30 năm chinh phục Đồng Tháp Mười

(ĐCN: Bài này là một chuỗi 4 bài phóng sự trên Tuổi Trẻ)

TT – Ấy là nơi mà các chuyên gia nước ngoài từng lắc đầu khẳng định: Không thể khai phá. Chỉ sau ba thập kỷ, người Việt đã chứng minh điều ngược lại: biến vùng “đất chết” thành vùng sản xuất lúa gạo, nông sản chủ lực của ĐBSCL.

Kỳ 1: Ký ức thời hoang dã

Trong ký ức của một người hiểu Đồng Tháp Mười đến chân tơ kẽ tóc như ông Hai Lương (xã Phương Thịnh, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp – từng làm phó ban sản xuất tỉnh Kiến Phong từ năm 1966), đây là một vùng đất vô cùng khắc nghiệt. Nói là vùng “đất chết” cũng không sai.

Giữa mênh mông đồng hoang người dân nghĩ ra cách lấy lúa trời làm lương thực- Ảnh tư liệu

Ba chìm, bảy nổi… đồng hoang

Ông Hai Lương nhớ lại: “Hồi xưa ở đây hoang sơ lắm, dân chỉ sống rải rác ven rìa rừng. Suốt sáu tháng nước nổi cả vùng ngập chìm trong biển nước mênh mông, nhiều nơi ngập sâu tới 3-4m. Còn mùa khô hết sức khắc nghiệt, nắng nóng nung người, đất dậy phèn đỏ quạch, nước ngọt không có mà uống”. Đã vậy đây là vùng tranh chấp ác liệt, giặc oanh kích tự do ngày đêm. Vô số đạn bom, chất hóa học hủy diệt ném xuống khiến Đồng Tháp Mười trở thành vùng đất chết.

Trong những năm tháng khốc liệt đó chỉ có dân nghèo vì kế mưu sinh hay có quan hệ với cách mạng mới dám vô Đồng Tháp Mười đánh bắt cá, rắn, rùa. Để có lương thực phục vụ chiến đấu, ban sản xuất của ông Hai Lương vận động và tổ chức cho bà con khai mở trồng lúa mùa trên những gò đất cao. Hằng năm khi mùa mưa đến thì dùng sức trâu, sức người cày ải phơi đất cho bớt phèn rồi mới gieo sạ.

Xuống giống xong ai nấy đều quay về nhà chứ không ở lại. Loại lúa này có đặc điểm nước dâng cao tới đâu thì đọt luôn ngoi lên khỏi mặt nước nên khi lũ về chẳng cần chăm sóc, đến khoảng tháng 11 lũ rút cạn cũng là lúc lúa chín tiến hành thu hoạch. “Tuy nhiên lúc đó đất còn nhiễm phèn nặng nên lúa thất lắm, năng suất chỉ 700kg/ha trở lại. Có năm lũ lớn bị sóng to, nước chụp mất trắng, có lúc chưa kịp gặt thì bị lửa cháy lan thiêu rụi. Dân đói mà mình cũng đói” – ông Hai Lương nhớ lại.

Những năm đầu sau ngày đất nước thống nhất người dân lần lượt trở về chốn cũ sinh sống. Đồng Tháp Mười lại phải đùm bọc thêm 80.000 kiều bào từ Campuchia trở về nước với hai bàn tay trắng. Trung ương phải chi viện thêm 8.000 tấn lương thực, đồng thời triển khai kế hoạch khai mở đất hoang để canh tác nhưng rồi dân vẫn đói. Trận lũ lịch sử năm 1978 đã nhận chìm 100.000ha lúa, sau đó liên tiếp gặp hạn hán, dịch hại tràn lan. Dân bám trụ ở Đồng Tháp Mười lại tiếp tục đói khổ!

Trước tình trạng dân thiếu ăn, đói khổ kéo dài, tỉnh Đồng Tháp đẩy mạnh công tác khai hoang và điều động hàng chục ngàn người đi xây dựng các vùng kinh tế mới; đồng thời thành lập bốn nông trường Gáo Đôi, Cô Đông, Động Cát, Láng Biển. Quyết tâm của tỉnh là xóa hoang hóa vào năm 1980 với chỉ tiêu đạt 1 triệu tấn lương thực.

