ước trao quyền miễn trừ cho các tàu quân sự, tàu hỗ trợ quân sự và tàu chính phủ khỏi quyền tài phán thực thi của các quốc gia ven biển. Nếu CCG thực hiện các biện pháp như cưỡng bức kéo tàu chiến hoặc tàu của chính phủ, thì đó sẽ là hành vi vi phạm UNCLOS”.

Huyền Chi

***

Những điểm bất hợp lý trong Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc:

Kỳ cuối: Tạo tiền đề để hiện thực hóa mưu đồ độc chiếm biển Đông

07:04 13/04/2021 – Những quy định trong Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc đặc biệt với Điều 22 mở rộng phạm vi sử dụng vũ khí của Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc (CCG) với các tàu thuyền, tổ chức nước ngoài đặt ra nhiều thách thức đối với các quốc gia khác ở Thái Bình Dương và là một trong những nguyên do khiến tình hình trên Biển Đông ngày càng trở nên căng thẳng.

Chiêu bài “vùng cảnh báo hàng hải tạm thời”

Trong bài viết trên trang Lawfareblog, GS Shigeki Sakamoto chuyên về Luật pháp quốc tế tại Đại học Doshisha ở Tokyo (Nhật Bản) có nhắc đến Điều 25 về việc thiết lập “vùng cảnh báo hàng hải tạm thời” trong Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc.

Theo đó, một tổ chức CCG cấp tỉnh trở lên có thể thiết lập “vùng cảnh báo hàng hải tạm thời” trong vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc và hạn chế hoặc cấm tàu thuyền qua lại hoặc dừng lại nếu có bất kỳ trường hợp nào sau: (i) Khi cần thực hiện các nhiệm vụ an toàn và an ninh hàng hải; (ii) Khi cần kiểm soát các hoạt động tội phạm bất hợp pháp trên biển; (iii) Khi cần xử lý sự cố va chạm hàng hải; (iv) Khi cần bảo vệ tài nguyên biển và môi trường sinh thái; (v) Khi cần thiết lập thêm vùng cảnh báo hàng hải.

Điều mà các nhà phân tích lo ngại nhất là việc Trung Quốc cố gắng thiết lập một “vùng cảnh báo hàng hải tạm thời” tại một số vùng biển mà nước này đơn phương tuyên bố quyền tài phán với lý do là thực hiện các nhiệm vụ an ninh và an ninh hàng hải, như được đề cập trong Điều 25.

UNCLOS quy định tại Điều 25, khoản 3 rằng, quốc gia ven biển không phân biệt đối xử về hình thức hoặc trên thực tế giữa các tàu nước ngoài; tạm thời đình chỉ trong các khu vực cụ thể trên lãnh hải của mình cho tàu nước ngoài qua lại nếu việc đình chỉ đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, bao gồm cả các cuộc tập trận có vũ khí.

Việc đình chỉ như vậy sẽ chỉ có hiệu lực sau khi đã được công bố hợp lệ. Nếu việc thiết lập “vùng cảnh báo hàng hải tạm thời” được thực hiện đúng trong vùng biển của Trung Quốc thì sẽ không có vấn đề gì phát sinh. Nhưng nếu một quy định “phân biệt đối xử trên thực tế” được áp dụng đối với tàu nước ngoài trong một thời gian dài thì sẽ vi phạm UNCLOS.

Tàu USS Makin (LHD-8) và tàu sân bay USS Theodore Roosevelt (CVN-71) quá cảnh Biển Đông hôm 9/4. Ảnh US Navy

“Trường hợp vùng nước tiếp giáp cần đặc biệt chú ý. Điều 33 của UNCLOS cho phép các quốc gia ven biển áp đặt các quy định đối với các vùng tiếp giáp để “ngăn chặn việc vi phạm các luật và quy định về hải quan, tài khóa, nhập cư hoặc vệ sinh trong lãnh hải của mình”.

Tuy nhiên, Điều 13 của Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp của Trung Quốc mở rộng quyền tài phán về “an toàn” đối với các vùng tiếp giáp của mình lại nêu rõ rằng “Trung Quốc có quyền thực hiện các quyền trong vùng tiếp giáp của mình với mục đích ngăn chặn hoặc trừng phạt hành vi xâm phạm các luật và quy định về an ninh, hải quan, vệ sinh tài chính hoặc kiểm soát xuất nhập cảnh trong lãnh thổ đất liền, nội thủy hoặc lãnh hải của mình”.

