Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Chiều” – (“Mộ Khúc”) – Xuân Diệu & Phạm Duy

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi phẩm “Chiều” của Thi sĩ Xuân Diệu được Nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành nhạc phẩm “Mộ Khúc”.

Thi sĩ Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu, ông sinh ngày 2 tháng 2 năm 1916 – mất ngày 18 tháng 12 năm 1985. Ông là một trong những thi sĩ hàng đầu của Việt Nam. Sự nghiệp viết lách của ông có khoảng 450 bài, phần lớn vẫn còn nguyên bản thảo, đặc biệt là thơ tình, cùng với vài truyện ngắn, và một số bài phê bình văn học.

Ông sinh tại Gò Bồi, Tùng Giản, quận Tuy Phước, tỉnh Bình Định (quê ngoại của ông). Thân sinh của ông là cụ Ngô Xuân Thọ, thầy giáo, và bà Nguyễn Thị Hiệp. Ông học ở Qui Nhơn, Huế, và về sau ở Hà Nội (1938–1940). Ông tốt nghiệp bằng Kỹ sư Nông nghiệp năm 1943 và làm việc ở Mỹ Tho trước khi trở lại Hà Nội.

Mặc dù ông được mọi người biết đến là một thi sĩ thơ tình xuất sắc, nhưng cuộc hôn nhân của ông chỉ tồn tại có 6 tháng trước khi vợ chồng ông ly dị và ông sống độc thân cho đến cuối đời.

xuandieu4

Có nguồn dư luận tin rằng ông là người đồng tình luyến ái cùng với nhà thơ Huy Cận (người bạn nối khố thời trung học của ông) cũng như đã được ông thể hiện qua những bài thơ tình đề tặng riêng cho những người đàn ông khác. Những bài thơ này gồm có: “Tình Trai” – viết về cuộc tình của hai thi sĩ người Pháp, Arthur Rimbaud & Paul Verlaine, và “Em Đi” – một bài thơ tình đầy xúc cảm viết tặng riêng cho thi sĩ Hoàng Cát, người cùng sống chung với ông hai năm, khi ông Hoàng Cát phải vào Nam.

Trong sự nghiệp của ông, Xuân Diệu được biết đến như là một thi sĩ thượng thặng trong phong trào Thơ Mới, với biệt hiệu “Ông Hoàng Thơ Tình”. Ông cũng chính là người đã tặng cho nữ sĩ Hồ Xuân Hương biệt danh: “Nữ Hoàng Thơ Nôm”.

Thi sĩ Xuân Diệu còn là thành viên của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, và là một trong những nhà thơ tiên phong hoạt động đẩy mạnh phong trào Thơ Mới. Những bài tiêu biểu ông viết trong thời gian này là: “Thơ Thơ” (1938), “Gửi Hương Cho Gió” (1945), và truyện ngắn “Phấn Thông Vàng” (1939).

xuandieu2

Hai bài “Thơ Thơ”“Gửi Hương Cho Gió” được quần chúng công nhận là hai bài thơ lớn trong Văn học Việt Nam vì trong đó “tình yêu”, “đời sống”, “hạnh phúc”, “yêu cuộc đời” được ông ca ngợi tôn vinh cùng lúc với “tuổi trẻ”, “mùa xuân”, “thiên nhiên bảo bọc tình yêu”. Ngoài ra thơ ông còn cho thấy nỗi “buồn thương cho thời gian đã mất”, tính chất “vô thường của đời sống”, và niềm “khao khát cho một đời sống vĩnh cửu”.

Hiện nay tên của ông được đặt cho một con đường trong thành phố Hà Nội.

xuandieu1

Thi phẩm “Chiều” (Thi sĩ Xuân Diệu)

Hôm nay, trời nhẹ lên cao,
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
Lá hồng rơi lặng ngõ thuôn,
Sương trinh rơi kín từ nguồn yêu thương.
Phất phơ hồn của bông hường,
Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng.
Nghe chừng gió nhớ qua sông,
E bên lau lách thuyền không vắng bờ.
Không gian như có dây tơ,
Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu.
Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều,
Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn…

xuandieu_Mộ Khúc3

xuandieu_Mộ Khúc1

xuandieu_Mộ Khúc2

Nhạc phẩm “Mộ Khúc” (Nhạc sĩ Phạm Duy)

