All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Mở kho tàng của bạn

Daiju đến thăm thiền sư Baso ở Trung Quốc. Baso hỏi: “Anh tìm gì?”

“Giác ngộ,” Daiju trả lời.

“Anh có kho tàng riêng của anh. Tại sao tìm bên ngoài?” Baso hỏi.

Daiju thắc mắc: “Kho tàng của tôi ở đâu?”

Baso trả lời: ‘Cái anh đang tìm là kho tàng của anh.”

Daiju mừng rỡ! Kể từ đó Daiju luôn luôn nói với bạn bè: “Mở kho tàng của anh và dùng nó.”

Bình:

Baso dōitsu (Mã Tổ Đạo Nhất, 馬祖道一, 709-788), là một Thiền sư Trung Quốc đời nhà Đường, và là môn đệ và người đắc pháp duy nhất của Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng. Sư có rất nhiều môn đệ đắc đạo như Bách Trượng Hoài Hải, Nam Tuyền Phổ Nguyện, Đại Mai Pháp Thường, Đại Châu Huệ Hải…

Mã Tổ Đạo Nhất thường được xem như người có ảnh hưởng mức thứ 3 trên Thiền tông, sau Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma và lục tổ Huệ Năng.

• Bản tiếng Anh này nói “Daiju was delighted”, tức là mừng rỡ hớn hở, khi nghe Mã Tổ Đạo Nhất trả lời. Vài bản khác dùng từ “enlightened”, tức là “giác ngộ.”

• Giác ngộ, Niết Bàn, Phật… ở trong ta. Không nẳm ở ngoài ta đâu mà tìm.

Trần Nhân Tông, tức Trúc Lâm Đầu Đà, thủy tổ của Thiền phái Trúc Lâm, nói trong bài Cư trần lạc đạo:

Gia trung hữu báo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền

(Trong nhà có của đừng tìm nữa
Nhìn cảnh vô tâm hỏi chi thiền)

Tâm ta vốn là tâm Phật, chỉ bị vô minh che khuất.

Vô minh là chấp trước—bám vào cái này, bám vào cái kia.
Bám vào tham, sân, si.
Bám vào cái tôi (ngã).
Bám vào thành kiến—cái này tồi, người kia tốt.
Bám vào đạo—phải là thế này mới là đạo, thế kia không là đạo.
Bám vào pháp tu—tu thế này mới đúng, thế kia là sai.
Bám vào Phật–người này là Phật, đi theo ngài thì sẽ giác ngộ.
Bám vào… Bám vào…
Bám vào cả quan niệm “đừng bám” (chấp ngay cả vô chấp).

“Nhìn cảnh vô tâm”–nhìn mưa thì thấy mưa, đừng diễn giải là “chia ly đầy nước mắt”, v.v….—thì đó là Thiền, là ngộ. Như Tanzan vô tâm mang kiều nữ qua vũng bùn.

“Nhìn cảnh vô tâm” là không còn bị chấp trước nào che khuất tâm ta. Lúc đó tâm sẽ sáng láng trở lại như thời ngyên thủy, tức là tâm trở lại “bản lai diện mục” (mặt mũi nguyên sơ) của nó. Đó là giác ngộ, là Niết Bàn.

• Kho tàng ở trong ta. Hạnh phúc, an lạc, an bình… đã có sẵn trong ta. Đừng tìm ở ngoài.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Open Your Own Treasure House

Daiju visited the master Baso in China. Baso asked: “What do you seek?”

“Enlightenment,” replied Daiju.

“You have your own treasure house. Why do you search outside?” Baso asked.

Daiju inquired: “Where is my treasure house?”

Baso answered: “What you are asking is your treasure house.”

Daiju was delighted! Ever after he urged his friends: “Open your own treasure house and use those treasures.”

#28

Tranh luận dân chủ

Chào các bạn,

Nhân dịp chúng ta vừa tạm ngưng cuộc thảo luận sôi nổi, hấp dẫn và đáng làm trường hợp nghiên cứu (case study) cho các bạn muốn nghiên cứu về nghệ thuật tranh luận, về bài Ánh sáng và Bóng tối – Bạn chọn cái nào? vừa qua, chúng ta hãy tóm tắt một vài điểm chính về nghệ thuật tranh luận dân chủ.

Nghệ thuật tranh luận dân chủ là vấn đề lớn với đất nước chúng ta, đang dân chủ hóa từng bước từng ngày. Tiến trình dân chủ hóa tốt và nhanh đến đâu tùy theo chúng ta xây dựng được truyền thống tranh luận dân chủ tốt đến đâu.

Đối với chúng ta, xây dựng dân chủ là xây dựng một truyền thống văn hóa tranh luận mới, vì văn hóa truyền thống của chúng ta là văn hóa “đồng thuận”, mà văn hóa tranh luận dân chủ là văn hóa “Đồng ý‎ rằng chúng ta bất đồng ý” (Let’s agree that we disagree).

Văn hóa đồng thuận—mọi người đồng ý ‎ về mọi điểm–thực ra rất tốt cho sức mạnh tập thể. Vấn đề là, ngày nay chuyện mọi người đều đồng ‎ý về mọi vấn đề hầu như không thể xảy ra, vì chúng ta đã du nhập nền văn hóa lớn rộng của thế giới với đủ mọi trường phái tư tưởng, triết l‎ý, văn hóa… khác nhau. Ngay cả những người trong một nhóm tuổi, một thế hệ, đã có nhiều suy nghĩ và ý thích khác nhau, huống chi là những người khác thế hệ, khác dân tộc, khác giáo dục, khác kinh nghiệm… Khi có nhiều khác nhau trong cá tính mà đòi là phải đồng thuận, thì chỉ có một cách là một nhóm mạnh đặt chuẩn bắt mọi người khác tuân theo, và như thế là có áp bức và mâu thuẫn. Các mâu thuẫn này—ngấm ngầm hay bùng phát—đều làm yếu sức mạnh tập thể. Vì vậy, biện pháp tốt nhất để mọi người cùng vui vẻ với nhau là “đồng ‎ý rằng chúng ta có thể bất đồng ý”, ngoại trừ không được bất đồng ‎ý về qui luật này. 🙂

Nhưng tại sao ta lại nói đến “tranh luận”?

Nếu tư tưởng khác nhau thì đương nhiên đi đến tranh luận. Ta có thể dùng từ “đối thoại”, nhưng từ “tranh luận” chính xác hơn, vì (1) trong các vấn đề nóng bỏng, đối thoại thường đưa đến tranh luận, và (2) tranh luận thường tốt hơn là đối thoại xìu xìu ển ển, vì khi các “đối thủ” tranh luận kịch liệt, mỗi bên sẽ cố gắng đưa các luận cứ mạnh nhất mà mình có thể tìm ra, nhờ đó mà tư tưởng sáng tạo được sinh ra rất nhiều trong mỗi cuộc tranh luận. Tranh luận luôn luôn đưa đến sáng tạo.

Tranh luận thế nào?

Các điều nên tránh:

• Đừng tấn công cá nhân: Tranh luận là nói về vấn đề, không phải là về người đang tranh luận, cho nên không nên tấn công cá nhân, như là: “Anh là người miền trung (hay công giáo, hay dân kỹ thuật…) anh không biết được việc này” hay “Anh đã li dị vợ, chống phụ nữ là phải rồi,” hay “Vợ anh mà còn bất đồng ý‎ với anh huống chi là tui.”