Bà Nguyễn Thị Tím, vợ ông Hai Lương, kể rằng mấy vụ đầu khi cây lúa vừa mọc quá gang tay thì gặp mưa già đất dậy phèn chết sạch, phải lấy lúa dự trữ dành cho những tháng giáp hạt gieo sạ lại. Bà Tím bùi ngùi: “Có năm lúa trong nhà không còn một hột mà cây lúa vẫn không mọc nổi. Lắm khi lúa chín chưa kịp mừng thì chuột cắn nát, nhìn đám ruộng tan hoang ai nấy chỉ biết ôm mặt khóc ròng”. Đất phèn, thiếu nước ngọt, lũ lụt và dịch hại hằng năm đã khiến rất nhiều hộ đi mở đất đành phải buông tay bỏ đất, bỏ ruộng trở về trong đói khổ dù họ đã rất nỗ lực.

Những cuộc chinh phục thất bại

Đồng Tháp Mười là vùng đất trũng thấp nằm giữa hạ lưu sông Mekong, phía bắc giáp Campuchia, tây nam giáp sông Tiền, phía đông và đông bắc giáp sông Vàm Cỏ Đông. Diện tích tự nhiên 696.000ha, chiếm 17,72% diện tích tự nhiên của ĐBSCL. Đồng Tháp Mười được xác định bao gồm 15 huyện, một thị xã và bảy xã thuộc ba tỉnh Long An (299.000ha), Đồng Tháp (239.000ha), Tiền Giang (92.500ha).

Mãi đến năm 1990 vùng đất Đồng Tháp Mười khu vực giáp biên giới Long An – Campuchia mới có nhiều người vào khai phá. Mặc dù sự việc đã xảy ra 20 năm trước, nhưng bây giờ khi nhắc tới chuyện khai hoang ông Nguyễn Cự (79 tuổi, ở xã Đức Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An) vẫn còn bị ám ảnh.

Ông kể: “Năm 1990 tôi cùng nhiều bà con ở xã Đức Tân xách túi đệm đựng gạo, vác cuốc lên huyện biên giới Tân Hưng (Long An) khai hoang, lập nghiệp. Cố gắng bám trụ suốt năm năm trời đất vẫn trơ ra không trồng cây gì được phải ra về tay trắng”.

Ông Cự nói vùng đất Tân Hưng, Vĩnh Hưng ngày ấy rất hoang sơ, cỏ mọc cao khỏi đầu người. Đất đai bị nhiễm phèn nặng chỉ có cỏ năn, cỏ lác và tràm gió sống nổi. Đồng Tháp Mười bạt ngàn nhưng không có đường đi, mùa khô nắng cháy da mà không có nước ngọt uống. Còn rắn hổ, muỗi, đỉa thì nhiều vô kể. Đào kênh dẫn nước ngọt, đốt cỏ, vỡ đất nhưng một năm, hai năm rồi ba năm đất đai vẫn xám xịt. Trồng lúa, lúa chết; bầu, mướp cũng không sống được. Thế rồi nhiều người lặng lẽ rời bỏ mảnh đất khắc nghiệt này trở về quê, trong đó có ông Cự.

Chỉ tay ra cánh đồng bạt ngàn sau nhà, bà Trương Thị Ba Thu ở xã Hưng Điền B, huyện Tân Hưng nói đây cũng là quê hương của bà. Khoảng năm 1976 vùng đất rộng lớn này chỉ có vài ba hộ gia đình sống bằng nghề chài lưới bắt cá chứ không trồng lúa được. Người nào chấp nhận ở đây thì phải sống chung với rắn, muỗi và đỉa. Ai nuôi heo, nuôi gà cũng đều phải giăng mùng ban đêm, nếu không sẽ bị rắn “xơi tái”.

Sáng ra mở mùng cho heo, gà bà Thu thường thấy hai ba con rắn hổ đất đen thui cuộn tròn trên nóc mùng. “Ban đêm tuyệt đối không ai dám ra khỏi nhà. Mùa nước nổi phải giăng mùng cho kỹ để rắn không thể bò vô ngủ chung. Vậy mà nhiều lúc vợ chồng tôi ngủ quên lăn ra cạnh giường đè lên mình con rắn hổ, nó giật mình ngóc đầu dậy phùng mang thở khì khì làm hai vợ chồng sợ xanh mặt. Còn đỉa dưới kênh nhiều vô kể. Đặt chân xuống kênh vài phút là có hàng chục con đỉa đeo hút máu” – bà Thu kể.

Rồi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, rất nhiều người dân ở các huyện biên giới Long An phải bỏ xứ đi lánh nạn. Trận lụt khủng khiếp năm 1978 cuốn trôi sạch sành sanh lúa thóc của người dân làm mọi người lâm vào cảnh đói khổ. Có lẽ vì thế mà khi tình hình biên giới yên ổn trở lại thì nhiều người không trở về nữa. Họ lo ngại không thể chinh phục được vùng đất bí ẩn này.