Hôm nay trời nhẹ lên cao, trời nhẹ lên cao, tôi buồn
Ô hay chẳng hiểu vì sao, chẳng hiểu vì sao tôi buồn

Tôi buồn nhìn lá hồng tuôn lặng rơi ngoài ngõ
Ngõ thuôn
Sương trinh rơi kín từ nguồn yêu thương
Sương trinh rơi kín từ nguồn yêu thương

Phất phơ hồn của bóng hường
Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng
Nghe chừng gió mới qua sông,
Nghe bên lau lách thuyền không vắng bờ
Không gian như có giây tơ, bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu

Êm êm chiều còn ngẩn ngơ,
Chiều còn ngẩn ngơ ơ chiều
Hiu hiu lòng chẳng làm sao, lòng chẳng làm sao se buồn.

Dưới đây mình có các bài:

– Cảm nhận bài thơ Chiều của Xuân Diệu
– Đời thường – đời thơ Xuân Diệu

Cùng với 4 clips tổng hợp nhạc phẩm “Mộ Khúc” do các ca sĩ lừng danh xưa và nay diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

xuandieu5

Cảm nhận bài thơ Chiều của Xuân Diệu

(Hạnh Ngân)

Chiều

Hôm nay trời nhẹ lên cao,
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn…
Lá hồng rơi lặng ngỏ thuôn,
Sương trinh rơi kín từ nguồn yêu thương.
Phất phơ hồn của bông hường,
Trong hơi phiêu bạt còn vương má hồng.
Nghe chừng gió ý qua sông,
E bên lau lách thuyền không vắng bờ.
Không gian như có dây tơ,
Bước đi sẽ đứt động hờ sẽ tiêu.
Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều,
Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn

Đến với thơ Xuân Diệu, không chỉ là tình yêu mà trong thơ ông còn phảng phất những nét vu vơ, nhẹ nhàng rất lãng mạn mang lại cho người đọc những cảm xúc bâng khuâng.

Với bài thơ “Chiều” ta bắt gặp hình ảnh một điều vu vơ như thế đấy, thoảng đâu đây như xa, như gần mênh mang lắm giữa chiều, với mây trời phiêu lãng, tâm hồn ta thả rong chơi chốn vô dịnh để thảng thốt nhận ra “ta buồn không hiểu vì đâu?” có những nỗi buồn như thế đó, nhẹ lắm trôi đi tưởng chừng như không có thật mà lại rất thật bởi cái hình ảnh câu thơ như hỏi, như ngạc nhiên ấy.

Hôm nay trời nhẹ lên cao,
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn…

Người buồn từ những điều vu vơ không định hình như thế ở câu thơ đầu, thì đến đây cái nỗi buồn đó đã có hình dạng cụ thể hơn từ trong chiếc lá, trong giọt sương, trong những làn hương đưa để tô đậm nỗi buồn trong chiều dù rất mong manh. Bằng câu thơ mang đầy tính ẩn dụ mà dẫn dắt người đọc vào một nỗi buồn từ chỗ vu vơ thành một nỗi niềm day dứt, buồn mênh mang.

Nghe chừng gió ý qua sông,

Có khi nào ta ở trong hoàn cảnh như thế, buồn như thể chùng xuống theo chiều, buồn lắng đọng cả không gian, nỗi buồn hòa vào thiên nhiên, hòa vào trời mây những điều mong manh lắm… chỉ nghe ý chừng như thế mà chạnh lòng buồn khôn nguôi. Nỗi buồn nhẹ lắm, mong manh như sợi tơ khiến cho nó trở nên quý giá biết nhường nào bởi những điều dễ mất, dễ tan như thế tỏa lan, nhuộm kín cả chiều đấy chiều ơi!

Bên lau lách thuyền không vắng bờ.
Không gian như có dây tơ,
Bước đi sẽ đứt động hờ sẽ tiêu.
Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều,
Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn

Kết thúc bài thơ là lời an ủi mình “lòng không sao cả…” nhủ lòng không sao đấy mà cái buồn cứ khe khẽ gọi tên, nỗi buồn len lỏi trong từng giọt sương, từng ánh nắng, từng vầng mây để rồi đọng lại giữa chiều mênh mang hắt hiu cơn sầu…

Bài thơ Chiều mang đến cho ta một cảm nhận về nỗi buồn thật đặc biệt, bởi sự lồng ghép tài tình giữa những hình ảnh ẩn dụ, nhân hóa của Xuân Diệu, chính điều đó đã làm cho thơ của ông có một sức hấp dẫn đến kỳ lạ. Đó cũng chính là phong cách thơ Xuân Diệu với những bài thơ để đời mãi mai sau.