Khi tấn công cá nhân xảy ra, cuộc tranh luận đổ vỡ ngay. Trong giới luật sư, người nào làm thế sẽ bị chánh án chỉnh ngay trong toà và bị các luật sư khác xem thường ngay (như là thiếu lễ nghĩa).

• Đừng lái vấn đề khỏi vấn đề chính. Làm tốn thời giờ mọi người. Bồi thẩm đoàn hay người nghe sẽ rất bực mình, và có thể cho bạn thua.

• Lấy ý và đừng quá câu nệ vào ngôn ngữ (Trừ khi bạn cố tình muốn làm cho bồi thẩm đoàn hay người nghe bị lùng bùng về lý luận của bên kia, chẳng hạn. Đây là đòn thuộc loại ma đạo, và có thể bị backfire—dội ngược lại mình–dễ dàng. Ví dụ, bồi thẩm đoàn (hay người nghe) thấy mình cứ kiếm chuyện với từ ngữ mãi và không tập trung vào vấn đề chính, có thể nổi xùng và cho mình thua).

Các điều nên làm:

• Tương kính nhau một tí, dù là đang ra chiêu rất mạnh. Xem người kia là bạn, dù mình đang chống tư tưởng của bạn kịch liệt, làm cho mình thấy vấn đề rõ hơn.

• Làm việc tận lực: Tức là nếu có tư tưởng mới thì tung ra, đừng giữ lại, vì tư tưởng là hoa trái của tranh luận.

• Khi đã hết ý thì nên ngưng dù là chưa kết luận gì được. Hết ý là khi mọi người bắt đầu lập lại điều mình đã nói mà không thêm được gì mới cả.

• Sau khi đã hết ý, hay hết giờ, thì bắt đầu vui chơi với nhau việc khác.

Các luật sư “giết nhau” trước tòa, hay các chính trị gia “thanh toán” nhau dữ dội trên TV, cũng là một loại kịch cao cấp mà thôi. “Đánh nhau” xong thường rủ nhau đi uống cà phê, dù là các cử tri hay thân chủ ít thấy chuyện đó.

Trong một hệ thống dân chủ, tranh luận không phải là làm quyết định. Tranh luận chỉ để mang ra ý tưởng sáng tạo. Quyết định thường được làm sau đó theo thủ tục hành chánh đã ấn định trước, như là bỏ phiếu ở quốc hội, quan chức hành pháp làm quyết định, đi bầu… Dù là cách quyết định nào thì chúng ta tin rằng các quyết định đó cũng đã thừa hưởng được nhiều tư tưởng sáng tạo do tranh luận trước đó mang lại.

Vấn đề tranh luận dân chủ là vấn đề rất khó khăn cho dân Việt. Ở các cộng đồng người Việt nước ngoài, chúng ta vẫn có một khuynh hướng là đè bẹp tiếng nói khác với tiếng nói của nhóm mạnh nhất, và hàng ngày vẫn có có nhiều chuyện chưởi bới nhau thay vì đối thoại hay tranh luận. Ở trong nước thì chỉ có một tiếng nói đồng thuận, và từ “phản biện” vẫn là từ … nhậy cảm 😦

Vì vậy tất cả chúng ta cố gắng xây dựng văn hóa tranh luận dân chủ cho một Việt Nam mới, dân chủ và phú cường.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Tranh luận là gi?

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Giòng…

Xưa

Nón nghiêng phố nhỏ giữa trưa
Em cười rạng rỡ cơn mưa đầu hè
Tóc dài xanh thẳm hàng me…

Nay

Tần ngần giữa chốn đế đô
Néon xanh đỏ xô bồ cộ xe
Chợt nghe như nhớ sắt se…

Mai

Từ bi vô lượng từ bi
Ngủ quên một giấc xuân thì hay sao?
Giữa đời sóng vỗ lao xao…

TĐH
Lake of the Woods, VA, USA
Jan.  24, 2010

Cám ơn Trần Can đã giới thiệu thể thơ lục bát ba câu đến các anh chị em 🙂

Ba ngày nữa

Suiwo, đệ tử của Hakuin, là một vị thầy rất giỏi. Vào một kỳ mở lớp riêng một thầy một trò (zazen) trong mùa hè, một đệ tử từ một hải đảo miền nam nước Nhật đến gặp thầy.

Hotei - tranh Hakuin

Suiwo cho cậu một công án: “Nghe tiếng vỗ của một bàn tay.”

Người đệ tử ở đó 3 năm nhưng không giải được. Một đêm nọ, nước mắt dàn dụa, cậu vào gặp Suiwo. “Con phải về nam, nhục nhã và xấu hổ” cậu nói, “Con không giải được công án này.”

“Đợi một tuần nữa và thiền liên tục,” Suiwo khuyên. Nhưng giác ngộ vẫn không đến được với cậu đệ tử. “Thử thêm một tuần nữa,” Suiwo nói. Người đệ tử vâng lời, nhưng cũng chỉ hoài công.

“Thêm một tuần nữa.” Nhưng lại cũng vô ích. Tuyệt vọng, người đệ tử năn nỉ xin về, nhưng Suiwo yêu cầu cậu thiền năm ngày nữa. Cũng chẳng có kết quả gì. Rồi Suiwo nói: “Thiền thêm 3 ngày nữa, nếu con không đạt được giác ngộ, thì con nên tự tử là hơn.”

Vào ngày thứ hai, cậu đệ tử giác ngộ.

Bình:

• Hakuin Ekaku (1686-1769 hay 1685-1768) là một trong những vì thiền sư có ảnh hưởng lớn nhất trên thiền tông Nhật Bản. Hakuin cải tiến và phát huy thiền Lâm Tế từ thời trì trệ và đốn mạt, chú tâm vào cách dạy dỗ khó khăn cổ truyền, và trộn lẫn thiền quán và công án thành cách luyện tập thường xuyên. Ảnh hưởng của Hakuin lớn đến mức tất cả các thiền sư Lâm Tế ngày nay đều là hậu nhân của Hakuin và dùng những phương cách luyện tập mà Hakuin đã dạy.

Cái bao của Hotei - tranh Hakuin

Hakuin chính là thiền sư “Vậy à” ta đã nói trước đây.

Suiwo vị thầy trong bài này là học trò của Hakuin.

• Bài này nói đến nỗ lực dữ dội để đạt giác ngộ. Không đạt giác ngộ được nếu ta không cực lực cố gắng để hiểu biết.

• Thường thì thầy biết khi nào trò sắp nắm được chân lý. Nên những lúc đó nếu trò muốn bỏ cuộc, thầy sẽ ép trò đi tiếp một tí nữa để đến thành công.‎

• Tại sao “giác ngộ” có vẻ gì thật là bí ẩn như thế? Cả bao năm người học trò cứ cảm thấy mình vẫn bế tắc ngu si trơ trơ như đá, đến mức cứ đòi bỏ cuộc. Rồi đùng một cái thì “hốt nhiên đại ngộ” như là trong tối tự nhiên có một công tắc bật đèn sáng choang, chứ không phải như học toán mỗi ngày hiểu thêm một tí, từ toán cộng, lên trừ, lên nhân, lên chia, lên phân số…?