Khi được đọc cùng với luật này, Luật Hải cảnh mới có thể cho phép Trung Quốc thiết lập vùng biển tạm thời trong vùng tiếp giáp, điều này cũng vi phạm UNCLOS”, GS Shigeki Sakamoto phân tích.

Điều 56 của UNCLOS quy định rằng “khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo Công ước này trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển phải xem trọng các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia khác và sẽ hành động tương thích với các quy định của Công ước này.

Điều 87 của UNCLOS có thảo luận về quyền tự do trên biển: “Các quyền tự do này sẽ được thực hiện bởi tất cả các quốc gia có quan tâm đến lợi ích của các quốc gia khác trong việc thực hiện quyền tự do trên biển và cũng quan tâm đến các quyền theo Công ước này đối với các hoạt động trong khu vực.

“Nếu Trung Quốc tuyên bố vùng biển trong đường chín đoạn là “vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc” và đơn phương thiết lập vùng báo động tạm thời trên biển tại vùng biển vốn thuộc vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia khác thì rõ ràng đây là hành vi vi phạm UNCLOS. Và Luật Hải cảnh mới đang “bổ sung vào kho vũ khí hợp pháp” của Trung Quốc trong việc hiện thực hoá âm mưu độc chiếm Biển Đông”, GS Shigeki Sakamoto cảnh báo.

TS Jay Batongbacal, Giám đốc Viện các vấn đề hàng hải và Luật biển thuộc Đại học Philippines thì bày tỏ: “Quyết định thông qua Luật Hải cảnh mới là sự tiếp nối các kế hoạch được thực hiện không ngừng nghỉ của Trung Quốc, nhằm từ từ cưỡng ép đối với Biển Đông, bất kể họ thiếu cơ sở pháp lý trong các tuyên bố chủ quyền, cũng như bất chấp các quyền lợi hợp pháp của các nước xung quanh.

Với tình hình lúc này, hành động của Trung Quốc đang khiến các nước nhỏ hơn ở Đông Nam Á phải suy nghĩ kỹ về Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC), vì đây rõ ràng là cách dằn mặt và phá hủy các nỗ lực của một số nước ASEAN với Trung Quốc trong việc xây dựng những quy tắc nhất trí về ứng xử ở các vùng nước tranh chấp ở Biển Đông”.

Nguy hiểm cho các quốc gia

Trên thực tế, cho đến nay, các tàu của CCG thường xuyên có những hành vi xâm phạm lãnh hải của các quốc gia khác. Tàu của CCG thường có thân màu trắng với các vạch màu xanh lam và được phân loại là tàu chính thức của chính phủ thuộc loại “tàu chính phủ hoạt động vì mục đích phi thương mại,” theo quy định tại Điều 31 của UNCLOS.

Câu hỏi đặt ra là sau khi Luật Hải cảnh mới có hiệu lực, liệu các tàu tuần tra của CCG có được trao thêm chức năng phòng thủ mới và thay đổi tình trạng pháp lý từ tàu chính phủ sang tàu chiến hay không?

Điều 29 của UNCLOS định nghĩa tàu chiến là “một con tàu thuộc lực lượng vũ trang của một quốc gia mang nhãn hiệu bên ngoài để phân biệt những con tàu khác mang quốc tịch của quốc gia đó. Tàu này được đặt dưới sự chỉ huy của một sĩ quan được chính phủ của quốc gia đó ủy nhiệm và có tên trong danh sách 35 dịch vụ thích hợp hoặc tương đương và được điều khiển bởi một thủy thủ đoàn thuộc trách nhiệm của lực lượng vũ trang”.

Trong khi đó, CCG có các tàu tuần tra được trang bị pháo 76mm cấp khu trục và điều đó có nghĩa tàu CCG có thể được coi là tàu lực lượng quân sự.

Thêm vào đó, hiện việc sử dụng vũ khí của CCG lại đang được tiến hành theo một loạt luật nội địa khác của Trung Quốc gồm Điều 10 và 11 của Luật Cảnh sát nhân dân; Điều 2, 4 và 9-11 của Quy định về trang bị an ninh và sử dụng vũ khí của Cảnh sát nhân dân; và Điều 9 của Quy chế hoạt động chấp hành pháp luật hàng hải của các cơ quan Công an.