Nhà thơ Xuân Diệu và nhà thơ Hoàng Cát năm 1964.
Nhà thơ Xuân Diệu và nhà thơ Hoàng Cát năm 1964.

Đời thường – đời thơ Xuân Diệu

(Hoàng Cát)

Tôi được may mắn là người em kết nghĩa, là học trò nhỏ về vǎn học của nhà thơ Xuân Diệu từ nǎm 1960. Những nǎm sống gần ông, tôi đã được ông giảng giải, đã được cùng ông đàm đạo nhiều về vǎn học, về cuộc đời. Ông đã để lại trong tôi một tấm gương thật quý báu, cả về đời thường và đời vǎn.

Tuy là một người sống độc thân, không ai “quản lý”, đốc thúc, nhưng do lòng ham say làm việc trên bàn viết, nên Xuân Diệu thường xuyên có một lối sống rất ngǎn nắp, gọn gàng và vô cùng tiết kiệm thì giờ. Ông có một chiếc đồng hồ báo thức nhỏ, hằng đêm khuya, trước khi đi ngủ, bao giờ ông cũng lên dây chuông. Thường thường, về mùa hè thì nǎm giờ, mùa đông thì nǎm rưỡi, đợt nào rét đậm thì sáu giờ kém mười lǎm là chuông đồng hồ reo. Ông đặt đồng hồ sát ngay đầu giường ngủ. Hễ có chuông reo là ông vùng dậy ngay, không chần chừ. Ông thường bảo: “Hễ mình chần chừ một chút là cái ngại, cái lười nó đè mình liền”.

Việc đầu tiên của Xuân Diệu sau khi ngủ dậy là tập thể dục. Tôi chưa thấy một người nào giàu nghị lực, bền bỉ và liên tục tập thể dục buổi sáng thường xuyên như ông. Ông tập tạ tay, tập Cốc Đại Phong, tập chạy chân đất suốt dọc đường Cột Cờ, lên bể bơi Ba Đình tắm và tập bơi. Xuân Diệu kiên trì như thế hàng chục nǎm ròng, từ khi còn tráng kiện cho đến tuổi bảy mươi. Các buổi tối khuya, sau khi rời bàn viết và trước khi đi ngủ, ông thường tập thở, làm vài động tác thể dục nhẹ nhàng ở ngay trong phòng làm việc.

Bữa ǎn điểm tâm buổi sáng của Xuân Diệu thường là một bát cơm rang, do u Khang người u già giúp việc, làm cho ông. Chỗ cơm ấy là cơm nguội thừa ra của bữa tối hôm trước. Suốt bao nhiêu nǎm sống với ông, tôi chưa thấy ông đi ǎn phở hoặc bất cứ một thứ quà sáng nào. Xuân Diệu rất thích xuống bếp để…”đi thực tế”‘. Xuân Diệu không chỉ là thi sĩ, là nhà vǎn hóa lớn, ông còn là nhà “đạo diễn” những món ǎn rất bình dân, nhưng tuyệt ngon.

Thường ngày, sau bữa điểm tâm buổi sáng, cứ tám giờ là Xuân Diệu ngồi vào bàn viết. Ông làm việc một mạch cho đến mười một giờ mới nghỉ giải lao, xuống bếp xem u già thổi cơm. Ông giúp u già bóc củ tỏi, tước hành, nếm thìa canh, và trò chuyện an ủi u già Khang. U già Khang là một bà cụ cô đơn, nhưng phúc hậu tuyệt trần, và là một “chuyên gia” nội trợ. Xuân Diệu kính trọng và yêu quý u già Khang như người má ruột rà của mình. Những lần đi công tác ở nước ngoài, dù thời gian bao lâu, ông cũng đều giao tất cả chìa khóa nhà cửa, tủ giả cho u già. Lần nào đi về, ông cũng có quà trao tay trước tiên cho u già. Chỉ là chiếc khǎn vuông trùm đầu, đôi bít-tất, hộp thuốc bổ… Nhưng là tất cả sự kính trọng, lòng biết ơn của ông đối với người giúp việc nội trợ tận tâm, tận ý cho mình.