Thưa, vì chúng ta có thói quen suy nghĩ với luận lý‎ con người: Có cái bàn, thì có ông thợ mộc. Có vũ trụ thì có người làm ra, gọi là Thượng đế. Vậy thì ai sinh ra Thượng đế? Bố TĐ. Lên đến ông nội TĐ, ông cố TĐ… không bao giờ ngưng, dù có suy nghĩ 100 năm.

Con gà có trước hay cái trứng có trước? Suy nghĩ 100 năm.

Trước khi tôi sinh ra, tôi đã từ đâu đến? Chết rồi tôi đi đâu? Suy nghĩ 100 năm.

Cho nên tư tưởng của người suy tư có thể chạy vòng tròn như kiến bò miệng đĩa, bế tắc hoài, không đi đâu được cả, muôn năm.

Cho nên lúc ta đã suy luận hết cách, biết là vô ích, và dẹp bỏ mọi suy luận đó đi, và bắt đầu cảm nhận bằng xúc cảm và trực nghiệm, tức là cảm nhận trực tiếp trong lòng mà không cần suy nghĩ, một điều gì đó sâu xa hơn là suy‎ luận, như là: “Thượng đế là tình yêu—trong ta, trong mọi người, và nối kết mọi người lại với nhau”, hay “tất cả mọi thứ chỉ đều là những lọn sóng của một đại dương Sự Thật mà ta gọi là Không”.

Những điều này ta có thể hiểu tí ti bằng suy luận, nhưng thực ra ta chỉ thực sự hiểu được bằng cảm nhận rất rõ trong lòng. Cũng như là tình yêu. Chỉ có yêu là hiểu được tình yêu; không thể diễn tả bằng ngôn ngữ hay l‎ý luận.

Tranh Hakuin Ekaku

Khi ta dẹp bỏ suy luận và bắt đầu cảm xúc và kinh nghiệm trực tiếp các điều này, tư nhiên ta bừng sáng trong đầu: “hốt nhiên đại ngộ”, như người mới khám phá được tình yêu: “Ồ, đây là tình yêu, vậy mà trước nay đọc sách hoài mà chẳng biết nó thế nào.”

• Ta đã nói về “Tiếng vỗ của một bàn tay” trước đây.

• Từ “giác ngộ” (enlightened, Satori trong tiếng Nhật) không có cùng nghĩ với từ giác ngộ nguyên thủy dùng trong Phật gia. Theo truyền thống, giác ngộ có nghĩa là đạt được tĩnh lặng và hiểu biết đến mức thành Bồ tát, thành Phật. Satori trong thiền tông Nhật Bản là một mức độ hiểu biết và trực nghiệm về “tĩnh thức” đủ để được thầy xác nhận là mình có thể làm thầy (Roshi). Đây là bước đầu tiên, trong nhiều bước giác ngộ, với bước cuối cùng là Niết Bàn.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Three Days More

Suiwo, the disciple of Hakuin, was a good teacher. During one summer seclusion period, a pupil came to him from a southern island of Japan.

Suiwo gave him the problem: “Hear the sound of one hand.”

The pupil remained three years but could not pass the test. One night he came in tears to Suiwo. “I must return south in shame and embarrassment,” he said, “for I cannot solve my problem.”

“Wait one week more and meditate constantly,” advised Suiwo. Still no enlightenment came to the pupil. “Try for another week,” said Suiwo. The pupil obeyed, but in vain.

“Still another week.” Yet this was of no avail. In despair the student begged to be released, but Suiwo requested another meditation of five days. They were without result. Then he said: “Meditate for three days longer, then if you fail to attain enlightenment, you had better kill yourself.”

On the second day the pupil was enlightened.

# 25

Giữ đẹp khu vườn tổ quốc

Chào các bạn,

Hôm qua chúng ta đã bàn về nhiều vấn đề quan trọng của đất nước qua những phản hồi rời rạc của hai bài Phát triển con người, phát triển đất nướcÁnh sáng và bóng tối – Bạn chọn cái nào? Hôm nay chúng ta tóm tắt ý chính của các phản hồi đó trong bài này.

“Điều kiện cần và đủ để tội ác chiến thắng là người tốt chẳng làm gì cả.”

Câu nói này của Edmund Burke nói lên căn bản của một xã hội lành mạnh. Một xã hội lành mạnh không chỉ là một xã hội có người tốt, mà là một xã hội có người tốt tích cực ngăn chặn điều xấu.

Khu vườn có thể có đủ thứ kỳ hoa dị thảo, nhưng chỉ cần người làm vườn không nhổ cỏ, thì chỉ trong một thời gian ngắn, khu vườn thành khu rừng, và kỳ hoa dị thảo cũng ngợp thở mà chết.

Nghĩa là, gánh nặng giữ cho xã hội của chúng ta trong sạch rơi vào vai của mỗi người chúng ta trong xã hội. Không “nhưng nhị” gì hết.

Chúng ta đã thừa biết người tiêu cực thường viện hàng trăm cớ để sống tiêu cực, trong khi người tích cực chỉ có một qui luật duy nhất—đời sống của tôi lệ thuộc vào tôi.

Đời sống quốc gia lệ thuộc vào công dân.

Nhưng nói đến đời sống quốc gia thì chúng ta nghe đủ mọi loại bán cái của người tiêu cực. Và rất tiếc là trong vòng bao nhiêu thập niên nay, các lý luận bán cái này là dòng chính của nền văn hóa chúng ta, như là—một con én không làm được mùa xuân, tất cả chúng nó tham nhũng hết không làm gì được, toàn mà một đám gian tham nắm quyền, nhà nước nuôi tham nhũng… Đây toàn là các l‎ý luận tiêu cực kinh điển, các bạn có thấy được điều này không? Chúng luôn luôn được đưa ra như là cái cớ để “tôi không làm gì cả”, hay xa hơn là “tôi cũng phải đi theo họ để sống.”

Đây là qui luật chúng ta phải nắm vững, không thể mập mờ: Cuộc đời của mình do chính mình chịu trách nhiệm. Cuộc đời của quốc gia do quốc dân chịu trách nhiệm.

Và quốc dân là ai? Là mỗi người dân chúng ta góp lại.

Cho nên mỗi người chúng ta phải chấp nhận sự thật căn bản là: Tôi chịu một phần trách nhiệm về những vấn đề của đất nước.

Cũng như sân trường chỉ có thể sạch khi mỗi học sinh chịu trách nhiệm và hành động để giữ sạch nó, mỗi người dân phải chịu trách nhiệm và hành động để giữ sạch quốc gia.

Bằng cách nào?

Cho đến giờ này mà bạn còn hỏi bằng cách nào, thì bạn đã làm gì trong những năm qua?

1. Nhận biết điều sai là sai. Điều này thì ai cũng biết, tối thiểu là 90% của những gì xảy ra. Chỉ 10% vấn đề là mù mờ khó hiểu. Chẳng có gì khó khăn để biết gian lận, dối trá là sai cả.

2. Gọi điều sai là sai. Tiền hối lộ thì gọi là tiền hối lộ, đừng gọi là tiền bồi dưỡng. Và nếu gọi là tiền bồi dưỡng thì cũng đừng cho là bồi dưỡng là đúng, còn hối lộ mới sai.

3. Đừng lải nhải các l‎ý luận chứng minh điều sai là đúng, hay là nó cũng chấp nhận được.

4. Đừng làm điều sai.

5. Đừng ủng hộ người khác làm sai.