VÂN TRƯỜNG – ĐỨC VỊNH

Kỳ 2:  Hồi sinh vùng “đất chết”

TT – Tiến sĩ Melforw (chuyên gia về đất phèn của Hà Lan) từng cảnh báo: “Muốn xử lý 1 ha đất phèn phải tốn cả triệu USD”. Hai giáo sư địa chất Liên Xô vào Nông trường Láng Biển lấy mẫu đất cùng cỏ năn, cỏ lác đem về nước phân tích rồi kết luận: “Đồng Tháp Mười không thể trồng lúa!”.

Quang cảnh đào kênh Trung Ương rửa phèn cho Đồng Tháp Mười – Ảnh tư liệu

Chọn lựa sống còn…

Dấu ấn Võ Văn Kiệt 

TS Nguyễn Văn Đúng, chủ tịch Liên hiệp Các hội khoa học & kỹ thuật tỉnh Đồng Tháp, nói: “Người dân Đồng Tháp Mười coi cố thủ tướng Võ Văn Kiệt là một kiến trúc sư, cũng là vị tổng chỉ huy tài ba trong công cuộc khai phá Đồng Tháp Mười những ngày đầu”.

Tại hội nghị sơ kết 10 năm tiến công khai phá vùng Đồng Tháp Mười năm 1990, phát biểu trước hàng trăm nhà khoa học trong và ngoài nước, ông Võ Văn Kiệt nói: “Công cuộc tiến công khai hoang, khai thác Đồng Tháp Mười thật sự là một cuộc cách mạng vô cùng quan trọng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở VN”.

Cuối những năm 1980, ông Võ Văn Kiệt, lúc ấy là phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tổ chức cuộc họp với lãnh đạo ba tỉnh để bàn về biện pháp khai thác có hiệu quả vùng đất này. Trước nhiều ý kiến khác nhau ông kết luận: “Chúng ta phải làm, nếu có mất thì chỉ mất một phần của ba tỉnh, nếu thành công thì có lợi cho cả nước”.

Năm 1976 ông Nguyễn Công Bình (Sáu Bình), phó bí thư tỉnh ủy – chủ tịch UBND tỉnh, ký ban hành chỉ thị đào kênh 500 tại huyện Tân Phước bây giờ để mở màn chiến dịch khai phá Đồng Tháp Mười. Ông Sáu Bình nhớ lại: Sau giải phóng, cuộc sống người dân rất khó khăn. Đồng Tháp Mười mênh mông mà không có ai đến ở. Đất bị nhiễm phèn, phải rửa phèn thì mới trồng cây, trồng lúa được. Vì vậy phải đào nhiều kênh dẫn nước vào để rửa phèn.

Năm 1977 tỉnh vận động hàng ngàn thanh niên xung phong, thanh niên, phụ nữ, bộ đội, công an vào Đồng Tháp Mười đào kênh 500. Kênh này bắt đầu từ xã Mỹ Phước Tây (huyện Cai Lậy) kéo dài đến xã Phú Mỹ (huyện Tân Phước) dài gần 20km. Đích thân ông Sáu Bình và phó chủ tịch Nguyễn Công Bằng trực tiếp chỉ huy việc đào kênh 500. Ông kể: “Hồi đó toàn đào bằng tay rất vất vả. Anh chị em tham gia đào kênh toàn ăn cơm với muối hoặc nước mắm, rất ít khi được ăn thịt cá. Ba tháng sau con kênh này đào xong. Tôi đứng trên cao nhìn thấy dòng nước son cuồn cuộn đổ về Đồng Tháp Mười lòng lâng lâng như ngày giải phóng. Những anh chị em đào kênh thì ôm nhau khóc nức nở vì quá đỗi hạnh phúc”.

Đào kênh xong, tỉnh thành lập Nông trường Tân Lập, Nguyễn Văn Phùng rồi đưa dân các huyện về khai hoang. Biết bao nhiêu công sức bỏ ra phát cỏ, đào gốc tràm, vỡ đất nhưng trồng chuối, chuối chết; trồng lúa, lúa chẳng sống nổi. Ông Sáu Bình bàn với tỉnh ủy quyết định đào tiếp kênh Trương Văn Sanh nằm song song và cách kênh 500 khoảng 5km. Hàng ngàn người tiếp tục được huy động đào đất xẻ kênh. Phải mất một năm ròng. Thấy anh chị em cực khổ, ông Sáu Bình chỉ đạo thường xuyên tổ chức biểu diễn văn nghệ ngay trên bờ kênh để “tiếp sức” cho mọi người quên đi mệt nhọc.