Tuy nhiên, cũng như đối với tất cả những người đã trở thành thân tín với ông nhiều lúc ông cũng rầy la u già om sòm, khi gặp phải điều gì đó làm ông nổi nóng. Nhưng cái quý vô song ở nhà thơ, nhà vǎn hóa Xuân Diệu là ngay lập tức sau đó khi cơn nóng dịu xuống, ông liền ân hận đến xót xa, chủ động xin lỗi u già tức khắc. Sự nổi nóng la lối người thân (kể cả đối với nhiều nhà thơ trẻ đến nhờ ông đọc bản thảo), rồi lại thấy sự nóng tính của mình nhiều khi hơi quá, tự xin lỗi, dàn hòa là cách ứng xử của Xuân Diệu với tất cả mọi người có quan hệ với ông. Đó là nét cá tính đặc biệt của Xuân Diệu. Không phải ông xin lỗi xã giao, mà ông đau khổ thực sự, ông xin lỗi thành thật. Đức tính thật thà, bản tính thành thật là một bản lĩnh lớn và vô cùng quý báu trong con người nhà thơ Xuân Diệu. Xuân Diệu là một con người, một thi sĩ không biết “thủ đoạn” với ai bao giờ ngoài một trái tim thành thật yêu thương con người hết sức đằm thắm. Ông thành thật với cả những nhược điểm của chính mình. Ai đã sống gần và hiểu Xuân Diệu, chắc chắn đều có cảm nhận này về ông.

Một đức tính nữa, tôi cho là rất quý hiếm, và rất khó thực hiện trong suốt cả cuộc đời, nhất lại là đối với một thi nhân tài hoa và tài nǎng lớn như Xuân Diệu, là đức tính tiết kiệm.

Xuân Diệu là một người suốt đời tiết kiệm. Tiết kiệm tới mức tối đa. Bất cứ cái gì là của cải do con người làm ra, Xuân Diệu cũng luôn luôn là người trân trọng và tiết kiệm cho tới khi không thể tiết kiệm hơn được nữa. Một đoạn dây buộc, một tờ giấy báo cũ…ông cũng cất vào nơi cẩn thận. Thành ngữ ông thường nhắc mọi người nhớ là: “Lâm sự có khi dùng”. Rất nhiều bản thảo vǎn xuôi của ông được viết trên những mặt giấy trắng phía sau các bản tin tham khảo, hoặc các tờ giấy vẽ của thằng cháu Hà Vũ đã bỏ đi. Xuân Diệu mặc quần đùi vá, áo may ô cũ chắp sửa lại, đi dép nhựa vá… là chuyện bình thường. Có lần mua tǎm tre về, thấy những cái tǎm quá to, ông còn nhờ u già chẻ đôi những chiếc có thể chẻ, cắt ngắn làm hai, vót nhọn một đầu rồi mới dùng.

Đương nhiên đó là việc tiết kiệm thái quá, tự ông làm khổ ông. Nhưng qua một chi tiết này, để tôi muốn nói rằng, Xuân Diệu tuy là một người tiết kiệm cực đoan như thế, song cũng chính ông 1ại là người hay giúp đỡ, cưu mang người khác hơn ai hết. Trong làng vǎn cũng đã có người được ông trợ giúp tiền mua xe đạp, có người còn được ông biếu một chỉ vàng lúc gặp khó khǎn. Ngoài đời, không ít người được ông cho không cả một chiếc xe đạp ngoại, hoặc cho tiền làm nhà. Bản thân tôi, khi tôi còn trong mặt trận miền Nam, mẹ tôi bị bom mất ở quê Nghệ An nǎm 1968, ông đã gửi qua đường bưu điện về trợ giúp thầy tôi hai trǎrn đồng. Hai trǎm đồng bấy giờ là một khoản tiền khá lớn.

Nhà thơ Xuân Diệu là một người kỳ lạ như thế. Khi chi tiêu cho mình thì ông tính toán chi li từng đồng, nhưng khi cần giúp người khác thì tiền nghìn, ông cũng sẵn lòng. Trong ngǎn kéo bàn làm việc của ông thường để sẵn những đồng xu tiền lẻ để hàng ngày thanh toán tiền chợ hết sức sòng phẳng với u già giúp việc. Nhưng cũng chính ông đã bỏ cả tiền nghìn để lo hậu sự, mồ yên mả đẹp cho u già mãi tận quê Nam Định.