6. Đừng tiếp tay với cái xấu, với tham nhũng, dưới bất kỳ hình thức nào, như là chi hối lộ cho tham nhũng.

7. Kêu gọi người khác sống thanh liêm ngay thẳng.

8. Yêu cầu người khác, nhất là nhà nước thanh liêm ngay thẳng.

Một số quan chức nhà nước tham nhũng không thể tiếp tục được nếu toàn dân không tiếp tay.

Tùy theo hoàn cảnh, mỗi người sẽ phải quyết định mình nên làm gì trong hoàn cảnh đó. Điểm chính là chúng ta phải quyết tâm nhận cái sai là sai, và không đồng lõa thỏa hiệp với nó. Nếu không thì ta không thể giải quyết vấn đề phát triển của đất nước.

Chúng ta không thể tiếp tục sống như một quốc gia hạng đáy với tư cách công dân của một quốc gia hạng đáy. Chúng ta có 4 ngàn năm văn hiến, chúng ta đã từng thắng những cường quốc hàng đầu thế giới. Hãy sống như con dân của một quốc gia anh hùng vô địch và góp phần mình trong việc biến quốc gia mình thành một cường quốc vô địch.

Làm người tốt ngồi yên chưa đủ. Quốc gia cần người tốt tích cực ngăn chận cái xấu.

Tích cực như thế nào thì tùy bạn tự chọn lựa trong khả năng và điều kiện riêng của mình. Nhưng “tích cực ngăn chận cái xấu” là điều tổ quốc đòi hỏi trong mỗi công dân. Ta sẽ không làm tròn nghĩa vụ với tổ quốc nếu ta không làm gì để chận tối thiểu là một điều xấu đang xảy ra trước mắt.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Giọng nói của hạnh phúc


Sau khi thiền sư Bankei qua đời, một người mù sống gần chùa của thiền sư nói với một người bạn: “Bởi vì tôi mù, tôi không thể quan sát sắc mặt người ta, nên tôi phải xét tư cách của họ qua giọng nói. Thường thì khi tôi nghe một người chúc mừng người khác về chuyện vui hay thành công nào đó, tôi cũng nghe một âm bí mật của ganh tị. Khi chia buồn với người khác về mất mát của họ, tôi cũng nghe thích thú và thỏa mãn, cứ như là người chia buồn thật sự vui vì có cái gì đó để lại cho họ hưởng trong thế giới riêng của họ.

“Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của tôi thì giọng nói của Bankei luôn luôn thành thật. Khi thiền sư bày tỏ hạnh phúc, tôi chẳng nghe gì khác ngoài hạnh phúc, và khi thiền sư bày tỏ buồn rầu, tôi chẳng nghe gì khác ngoài buồn rầu.”

Bình:

Bankei yōtaku (eitaku), Bàn Khuê Vĩnh Trác (盤珪永琢), 1622 – 1693, cũng được gọi là Bàn Khuê Quốc sư (zh. 盤珪國師, ja. bankei kokushi), là một Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, hệ phái Diệu Tâm tự (妙心寺, ja. myōshin-ji). Sư là một trong những Thiền sư danh tiếng nhất trong lịch sử Phật giáo Nhật Bản với tư cách là người đã phổ biến thiền học đến lớp quần chúng.

Chúng ta đã có bài Vâng Lời về Bankei trước đây.

• Ý nghĩa của truyện này rất rõ. Không phải chỉ là người mù, nhưng người sáng mắt, dù tai không thính như vậy, cũng cảm nhận được suy tư của một người khi họ nói chuyện với mình. Cho nên quy luật số một của truyền thông hiệu quả là: Thành thật.

Nếu khen thì khen thành thật, đừng khen dối. Nếu một người bạn cho xem một bài văn rối ren đọc không hiểu gì, nhưng ít ra cũng là cố gắng lớn của bạn, thì đừng khen “Bài này hay quá.” Nói thế là “nói láo tận răng” (lying to the teeth). Thay vì vậy thì khen thật tình, “Chị bận thế mà cố gắng bỏ công sức viết bài này thật là quý.” Hoặc là thêm nếu cần, “Em cần đọc lại vài lần nữa để hiểu hết ý bài viết.”

Khen dối, người bị hại đầu tiên là mình. Nó làm mình coi thường chính nhân cách của mình. Sau đó là hại bạn, vì nó cho bạn ăn bánh vẽ.

• Ngày nay chúng ta cần để ý đến lời mình viết trên email và Internet. Rất nhiều khi đọc một câu khen trên Internet diễn đàn ta thấy rõ ràng là câu khen đó không thành thật. Kỹ thuật viết là một chuyện, nhưng là chuyện nhỏ. Chuyện lớn hơn là tâm ta khi viết.

• Có lẽ vấn đề ta thấy thường xuyên nhất và tràn ngập nhất trong mỗi cá nhân chúng ta, trong gia đình, trong nhà nước, trong quốc gia… là thiếu thành thật.

Lời nói là bạc, im lặng là vàng, lời nói thành thật là kim cương xanh.

• Sống thế nào để lời nói ra ngoài và suy tư bên trong cùa mình là một–đó là thiền.

Dĩ nhiên là nếu tâm ta đang có suy tư tối tăm, thì không thể giả vờ sáng sủa bên ngoài để “trong ngoài là một” được. Cho nên, cốt yếu là tâm phải trong sáng như giọt thủy tinh.

• Không phải chỉ có người mù mới nghe được sự thành thật hay giả dối trong giọng nói của người khác. Ai trong chúng ta cũng có khả năng này, chỉ cao thấp khác nhau mà thôi. Thường thì chúng ta có thể biết được một người nói thật lòng không, hay chỉ nói cho có lệ, hay là nói dối. Cho nên người hời hợt hay dối trá trong đối thoại rất ít khi giấu được ai.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

The Voice of Happiness

After Bankei had passed away, a blind man who lived near the master’s temple told a friend: “Since I am blind, I cannot watch a person’s face, so I must judge his character by the sound of his voice. Ordinarily when I hear someone congratulate another upon his happiness or success, I also hear a secret tone of envy. When condolence is expressed for the misfortune of another, I hear pleasure and satisfaction, as if the one condoling was really glad there was something left to gain in his own world.

“In all my experience, however, Bankei’s voice was always sincere. Whenever he expressed happiness, I heard nothing but happiness, and whenever he expressed sorrow, sorrow was all I heard.”

# 27

Phát triển con người, phát triển đất nước

Chào các bạn,

Trong câu hỏi Nghiên Cứu Xã Hội tuần này chúng ta hỏi “Điều gì bạn cho là lợi thế kinh tế số một của Việt Nam?” và ta có các câu trả lời khác nhau: dầu hỏa, vị thế địa lý, con người, chính sách. Thực ra, thì mỗi thứ đóng góp một tí.

Nhưng, đi đến tận cùng gốc rễ của vấn đề, câu trả lời đúng luôn luôn là “con người”.

Bé hỏi mẹ: Mẹ ngày sau con sẽ sướng hay khổ?
Mẹ trả lời: Cái đó tùy con.

Tương lai thế giới này tốt hay xấu?
Tùy chúng ta trên thế giới sống với nhau thế nào.

Tương lai nước Mỹ (Pháp, Đức…) sẽ ra sao?
Tùy dân Mỹ (Pháp, Đức…) sống thế nào.