Từ hai con kênh chính, tỉnh tiếp tục cho đào nhiều kênh ngang dọc để đưa nước ngọt vào rửa phèn. Đến năm 2010 khu vực Đồng Tháp Mười của Tiền Giang đã có hơn 600km kênh được đào phục vụ công cuộc khai hoang. Bây giờ nơi này đã trở thành vùng sản xuất lúa ba vụ với 5.300ha, vùng trồng khóm phục vụ chế biến xuất khẩu với hơn 12.000ha.

Con kênh quyết định

Đó là tuyến kênh Hồng Ngự – Vĩnh Hưng dài 45km xuyên qua Đồng Tháp Mười, nằm ở khu vực gần biên giới Campuchia của hai tỉnh Đồng Tháp và Long An. Trong đó đoạn qua địa bàn tỉnh Đồng Tháp dài 24km, còn lại là ở tỉnh Long An. Đây được xem là con kênh dài nhất, lớn nhất được con người đào thủ công từ năm 1977. Nhiều lão nông kể lại con kênh này do trung ương chỉ đạo đào để cải tạo Đồng Tháp Mười nên sau này người dân gọi đó là ”kênh Trung Ương”.

Ông Nguyễn Văn Bé ở ấp 2, xã Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh (Đồng Tháp) là một trong những người tham gia đào kênh Trung Ương những năm 1977-1978. Ông kể: công trình được phân thành từng đoạn giao cho từng nhóm, từng tốp đào và khiêng đất đổ lên bờ. Hàng ngàn người che lều bạt tạm trú mưa, tránh nắng. Do thiếu nước ngọt nên anh chị em thay phiên nhau tốp thì đào kênh, tốp kia lấy nước xa cả chục cây số về uống và nấu cơm. Mùa mưa đường sá lầy lội không đi được, họ nảy ra sáng kiến lấy tấm nilông căng ra hứng nước mưa để dành. Có khi thiếu nước nghiêm trọng, cả tuần không ai được tắm nước ngọt. Cơ cực trăm bề nhưng anh em làm việc khí thế lắm.

Tuy nhiên, đến đầu năm 1980 phần lớn các tuyến kênh đào chưa hoàn thành nên chưa thể đưa nước ngọt về. Ông Nguyễn Văn Lương (Hai Lương), phó Ban nghiên cứu khai thác Đồng Tháp Mười lúc đó, nhớ lại: “Khi đào kênh nước phèn vàng sẫm trải dài trên mặt đất, còn dưới kênh đọng lại đặc quánh. Cứ mỗi đầu mùa mưa phèn đổ dồn về một số tuyến kênh trung tâm, có nơi kéo dài hàng chục cây số khiến cá chết hàng loạt, ngay cả người dân cũng phải đi nơi khác tìm nước ngọt để sinh sống. Nhiều ý kiến đặt ra là chúng ta làm thủy lợi hay… thủy hại? Có nên tiếp tục đào kênh nữa hay không?

Năm 1983, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng có quyết định về việc điều tra cơ bản tổng hợp ĐBSCL. Đây là chương trình trọng điểm cấp Nhà nước do GS-TS Nguyễn Ngọc Trân, phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học trung ương, làm chủ nhiệm đề tài. Phần điều tra nghiên cứu về Đồng Tháp Mười do TS Hồ Chín chủ trì. Có thể nói bắt đầu từ thời điểm này Chính phủ chính thức tập trung nghiên cứu, đầu tư khai hoang Đồng Tháp Mười. Ông Võ Văn Kiệt thường xuyên về đây cùng các nhà khoa học khảo sát và có những chỉ đạo sát sao việc khai hoang Đồng Tháp Mười. Năm 1984 kênh Trung Ương được đào xong, dẫn nguồn nước ngọt phù sa từ sông Tiền xuyên qua Đồng Tháp Mười về tận sông Vàm Cỏ Tây để tăng tốc rửa phèn, cải tạo đất. Nước ngọt dẫn tới đâu, người dân tụ họp về hai bên bờ kênh cất nhà, khai hoang, lập nghiệp tới đó.