Cả cuộc đời Xuân Diệu không nghiện bất cứ một thứ gì, từ rượu đến cà phê, nước chè, thuốc lá, bia… ông luôn luôn, ngày cũng như đêm, sáng cũng như chiều, ngày thường cũng như lễ Tết, là một người vội vã, cập rập chạy đua với từng giọt thời gian để làm việc.

Thường thường, sau bữa cơm trưa, Xuân Diệu nằm nghỉ nửa tiếng, đến một giờ. Mùa hè thì ông đặt quạt xa giường, để khỏi mát quá, gây ngủ sâu, khó dậy. Mùa đông, ông không đắp chǎn, để khỏi ấm sinh ham ngủ. Ông ngủ vùi chập chờn như thế đến một giờ, hoặc một rưỡi chiều, chuông đồng hồ reo là dậy được ngay rửa mặt hoặc tắm qua loa, rồi ngồi vào bàn làm việc. Ông ngồi một mạch cho tới khi u già thổi cơm chiều mới nghỉ giải lao; xuống bếp xem u già làm cơm ít phút.

Sau đó, ông lại lên phòng, bật đèn bàn, ngồi viết tiếp cho đến tận bữa ǎn tối. Ǎn xong, nghỉ ngơi chừng một tiếng, bằng cách mang cái giường bạt hoặc cái ghế phô tơi ra nằm lặng lẽ một mình dưới gốc cây hoàng lan đại thụ phía trước cổng. Sau đó, ông lại ngồi vào bàn, làm việc mải mê đến mười giờ rưỡi, hoặc mười một giờ đêm. Đó là lịch trình làm việc theo thông lệ. Còn những lúc gặp bài vở các báo hoặc nhà xuất bản đặt gấp thì ông thường thức đến một hai giờ sáng, để đọc, tra cứu, viết.

Tuy vậy, sáng hôm sau ông vẫn dậy sớm, không, ngủ “rốn” để bù chỗ thiếu ngủ tối hôm trước. Do làm việc ở một cường độ luôn luôn cǎng và cao như thế, nên Xuân Diệu thường bị đau đầu, đau thần kinh. Rất nhiều khi đang viết, ông phải rời bàn ít phút, ra nhúng đầu vào nước lã, hoặc dùng tạ tay đập đập vào sau đầu, vào hai bên vai, vào gáy khá mạnh. Những lúc như vậy ông thường một mình lầu bầu, thở dài: “ấy chà chà!… ấy chà chà!…”.

Bao nhiêu thời gian mà cuộc đời cho Xuân Diệu, ông dồn cả vào vǎn nghiệp. Ông thường tâm sự:“Thời giờ cũng ví như một súc vải. Mỗi người phải biết tính toán để cắt may được những bộ quần áo, đừng xé vụn ra, cuối cùng thì chỉ được một cái mùi-xoa hạng bét!”.

Suốt đời cầm bút, Xuân Diệu đã làm việc với nỗi niềm thúc hối ấy trong sâu thẳm tiềm thức của mình, không kể ngày đêm, không biết lễ Tết. Ngay như Tết Nguyên đán hằng nǎm cũng vậy, ông làm việc, viết lách suốt cả đêm ba mươi, một mình đặng lẽ đón giao thừa bằng một chén rượu mạnh ngay bên cái tủ ly bằng gỗ tạp – thường là rượu vốt-ca của Nga. Bởi thế sinh thời ông thường tự càu nhàu với chính mình và với những người thân gần gũi ông:“Tôi phải tự làm ‘con trâu’ kéo cày khổ sai, phải tự ‘xích’ chân mình vào chân bàn phải ‘nạo’ óc ra mới có vǎn, mới có tác phẩm!”.

Xuân Diệu đã tự nói về mình không sai sự thật một chút nào.

oOo

Mộ Khúc – Danh ca Thái Thanh:

 

Mộ Khúc – Ca sĩ Lệ Thu:

 

Mộ Khúc – Ca sĩ Ý Lan:

 

Mộ Khúc – Ca sĩ Thái Hiền:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s