Trong tất cả các câu hỏi trên, chẳng bao giờ ai trả lời yếu tố gì ngoài yếu tố con người. Vì, trong trường kỳ, con người quyết định tất cả.

Tài nguyên thiên nhiên–rừng núi, hầm mỏ, dầu hỏa, sông ngòi, bờ biển—được sử dụng thế nào, tốt hay xấu cho chúng ta, là do con người chúng ta quyết định.

Sử dụng vị thế địa l‎ý khôn ngoan đề xây dựng, hay ngu dốt để cứ đánh nhau với láng giềng năm này qua năm nọ, là do con người quyết định.

Chính sách tốt hay tồi là do con người quyết định.

Con người là yếu tố đầu tiên và yếu tố cuối cùng của xã hội.

Thế thì, muốn phát triển xã hội ta cần phải phát triển con người.

Nhưng, làm thế nào để phát triển con người?

Cái gì là gốc?

Bằng cấp? Kiến thức IT? Kiến thức y khoa? Kiến thức luật?…

Hay là thành thật, khiêm tốn, yêu người, yêu xã hội của mình…

Bạn nói tài và đức đều cần như nhau. Dĩ nhiên cả hai đều cần. Nhưng cái gì là gốc, cái gì là ngọn?

Nếu bạn nói “cả hai đều cần như nhau”, thì e rằng bạn nói chuyện kiểu nửa nạc nửa mỡ, thiếu quyết đoán.

Học cái gì khó hơn? Học luật hay học tử tế? Bạn đã thấy bao nhiêu luật gia, thẩm phán, công tố viên… tham nhũng trong những đường dây chạy án? Thế thì học luật khó hơn, hay học thành thật và thanh liêm khó hơn?

Tất cả những kiến thức kỹ thuật –y, dược, luật, hành chánh, IT—đều dễ học. Ai học cũng được. Đừng có ảo tưởng là chỉ người siêu thông minh mới học được các môn này. Chỉ là học nhanh hay chậm, với năng khiếu của mình mà thôi.

Nhưng đạo đức—thành thật, khiêm tốn, yêu người, can đảm—không phải ai cũng học được, không phải ai cũng chịu học.

Ai cũng học bắn súng được. Nhưng có người dùng súng để giữ an ninh cho dân, có người dùng súng để cướp của giết người. Và người ác, đôi khi không học đức hạnh được, vì họ không chịu học. Đôi khi đứng dựa cọc tử hình mà vẫn chưa vén được màn vô minh của mình được tí nào.

Cho nên ta phải lấy cái tâm làm gốc, lấy đạo đức làm gốc.

Tạo con người tử tế, rồi người tử tế đi học kỹ thuật.

Còn hơn là tạo ra một mớ người kỹ thuật mà tâm địa tối tăm, phá nhiều hơn xây.

Mấy ngàn năm mà ta cứ lẹt đẹt dưới đáy thế giới. Chúng ta không thể tiếp tục tiến trình đổ thừa dài mấy ngàn năm—Tàu nó đốt sách ta, nó làm ta ngu; Tây nó làm ta ngu; ta không có tài nguyên thiên nhiên làm ta giàu…

Kinh nghiệm sống dạy cho chúng ta biết người đổ thừa vào hoàn cảnh, vào bố mẹ, vào người khác… là người thua cuộc. Người chiến thắng chỉ dựa vào một chỗ–thắng hay bại là do tôi.

Vậy thì, như một dân tộc, chúng ta phải tự dựa vào mình—vào dân tộc mình và vào mỗi người mình. Đi học, chỉ bị đứng chót lớp một hai tháng là thấy khó chịu rồi. Ở đây nước ta có bốn ngàn năm văn hiến mà vẫn lẹt đẹt dưới đáy thế giới. Lâu lâu lại có người ngoài xâm lăng áp bức, vì ta nghèo và yếu. Ta không thấy khó chịu hay sao?

Chúng ta không thể tiếp tục truyền thống đứng chót mấy ngàn năm mãi. Phải quyết định là, ta có 4 ngàn năm văn hiến, ta phải khá hơn mấy nước mới có 200 năm văn hiến. Và phải quyết tâm đưa đất nước đi lên mức đó, bắt đầu từ chính con người của mình, rồi con người của những người chung quanh mình.

Hãy nhìn vào viễn ảnh đất nước ít nhất là 100 năm nữa. Rồi bước bước đầu tiên. Hôm nay.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Đổi tranh luận lấy chỗ ngủ

Bất kỳ vị sư hành hương nào có thể thắng một tranh luận về Phật pháp với các sư sống trong một ngôi chùa đều có quyền ngủ lại trong chùa. Nếu thua, vị sư sẽ phải đi tiếp.

Trong một ngôi chùa ở vùng bắc nước Nhật có hai vị sư anh em đang sống với nhau. Người anh học rộng, nhưng người em thì dốt và chỉ có một mắt.

Một vị sư hành hương đến và xin ngủ nhờ, xin được tranh luận về giáo pháp cao thâm. Sư anh đã mệt vì phải học cả ngày hôm ấy, bảo sư em ra đấu thế. Sư anh cẩn thận dặn dò: “Đi ra và yêu cầu một cuộc đối thoại thầm lặng.”

Sư em và sư khách vào chánh điện và ngồi xuống.

Một lúc sau vị sư hành hương đứng dậy, vào gặp sư anh và nói: “Em của thầy quá hay. Đã thắng tôi.”

“Kể lại cho tôi nghe cuộc đối thoại,” sư anh hỏi.

“Vâng,” vị sư hành hương nói, “trước hết tôi giơ một ngón tay, biểu hiện Phật, người giác ngộ. Em thầy giơ lên 2 ngón, nói về Phật và Phật pháp. Tôi giơ ba ngón tay, biểu hiện Phật, Pháp và Tăng, sống an hòa với nhau. Rồi em thầy đưa nắm đấm vào mặt tôi, ‎ ý nói cả ba đều là một. Cho nên anh ấy thắng và tôi không có quyền ngủ lại đây.” Nói vậy rồi, sư hành hương ra đi.

“Anh chàng đó đâu rồi?” sư em chạy vào hỏi anh.

“Anh nghe là em thắng cuộc tranh luận rồi.”

“Thắng cái gì! Em phải đập cho hắn một trận.”

“Nói cho anh nghe đề tài tranh luận thế nào,” sư anh hỏi.

“Sao, mới thấy em hắn đã giơ lên một ngón tay, sỉ nhục em, ý nói là em chỉ có một mắt. Vì hắn là người lạ, em nghĩ là em nên lịch sự với hắn một tí nên em giơ hai ngón tay, chúc mừng hắn có hai mắt. Nhưng anh chàng bất lịch sự lại giơ ba ngón tay, ‎ ý nói cả hai người chúng ta chỉ có 3 con mắt. Vì vậy em nổi nóng và bắt đầu đấm hắn, nhưng hắn bỏ chạy cho nên hết đối thoại!”

Bình:

• Theo truyền thống Nhật các vị sư thường đi hành hương khắp nơi, thăm các chùa chiền cũng như các vị thầy lớn. Nếu là sư trẻ, thì thầy ra lệnh hành hương như là một loại tu tập. Nếu là sư thầy thì tự ‎ đi hành hương để học hỏi thêm và hành đạo trên đường đi. Tương truyền, các chùa ở Nhật có truyền thống đấu pháp đổi chỗ ngủ như trong truyện này.