Một số tuyến kênh khác được đào những năm trước và thời điểm này cũng bắt đầu phát huy tác dụng tháo chua rửa phèn. Biện pháp giải quyết căn cứ tình trạng đất nhiễm phèn bằng cách đào kênh, xẻ mương được mọi người đồng tình, công nhận. Phong trào làm thủy lợi dẫn nước ngọt lan rộng ở khắp nơi trong vùng Đồng Tháp Mười. Để dân đến và bám trụ khai hoang, các địa phương cũng chú ý đầu tư hạ tầng, giao thông, kỹ thuật sản xuất mới. Nhờ vậy, từ một vùng “đất chết” ngập úng bạt ngàn lau sậy năm nào đã trồng được 312.587ha lúa vào năm 1987, gần 700.000 ha vào 1996. Năng suất lúa từ 1-2 tấn/ha tăng lên 3-7 tấn/năm tùy vùng. Theo giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Long An Lê Minh Đức, vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh hằng năm sản xuất tới 1,3 triệu tấn lúa, trong khi toàn tỉnh chỉ có 2,3 triệu tấn. Đồng Tháp Mười đã trở thành vùng sản xuất lúa, khóm, tràm, bạch đàn… chủ lực của ba tỉnh Tiền Giang, Long An và Đồng Tháp.

VÂN TRƯỜNG – ĐỨC VỊNH

Kỳ 3:  Chuyện người khai phá

TT – Vượt hơn 100km đường dằn xóc chúng tôi mới tới nhà ông Nguyễn Văn Thành ở ấp Kinh Cũ, xã Hưng Điền B, huyện Tân Hưng (Long An). Đây là một trong những xã xa nhất của tỉnh Long An, nằm ở khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia.

Ông Nguyễn Văn Thành đang làm đất chuẩn bị xuống giống cho mùa vụ mới  – Ảnh: Vân Trường

>> Kỳ 1: Ký ức thời hoang dã
>> Kỳ 2: Hồi sinh vùng “đất chết”

Giữ đất

Ở tuốt vùng xa này nhưng nhà ông xài tivi màn hình tinh thể lỏng với dịch vụ truyền hình theo yêu cầu My TV của VNPT, chứ không phải sử dụng ăngten trời bình thường như những gia đình khác. Quanh nhà là bốn chiếc máy cày, ba máy gặt đập liên hợp, cả chục máy bơm nước và một lò sấy lúa công suất 10 tấn/ngày.

Hỏi có bao nhiêu đất, ông Thành cười hiền từ: “Có 60 ha thôi chú ơi. Ở đây có mấy người làm cả trăm hecta nữa kìa. Còn số người làm 20-30ha thì đếm không xuể đâu”.

Ông Thành leo lên chiếc máy cày nổ máy rồi nhấn ga chạy ra cánh đồng đầy nước sau nhà. Ông bảo đang làm đất gấp để chuẩn bị xuống giống vụ đông xuân cho kịp lịch thời vụ. Giờ ông làm ruộng bằng máy hết, chỉ trừ lúc gieo sạ mà thôi.

Trên chiếc máy cày, ông Thành hồi tưởng chuyện khai hoang vùng đất này hơn 30 năm trước. Quê ở huyện Hồng Ngự (Đồng Tháp), nhưng năm 1976 ông Thành đã có mặt tại nơi này để lập nghiệp. Khi đó đất đai ở đây bạt ngàn nhưng chỉ toàn cỏ dại, rắn rùa, muỗi mòng. Vợ chồng ông kéo dây đo 100m bề ngang mặt kênh và bề sâu 1.000m ở khu đất gần nhà để đốt cỏ khai hoang.

Sau nhiều tháng miệt mài làm sạch cỏ, ông đem lúa giống rải xuống nhưng… lúa chết sạch, ông phải đào kênh dẫn nước vào để súc rửa phèn! Cực nhọc mấy năm thì lúa sống được nhưng không xanh tốt như bây giờ. Những vụ nào may mắn lắm thì kiếm được chừng 100 giạ/ha (2 tấn), nhưng chuyện mất mùa xảy ra thường xuyên hơn.

Năm 1978-1979 xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam. Pol Pot đưa quân tràn sang huyện Tân Hưng giết chóc, đốt phá nhà cửa buộc người dân phải bỏ xứ lánh nạn. Ông Thành tham gia bộ đội bám trụ chiến đấu và cuối cùng cũng đẩy lùi quân Pol Pot về bên kia biên giới.

Do đất đai nhiễm phèn nặng và tình hình không yên ổn nên rất nhiều người ra đi nhưng ông vẫm bám trụ. Ông tâm sự: “Vợ chồng tôi đã bỏ công sức và cả tính mạng để khai hoang nên bằng mọi giá phải ở lại để chờ ngày hái quả ngọt”.

Năm 1980 ông đưa ruộng đất vô hợp tác xã và được chia lại chỉ 2,1 ha. Đó cũng là diện tích đất mà gia đình ông sở hữu khi hợp tác xã giải tán năm 1987. Sau nhiều năm cải tạo, ruộng lúa của ông cho năng suất 4-5 tấn, rồi 6-7 tấn/ha. Ngoài ra ông còn sắm máy bơm nước, cày bừa thuê để tích lũy mua thêm mỗi năm 1-2 ha đất.