Tất cả các điều này đều nêu rõ: “Nhân viên thực thi pháp luật của các tàu tuần tra biển chỉ được nổ súng khi cần thiết. Khi nổ súng, cảnh báo bằng lời nói hoặc cảnh báo nổ súng thường phải được đưa ra trước. Không được nổ súng khi không cần thiết và không được bắn vào tàu đang bị điều tra một cách không cần thiết. Nên hạn chế sử dụng vũ khí để khuất phục bên kia”.

Trong khi đó, Điều 22 của Luật Hải cảnh mới lại mở rộng phạm vi sử dụng vũ khí bao gồm cả các tổ chức nước ngoài còn Điều 47 là một điều khoản cho phép sử dụng vũ khí tích cực hơn. Cụ thể, Điều 47, Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc quy định, các nhân viên hải cảnh có thể sử dụng vũ khí cầm tay khi các tàu nước ngoài chống lại lệnh từ CCG và khi các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu lực.

“Luật này còn quy định CCG có quyền theo dõi và giám sát các tàu nước ngoài trong vùng tài phán của Trung Quốc; đồng thời giam giữ hoặc dùng vũ lực trục xuất các tàu nước ngoài hoạt động trong lãnh hải Trung Quốc, hoặc dùng vũ lực trục xuất các tàu quân sự hoặc tàu của chính phủ nước ngoài hoạt động trong vùng biển thuộc quyền tài phán.

Ngoài ra, luật cũng cho phép các tàu hải cảnh Trung Quốc sử dụng vũ khí gắn trên tàu, trên thiết bị bay và cầm tay trong các hoạt động chống khủng bố, trong những “sự cố nghiêm trọng” khi các tàu và máy bay hải cảnh bị tấn công bằng vũ khí và các thiết bị bạo lực khác…

Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc đã cho phép CCG sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực không chỉ trong vùng biển hợp pháp của Trung Quốc mà còn cả trong vùng biển hợp pháp của nhiều quốc gia khác xung quanh Biển Đông và biển Hoa Đông, như vậy là vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của các quốc gia xung quanh Biển Đông và ở khu vực biển Hoa Đông”, PGS-TS Vũ Thanh Ca phân tích.

Đồng quan điểm này, TS Jay Batongbacal cho rằng, việc được nổ súng trước tàu của các nước ven biển tại các vùng biển nước đó có quyền hợp pháp (ví dụ tàu cá hay tàu của nước nào đó trong vùng đặc quyền kinh tế) có thể xem như một hành vi sử dụng vũ lực thù địch, tức là một hành vi chiến tranh. Còn TS Lê Hồng Hiệp thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS) Singapore thì gọi đây là “nguy cơ tiềm ẩn rủi ro và gia tăng căng thẳng trên Biển Đông, thậm chí có thể dẫn tới xung đột vũ trang”.

Hơn nữa, Luật Hải cảnh mới cũng có thể giúp Trung Quốc răn đe các bên tranh chấp khác và tạo cơ sở pháp lý cho các hành vi ngang ngược hơn của Trung Quốc trên các vùng biển mà họ đơn phương đưa ra yêu sách…

GS Shigeki Sakamoto gọi Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc là một luật rất nguy hiểm cho hòa bình, an ninh khu vực Biển Đông và biển Hoa Đông và nhận định rằng những thay đổi này đặt ra những thách thức không nhỏ đối với các quốc gia khác ở Thái Bình Dương. Vì vậy, cộng đồng quốc tế cần phải có những nỗ lực quốc tế nhiều hơn nữa để kiềm chế những quy định và hoạt động sai trái của Trung Quốc. Theo quan điểm của PGS-TS Vũ Thanh Ca, các nỗ lực này cần được thể hiện về mặt ngoại giao như Nhật Bản và Philippines gửi Công hàm ngoại giao lên LHQ bác bỏ tuyên bố chủ quyền sai trái của Trung Quốc trên Biển Đông cũng như khẳng định luật này là nguy hiểm cho các hoạt động tuân thủ luật pháp quốc tế trên Biển Đông.

Trong tháng 3 và tháng 4, Mỹ, Anh, Đức và một số quốc gia khác đã cử tàu chiến vào Biển Đông để vô hiệu hóa luật này. Còn các quốc gia khác cần phải tạo tiếng nói đồng thuận để bác bỏ Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc; yêu cầu Trung Quốc sửa luật, tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế và làm rõ phạm vi “vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc” phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS.

Huyền Chi

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s