• Ta chỉ nghe và thấy những gì tâm ta nghe và thấy. Một sự việc trước mắt, mỗi người chúng ta vẫn thấy và nghe khác nhau vì tâm ta khác nhau.

Đây cũng cùng ý với câu nói của triết gia hiện sinh Frederick Neitzche: “Không có sự thật nào cả, chỉ có sự diễn giải của sự thật đó mà thôi.”

Và đây cũng là một trong những quan điểm lý luận mà Phật gia dùng để kết luận “Đời là mộng huyễn bào ảnh” (mộng ảo bọt bóng – Kinh Kim Cang), tức là cuộc đời như ta thấy chỉ là cái nhìn riêng của cái tâm riêng của ta với những chấp trước, thành kiến, méo mó của nó, chứ đó không phải “sự thật như nó là” (the truth as it is).

• Vì vậy, đừng chấp vào điều ta hiểu, vào cái ta nghe thấy, để mà tranh cãi nhau, vì đó chỉ là ông nói gà bà hiểu vịt. Phật gia gọi là đừng chấp vào “danh sắc”.

• Tâm của ta thường thấy điều gì ta say mê hay bị ám ảnh nhiều nhất. Vị sư chột mắt bị ám ảnh bởi chột mắt nên diễn giải mọi sự là chuyện chột mắt. Vị sư hành hương thì say mê Phật pháp nên nói gì cũng thấy Phật pháp.

• Phật pháp trong các con số ở đây rất rõ, như vị sư hành hương nói:

1 = Phật (Buddha)

2 = Phật và Pháp (Buddha and Dharma, phật và giáo pháp của Phật)

3 = Phật, Pháp, Tăng – Tam bảo (Buddha, Dharma, Sangha – Three Jewels). “Tăng” ở
đây không có nghĩa là sư, mà là sangha, ngày trước có nghĩa là tăng đoàn của các sư và ni, ngày nay là toàn thể các Phật tử, các người tu học Phật.

1 = Phât, Pháp, Tăng là một. Câu này có thể hiểu nhiều cách hơi khác nhau tùy cấp độ. Mức thấp, Phật Pháp Tăng, tuy ba nhưng là một con đường tu tập đến giác ngộ. Ở mức cao, Phật Pháp Tăng là Một, là Giác Ngộ, là Niết Bàn, là Phật, là Không.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Trading Dialogue For Lodging

Provided he makes and wins an argument about Buddhism with those who live there, any wandering monk can remain in a Zen temple. If he is defeated, he has to move on.

In a temple in the northern part of Japan two brother monks were dwelling together. The elder one was learned, but the younger one was stupid and had but one eye.

A wandering monk came and asked for lodging, properly challenging them to a debate about the sublime teaching. The elder brother, tired that day from much studying, told the younger one to take his place. “Go and request the dialogue in silence,” he cautioned.

So the young monk and the stranger went to the shrine and sat down.

Shortly afterwards the traveler rose and went in to the elder brother and said: “Your young brother is a wonderful fellow. He defeated me.”

“Relate the dialogue to me,” said the elder one.

“Well,” explained the traveler, “first I held up one finger, representing Buddha, the enlightened one. So he held up two fingers, signifying Buddha and his teaching. I held up three fingers, representing Buddha, his teaching, and his followers, living the harmonious life. Then he shook his clenched fist in my face, indicating that all three come from one realization. Thus he won and so I have no right to remain here.” With this, the traveler left.

“Where is that fellow?” asked the younger one, running in to his elder brother.

“I understand you won the debate.”

“Won nothing. I’m going to beat him up.”

“Tell me the subject of the debate,” asked the elder one.

“Why, the minute he saw me he held up one finger, insulting me by insinuating that I have only one eye. Since he was a stranger I thought I would be polite to him, so I held up two fingers, congratulating him that he has two eyes. Then the impolite wretch held up three fingers, suggesting that between us we only have three eyes. So I got mad and started to punch him, but he ran out and that ended it!”

# 26

Phản ứng lập trình hay hành động tự do?

Chào các bạn,

Chúng ta vừa nói qua hai cách giản dị để tự đo lường công phu tư duy tích cực của mình hàng ngày—đo tự ái vặt, và đo cách mình cư xử với người chung quanh. Hôm nay ta nói đến một cách giản dị thứ ba. Ba cách này dùng chỉ một cũng được, cả ba cũng được, tùy mình.

Cách thứ ba là cách xem xét chúng ta có phản ứng máy móc một khi có điều gì đó xảy đến hay không, hay phản ứng của ta là một hành động tự do của tâm trí, đã được suy xét kỹ.

Mỗi người chúng ta là một bộ máy computer được lập trình qua di truyền và các yếu tố sinh học, giáo dục, hoàn cảnh, văn hóa và kinh nghiệm, tạo thành “tôi” với một tâm tính đặc biệt của tôi. Cái “tâm tính” của tôi chính là tiếng gọi tắt cho toàn bộ hệ thống lập trình trong tôi, và hệ thống đó cứ như vậy mà làm việc.

Cho nên, chê tôi ngu thì không sao, nhưng chê tôi xấu là có chuyện với tôi; gặp người Thái thì tôi thích người Nhật thì tôi ghét; đàn bà con gái mà hút thuốc xài không vô; tôi tận diệt ai tranh giành quyền hành với tôi; nói xấu tôi sau lưng là có chuyện với tôi… Cứ như thế, mỗi người chúng ta có hàng triệu phản ứng lập trình có sẵn. Cứ input này vào—nói xấu tôi sau lưng—thì output kia tự động chạy ra—tôi nổi điên và sẽ cho ngay một trận.

Lối “phản ứng lập trình” như thế chính là điều mà các đạo gia và triết gia gọi là “tù ngục của chính mình.” Ta tưởng là ta tự do, nhưng ta chẳng tự do tí nào—tòan bộ suy tư và hành động của ta chỉ là hệ quả bộ máy computer trong ta chạy tự động. Có thể là phức tạp hơn Windows Vista một tí nhưng vẫn chỉ là một bộ máy lập trình không hơn không kém.

Mức cao độ của tư duy tích cực là có thể bắt bộ máy mình ngừng chạy kiểu tự động, không phản ứng kiểu máy móc. Tức là, có thể bắt tâm “tĩnh lặng” không choi choi nổi giận, ghen tức hay sợ hãi… khi có input, và tâm có thể bình tĩnh tự do suy tư cách phản ứng của chính nó. Không còn phản ứng “tự động” kiểu lập trình nữa, mà tâm phản ứng tự do, có suy nghĩ kỹ lưởng, trước khi quyết định. Đây là tự do đầu tiên và cuối cùng của tâm thức—có tự do này mới là tự do, và có tự do này thì không còn tự do nào nữa để tìm.

Thế thì một cách đo lường tư duy tích cực hàng ngày của chúng ta là xem thử ta đã ngưng được bao nhiêu phản ứng tự động kiểu lập trình:

* Có người nói xấu ta, ta có nổi điên không?

* Nói đến nhà nước Trung quốc ta còn tự động chưởi bới không, hay là bình tĩnh suy xét nhẹ nhàng?

* Thấy nàng đi chơi với chàng khác có tự động nổi điên lên không? Hay muốn về nhà uống thuốc chuột không? Hay, dù buồn, vẫn đủ bĩnh tĩnh để tôn trọng và chấp nhận tự do lựa chọn của nàng?