Đến nay ông Thành có được 60 ha ở nhiều xã trong huyện Tân Hưng. Hỏi giá trị đất ông nhẩm tính: “Trung bình đất ở đây 250 triệu đồng/ha, nên chỉ riêng đất của tôi có giá 15 tỉ đồng. Ngoài ra máy móc sản xuất nông nghiệp cũng cỡ vài tỉ nữa”.

Bắt sỏi đá phải thành cơm

Ở gần đường biên giới Việt Nam – Campuchia thuộc xã Khánh Hưng, huyện Vĩnh Hưng (Long An), ông Nguyễn Văn Phi ở ấp Cả Trốt là người khá nổi tiếng. Câu chuyện chinh phục cánh đồng hoang Đồng Tháp Mười để làm giàu của ông Phi rất đáng nể. Năm 1991 vợ chồng ông Phi dắt theo người con trai vào vùng Khánh Hưng để vỡ đất khai hoang.

Ông kể: “Lúc đó vùng này không có bóng người. Đất đai xám xịt vì nhiễm phèn. Cỏ cao quá đầu người, đụng chỗ nào cũng thấy rắn hổ to bằng cổ tay con nít, thấy mà phát ngán”. Vợ chồng ông kiên trì nhổ từng cây tràm, đám cỏ, vỡ từng tấc đất để trồng lúa.

Rắn hổ quá nhiều nên vợ ông cầm cây đập vào cỏ tạo tiếng động để rắn bò đi nơi khác, còn ông Phi phát cỏ, đào đất. “Vậy mà nhiều lúc quơ cái phảng qua một cái nhìn lại thấy rắn đứt hai ba khúc lẫn với cỏ” – ông Phi nhớ lại. Phải mất năm năm ròng rã hai vợ chồng ông mới khai phá xong được khoảng 60% trong số 11 ha đất Nhà nước giao.

Đất đai bằng phẳng rồi ông đem lúa giống rải xuống, chỗ thì lúa sống được, chỗ chết trụi. Năm nào may mắn lắm thì làm được 2 vụ/năm, năng suất 1-2 tấn/ha. Bỏ biết bao nhiêu công sức, vốn liếng nhưng lúa thu hoạch bán không bao nhiêu làm vợ chồng ông nản chí, nhiều lần có ý định trở về quê.

Những lúc như thế ông động viên vợ con bằng câu nói của ông cha ngày trước: “Có công mài sắt có ngày nên kim”. Rồi họ lại ra đồng cặm cụi đào kênh dẫn nước ngọt xả phèn cho đất. Rồi những năm sau năng suất lúa tăng lên 4-5 tấn/ha, có khi lên tới 7-10 tấn/ha.

Có tiền, ông mua thêm đất của những người bỏ của chạy lấy người vì không chịu nổi vùng đất khắc nghiệt này. Đến năm 2010 ông Phi đã sở hữu 40ha đất ở xã Khánh Hưng, có máy gặt đập liên hợp, máy cày.

Tổng giá trị tài sản của gia đình ông bây giờ gần chục tỉ đồng. Hiện vợ chồng ông tất bật chăm sóc lúa đông xuân xuống giống được hơn một tháng. “Vụ này hi vọng sẽ lời ít nhất 10-15 triệu đồng/ha” – ông Phi lạc quan.

Không thể chỉ thuần nông 

“Sau hơn 30 năm miệt mài vỡ đất, con người đã chinh phục thành công vùng đất nhiễm phèn Đồng Tháp Mười. Thế mạnh hiện nay của khu vực này là đất đai phì nhiêu, nước ngọt dồi dào, người dân có kinh nghiệm sản xuất.

Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần hoạt động về nông nghiệp thì người dân sẽ rất khó làm giàu. Diện tích canh tác ở Đồng Tháp Mười không thể mở rộng thêm, năng suất lao động cũng có giới hạn.

Trong khi sản xuất nông nghiệp vốn lệ thuộc thiên nhiên, chịu nhiều yếu tố rủi ro và ngày càng khó khăn hơn, nhất là khi phải đối mặt với tình trạng biến đổi khí hậu. Cần phải công nghiệp hóa trên cơ sở nông nghiệp, đầu tư khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp để làm cơ sở cho tiến trình công nghiệp hóa nông thôn.

Trong phát triển công nghiệp, nên ưu tiên những ngành sử dụng nguyên liệu từ nông nghiệp theo hướng làm tăng giá trị gia tăng sản phẩm nông nghiệp (như sản xuất giấy từ gỗ tràm, đay…)”.