* Ta xưa nay không ưa Hồi giáo, nay ta có thể không đưa kết luận ngay về một việc liên hệ đến Pakistan không?

* Có ai đó viết một bài báo sát phạt ta về vấn đề gì đó, ta có nổi điên lên và thề là phải cho hắn một bài học ngay không?

* Một vị đại sư khả ái mới nói ra một vài câu Phật pháp, ta có suýt xoa cho là chân l‎ý ngay không?

Nói chung, cách ta phản ứng bình thường trước đây, hiện nay ta có ngừng, không phản ứng như vậy, và tâm trí vẫn ở trong trạng thái thong thả (tức là không căng thẳng hậm hực) để suy nghĩ từ từ không?

Khả năng ngăn chặn phản ứng tự nhiên kiểu lập trình của mình trong mọi vấn đề, và cho mình thời gian cần thiết để suy nghĩ từ từ kỹ lưởng, là bằng chứng của công phu tư duy tích cực. Ta cần dùng nó hàng ngày để đo lường, hầu biết được ta đã tiến đến mức nào. Đây là mức độ cao cấp của tư duy tích cực.

Các sự đo lường thường xuyên sẽ giúp chúng ta tinh tấn. Đọc tư duy tích cực hay giáo pháp cả đời cũng chẳng nghĩ lý gì nếu ta không cố công tinh tấn trong việc thực hành các điều mình đọc.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,
Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Bài liên hệ: Tự do đầu tiên và cuối cùng, Tâm trí tự do

Cư xử thế nào với người chung quanh?

Chào các bạn,

Khi nói về tư duy tích cực, ta thường tập trung rất mạnh vào chính mình. Lúc mới đầu ta nói đến tự tin, quyết tâm, kiên trì. Đến mức cao hơn ta nói đến biết mình, quản lý‎ tâm mình, làm cho tâm mình tĩnh lặng—không sân hận, không chao đảo, không sợ hãi… Và vì thế, chúng ta rất dễ quên là tư duy tích cực chính là để ta sống với đời và sống với người.

Nếu ta ở trên rừng một mình, thực tế thì ta có tích cực hay tiêu cực chắc cũng không khác xa nhau lắm—ngày ngày kiếm đủ thức ăn, tối về ngủ đóng cửa đề phòng dã thú. Ngoài ra có yêu đời hay càm ràm về đủ mọi loại chim chóc thì có thể là khác nhau nơi tuổi thọ của mình, nhưng chẳng ai trên thế giới quan tâm đến việc đó cả.

Tuy nhiên khi ở chung với mọi người giữa phố thì người hay càu nhàu phàn nàn sẽ hoàn toàn khác với người vui vẻ yêu đời—một bên là thất bại và bị đa số người không ưa, một bên là thành công và đi đâu cũng nhiều người ưa thích.

Cho nên tư duy tích cực, dù là tập trung nhiều vào chính mình, thực ra ảnh hưởng rất lớn đến mọi người quanh mình.

Sở dĩ phải tập trung vào chính mình là vì: (1) Tập trung ra ngoài thì có vô số vô lượng điều để tập trung, tức là không thể tập trung được. Tập trung vào chính tâm ta thì chỉ có một điểm—cái tâm—để tập trung. (2) Tâm ta điều khiển tư duy và hành động của ta, từ đó mới ảnh hưởng đến thế giới bên ngoài.

Nhưng đừng quên hậu quả tất yếu của luyện tâm ta là ảnh hưởng của ta vào thế giới bên ngoài. Chính vì vậy mà ta thường nghe nói đến yêu người, vui với người, rộng lượng với người…. thường xuyên trong tư duy tích cực.

Và đó là một loại thước đo ta có thể dùng để đo lường công phu tư duy tích cực của chính mình, như là:

• Hàng ngày, ta có phân biệt (kỳ thị) người khác vì màu da chủng tộc (vd: Người Tàu không tin được), hay tôn giáo (vd: công giáo không tin được), hay chính trị (vd: không chơi với mấy tên phản động, hay mấy tên việt cộng), hay tiếng tăm (vd: Tên này có tiếng xấu, tránh xa hắn ra….)?

Tình yêu vô điều kiện của tư duy tích cực đòi hỏi ta chứng tỏ được yêu ái với tất cả mọi người.

• Bao nhiều lần ta nổi nóng (nhất là chưởi thề vì nóng) trong ngày? Như khi gặp mấy anh lái xe ẩu trong ngày? Mấy người làm việc lớ ngớ trong sở?…

Khả năng tĩnh lặng khi gặp chuyện bất bình là công phu tư duy tích cực.


• Bao nhiêu lần ta mỉm cười trong ngày?

• Bao nhiêu lần ta cám ơn trong ngày?

• Bao nhiều lần ta đứng lên—lên tiếng nói hoặc làm gì đó trong khả năng mình—để bảo vệ người cô thế, người bị áp bức, mẹ góa con côi, người nghèo khổ trong một ngày?

• Bao nhiêu lần ta hùa theo bất công chỉ vì chạy theo các thế lực có sức mạnh trong ngày?

• Bao nhiều lần ta hùa theo bạn bè chỉ vì peer pressure, mà không dám nói thẳng là bạn sai?

• Bao nhiều lần ta bị người chê cười và vẫn cười vui với người, kể cả khi ta không đồng ý phê phán của họ?

• Đã bao nhiều lần ta không dám nhận một người bạn cũ là bạn vì hắn hiện đang đứng “phe bên kia”, hay hắn đang bị báo chí phanh phui là “đại gian hùng”, hay mới bị kết án tù vì tội gì đó?

• Bao nhiêu lần ta nói dối trong ngày, kể cả khi ta nghĩ là nói dối như vậy là tốt?

Ta càng vui vẻ, hòa đồng, yêu người, thành thật, trung thành, và ít kỳ thi và bất công với người, thì công phu tư duy tích cực ta càng cao. Ta càng phê phán, kỳ thị, chống đối, chưởi bới người, công phu ta càng thấp.

Công phu tư duy tích cực của chúng ta chỉ phát triển được nếu chúng ta đo lường thái độ và tư duy của mình thường xuyên, hàng ngày.

Nếu không thì chúng ta sẽ có ảo tưởng là ta tích cực cao sau khi đã đọc một mớ sách về tư duy tích cực, trong khi thực tế thì ta chưa di chuyển được 1mm.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Eshun ra đi

Khi Thiền cô Eshun đã quá 60 và sắp sửa rời khỏi thế giới này, cô bảo vài vị sư sắp một đống củi giữa sân.

Ngồi ngay ngắn giữa đài hỏa táng, cô bảo họ đốt lửa chung quanh.

“Cô ơi!” một vị sư la lớn, “nóng không cô?”

“Chuyện đó chỉ có mấy người ngu như cậu mới quan tâm,” Eshun trả lời.

Ngọn lửa bốc cao, và ni cô qua đời.

Bình:

• Làm chủ sự ra đi của mình được xem như là một sức mạnh của Phật giáo. Ta không làm chủ được được sinh, nhưng ít ra cũng làm chủ được tử.