Tiến sĩ Nguyễn Trung Cang (nguyên giám đốc Ty Nông nghiệp, nguyên giám đốc Sở KH-CN&MT Đồng Tháp)

VÂN TRƯỜNG

Kỳ cuối: Thách thức của tương lai

TT – Dưới con mắt một nhà khoa học cả đời gắn với cây lúa, theo GS.TS Võ Tòng Xuân, “quá trình khai phá Đồng Tháp Mười có một sự phối hợp, biết lắng nghe nhau của nhà quản lý và nông dân, nhà khoa học một cách tuyệt vời”.

Đó là nhà quản lý biết lắng nghe và vận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn từ nông dân về cách ém phèn ở Đồng Tháp Mười. Còn nông dân thì vừa thực hiện tốt chủ trương của Nhà nước, vừa biết áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất.

Quang cảnh một buổi diễn văn nghệ phục vụ công trường đào kênh khai hoang Đồng Tháp Mười của thanh niên Tiền Giang năm 1978 – Ảnh tư liệu

Ý chí chinh phục đồng hoang

Nói về thành công trong việc chinh phục Đồng Tháp Mười, Chủ tịch UBND tỉnh Long An Dương Quốc Xuân cho rằng nếu không có quyết tâm của lãnh đạo từ tỉnh đến trung ương, không có tinh thần và ý chí vượt khó của con người thì không thể có Đồng Tháp Mười xanh tươi, màu mỡ như hôm nay.

Năm 1978, ông Dương Quốc Xuân là bí thư Đoàn huyện Bến Thủ (nay là hai huyện Bến Lức và Thủ Thừa, tỉnh Long An). Khi tỉnh ủy – UBND tỉnh quyết định khai hoang, chinh phục Đồng Tháp Mười, ông Xuân đã phát động phong trào “Xung kích tiến về Đồng Tháp Mười”. Hàng ngàn đoàn viên thanh niên từ biệt gia đình vác cuốc cùng ông Xuân thẳng tiến về các huyện Mộc Hóa, Tân Hưng, Vĩnh Hưng đào kênh, đắp đường.

Ông Xuân nhớ lại: “Phong trào thanh niên lúc đó sôi nổi lắm. Sau chiến thắng 30-4-1975, dân mình tuyệt đối tin Đảng. Chính vì vậy, khi Đảng quyết định khai phá Đồng Tháp Mười, ai ai cũng tình nguyện tham gia dù biết vào đó sẽ rất gian khổ và nguy hiểm”. Suốt năm năm ròng, ông Xuân và hơn 5.000 lượt đoàn viên thanh niên huyện Bến Thủ đã đào rất nhiều kênh, mở rất nhiều con đường mới ngang dọc trên vùng đất vốn không có dấu chân người.

Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang Nguyễn Công Bình cũng cho rằng quyết định đúng của Đảng là một phần trong cuộc chinh phục Đồng Tháp Mười. Yếu tố quan trọng nhất chính là ý chí của người Việt. Ông giải thích: “Tinh thần tình nguyện xông pha của thanh niên, phụ nữ ngày ấy đáng nể lắm. Họ không hề tính toán thiệt hơn, không than thở khi phải làm việc nặng nhọc trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, thiếu ăn, thiếu nước ngọt để uống. Nhờ vậy mà con kênh 500 ở Tân Phước dài gần 20km họ chỉ đào có ba tháng là xong”.

Phát huy tinh thần ấy, năm sau (1978) tỉnh tiếp tục vận động tuổi trẻ tham gia đào kênh Trương Văn Sanh rộng hơn, dài hơn. Hàng chục ngàn người lại lên đường vào “cánh đồng hoang” che lều bạt sống tạm bợ và làm việc ròng rã một năm trời để đào con kênh dẫn nước ngọt rửa phèn cho cả vùng.

Ông Nguyễn Đắc Hiền – nguyên phó bí thư tỉnh ủy, hiện là chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh Đồng Tháp – cũng cho rằng công lao đó trước hết là của nông dân. Ông nói thêm: “Vì họ tin Đảng, chịu đựng muôn vàn khó khăn, gian khổ để biến chốn hoang hóa thành vùng đất trù phú. Không có lực lượng này cùng kinh nghiệm và sự cần cù, sáng tạo thì chủ trương, nghị quyết cũng nằm trên giấy thôi”.

Thách thức và cơ hội

Tại lễ tổng kết 30 năm khai phá Đồng Tháp Mười tổ chức ngày 1-12 vừa qua tại Đồng Tháp, GS.TS Võ Tòng Xuân băn khoăn: đời sống một bộ phận nông dân vẫn còn khó khăn. Vấn đề đặt ra tới đây là Đồng Tháp Mười sẽ đi lên bằng mô hình nào hay cứ dựa mãi vào cây lúa? Như vậy liệu người dân có thể giàu lên được không? Rồi ông kiến nghị: “Cơ cấu kinh tế hiện nay ở Đồng Tháp Mười trong nhiều năm tới vẫn là nông nghiệp. Do vậy cần công nghiệp hóa, đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp. Đồng thời cần tổ chức sản xuất theo liên kết bốn nhà cho chặt chẽ”.

“Đất phèn Đồng Tháp Mười được xả rửa bằng chính những giọt mồ hôi, nước mắt và có khi bằng máu của biết bao người dân. Vì thế những ai đang sống và làm ăn trên mảnh đất này đều phải xem đó là vinh dự và phải làm tốt hơn thế hệ cha anh trước đây” 

Ông DƯƠNG QUỐC XUÂN
(chủ tịch UBND tỉnh Long An)

Thách thức đối với Đồng Tháp Mười ngay bây giờ và trong tương lai là rất lớn. Ông Dương Quốc Xuân cho rằng đó cũng là cơ hội để con người tiếp tục chứng tỏ tài trí chế ngự thiên nhiên khắc nghiệt như từng làm hơn 30 năm qua.

Là một người từng đổ mồ hôi khai phá Đồng Tháp Mười, ông Xuân hiểu được giá trị to lớn của từng mét vuông đất màu mỡ bây giờ. Ông nói một cách hình tượng: “Đất phèn Đồng Tháp Mười được xả rửa bằng chính những giọt mồ hôi, nước mắt và có khi bằng máu của biết bao người dân. Vì thế những ai đang sống và làm ăn trên mảnh đất này đều phải xem đó là vinh dự và phải làm tốt hơn thế hệ cha anh trước đây”.

Theo ông Xuân, tỉnh Long An đã quy hoạch năm huyện Đồng Tháp Mười thành vùng trọng điểm sản xuất lương thực của tỉnh và cả nước. Hiện nay vùng Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa và một phần huyện Thủ Thừa, Bến Lức đã sản xuất hơn 60% sản lượng lúa toàn tỉnh. Tới đây tỉnh Long An tập trung đầu tư đưa vùng này thành vùng chuyên canh nông nghiệp kỹ thuật cao để nâng giá trị, chất lượng nông sản, nâng cao thu nhập của nông dân. Năm năm tới nông thôn nơi này sẽ là “nông thôn mới” gắn với những đô thị ở các cụm dân cư đông đúc.

Tiền Giang, Đồng Tháp cũng đã và đang quy hoạch, kêu gọi đầu tư các ngành công nghiệp vào Đồng Tháp Mười như Long An đã làm. Đi một vòng Đồng Tháp Mười, chúng tôi thấy có nhà máy sản xuất giấy từ cây đay; nhà máy sản xuất ván dăm từ gỗ tràm; viên năng từ tinh dầu tràm, trấu (sản phẩm thải ra từ chế biến lúa gạo) ở Long An.

Tại Tiền Giang có Khu công nghiệp Long Giang và một khu công nghiệp, dịch vụ, đô thị đang hình thành ở huyện Tân Phước. Vùng nguyên liệu khóm bạt ngàn đã có nhà máy chế biến rau quả xuất khẩu tiêu thụ. Trong tương lai không xa nhiều nơi trong vùng Đồng Tháp Mười sẽ có những khu dân cư, đô thị sinh thái mọc lên; những khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp nằm xen trong những ruộng lúa, rừng trà, ruộng khóm bạt ngàn.

Khi đề nghị ông phác họa bức tranh toàn cảnh về Đồng Tháp Mười 10-20 năm tới, ông Xuân đáp không do dự: “Thu nhập bình quân đầu người của nông dân Đồng Tháp Mười đến năm 2015 sẽ đạt 50 triệu đồng/người/năm, cao hơn mức trung bình toàn tỉnh.

Đồng Tháp Mười sẽ có những đô thị sầm uất giữa những cánh đồng lúa bạt ngàn cò bay thẳng cánh; đường sá sẽ được trải nhựa; nhà máy, xí nghiệp dày đặc trong các vùng nguyên liệu lúa gạo, đay, tràm; du khách khắp thế giới sẽ đến nườm nượp để tham quan vùng đất phèn ngập nước độc đáo của thế giới; tìm hiểu về tinh thần và ý chí tuyệt vời của người Việt trong việc chinh phục Đồng Tháp Mười”.

VÂN TRƯỜNG – ĐỨC VỊNH

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s