Điều này khác với văn minh tây phương cấm tự tử—sự sống là do thượng đế ban cho con người và chỉ thượng đế mới có quyền lấy đi. Đa số các quốc gia Tây phương có luật cấm tự tử–người tự tử thất bại sẽ bị đưa ra tòa và phạt. Tuy nhiên, một số quốc gia ngày nay đã bãi bỏ luật cấm tự tử. Rất nhiều nơi luật cấm tự tử vẫn còn đó, nhưng người ta không còn dùng tới.

Một vấn đề nóng bỏng hơn hiện đang gây nhiều tranh cãi ở Âu Mỹ là luật cấm (hoặc cho phép) việc giúp người khác tự tử (assisted suicide, như các sư giúp Eshun ra đi trong chuyện này).

• Eshun là ni cô xinh đẹp trong bài “Nếu yêu, hãy yêu công khai” trước đây.

• “Cô ơi, nóng không cô?” Đây là câu nói đáng được ghi vào sách kỷ lục thế giới về độ ngu! “Nóng gì em, mát như máy lạnh đây!”

• Sự điềm tĩnh của một người đi vào cõi chết. Đó là mức tĩnh lặng cuối cùng chúng ta có thể đạt được.

Sao nhiều người chúng ta sợ chết thế nhỉ? Có gì mà phải sợ? Ai cũng phải đi một lần, không lúc này thì lúc kia thôi.

Nhưng nếu vì lý do gì đó ta tìm cái chết để chạy trốn cuộc đời thì cũng là một cái hèn, phải không? Nhất là khi làm sai, bị đưa ra tòa, chẳng hạn. Có gan làm thì có gan vào tù trả nợ. Việc gì phải chạy trốn bằng cái chết?

Cho nên, điểm quan trọng không nằm trong sống hay chết, mà nằm trong can đảm và tĩnh lặng của ta khi chọn đường nào.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Eshun’s Departure

When Eshun, the Zen nun, was past sixty and about to leave this world, she asked some monks to pile up wood in the yard.

Seating herself firmly in the center of the funeral pyre, she had it set fire around the edges.

“O nun!” shouted one monk, “is it hot in there?”

“Such a matter would concern only a stupid person like yourself,” answered Eshun.

The flames arose, and she passed away.

# 23

Teamwork – Thăm lại

Chào các bạn,

Chúng ta đã nói đến teamwork trước đây. Hôm nay, nhân dịp vừa nói về tự ái vặt, chúng ta viếng thăm lại vấn đề teamwork là vấn đề liên hệ trực tiếp đến tự ái vặt. Đây là vấn đề cực kỳ quan trọng cho đất nước. Mọi người Việt Nam chúng ta đều nói câu, “Một người Việt thì hơn 3 người Nhật, nhưng 3 người Việt thì thua 3 người Nhật.” So với các nước tiền tiến, teamwork của ta dở đến mức sốc.

Ta phải hỏi tại sao đã mấy ngàn năm văn hiến, chúng ta vẫn lẹt đẹt dưới đáy thế giới. Câu trả lời rất giản dị–Vì chúng ta không biết làm việc cùng nhau để đưa nhau lên.

Nếu chúng ta có học đến 100 lớp quản trị về làm việc nhóm, ta cũng chẳng giải guyết được gì cả, vì vấn đề teamwork nằm trong cách sống và suy nghĩ hàng ngày của ta, chứ không phải là một vấn đề kỹ thuật. Teamwork không là kỹ năng, mà là thái độ. Một team căn bản nhất ta thường thấy là team vợ chồng. Vợ chồng sống chung với nhau là thái độ, kỹ năng là chuyện nhỏ. Thái độ đúng sinh ra kỹ năng đúng.

Và vấn đề teamwork của Việt Nam sẽ không giải quyết được, cho đến khi ta học loại bỏ những hư danh hão huyền mà ta gọi là sĩ diện, hay cái tôi. Giản dị thế thôi.

Quan sát một team người Việt thông thường, ta thấy có đến hàng nghìn vấn đề chứ đừng nói là hàng trăm. Không thể kể hết được. Cho nên kể vấn đề ra để tìm cách giải quyết cũng vô ích. Các vấn đề đó xảy ra thường xuyên, hàng ngày, dưới vô lượng hình thức, từ thái độ tiêu cực của chúng ta. Chỉ có cách sống tích cực mới chấm dứt được vấn đề.

Đây là một vài ví dụ trong trăm ngàn thí dụ về lý do trong đầu của một nhóm viên để chàng/nàng có thể phàn nàn:

. Team leader không nghe theo lời mình.
. Team leader không hỏi ‎ kiến mình trước khi quyết định.
. Team leader nghe theo ý kiến người khác trong team.
. Team leader hay team mate chỉnh mình.
. Team leader nói năng không lễ độ với mình.
. Team leader kiêu căng.
. Họp trước cả nhóm thì chàng/nàng không nói gì; về nhà kêu điện thoại nói chuyện lẻ để đàm tiếu sau lưng.
. Không đồng ý ‎ với quyết định của leader hoặc của cả nhóm.
. Team leader hay team mate nói một câu gì đó, chàng/nàng liền diễn giải theo cách của mình (dù là câu nói của người kia rất rõ).
. Team leader ngồi mát ăn bát vàng.
. Mình làm gần chết nhưng chẳng có công cán gì cả.
. Hướng mình hay hơn, nên vận động mọi người âm thầm để nhóm đi theo hướng mình.
. Trong nhóm này mình không phát huy được gì hết.
. Làm âm thầm không cho ai biết mình đang làm gì, vậy tự do hơn.
. Không thích copy (cc) team leader các email mình gởi đi.
. Thích tranh cãi.

Và còn cả trăm vấn đề khác nữa. Nếu các bạn cho rằng ta nên nghiên cứu danh sách trên, nghiên cứu mỗi vấn đề, và tìm ra giải pháp cho từng vấn đề một, thì các bạn chưa hiểu gì về vấn đề teamwork của Viêt Nam.

Chúng ta không có một hai vấn đề kỹ thuật để giải quyết. Chúng ta có vấn đề thái độ khi làm việc chung với nhau, và vấn đề căn bản đó đẻ ra vô lượng vô biên vấn đề kỹ thuật, không thể giải qu‎yết được nếu ta không giải quyết vấn đề thái độ.

Vấn đề teamwork rất đơn giản: Mỗi người trong team làm việc của mình. Và không suy đoán lăng nhăng hay tự ái lăng nhăng. Leader làm quyết định. Và cái tôi không có chỗ đứng trong nhóm.

Làm việc trong một team người Mỹ chẳng hạn, rất giản dị. Ví dụ: Một leader mời môt người khác vào team để giúp mình trong một công việc nào đó, nếu người kia đồng ý thì câu trả lời thường là: “OK, I’ll work with you. Tell me what to do. When I cannot do it, I will let you know.” (Được rồi, tôi sẽ làm việc với anh. Cứ bảo tôi việc gì phải làm. Việc gì làm không được, tôi sẽ cho anh biết”).

Và đó là quy luật căn bản nhất và hầu như là duy nhất cho team. Mọi phương cách làm việc là trách nhiệm của leader. Và hầu như chẳng mấy khi ta nghe các việc tự ái vặt xảy ra. Vấn đề nhóm ở Mỹ thường là communication, khi người nói ‎thì nói ý này nhưng người nghe thì nghe ý khác. Hàng trăm vấn đề tự ái vặt và cái tôi của người Việt hầu như cực kỳ ít xảy ra trong một nhóm người Mỹ.

Trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài ta cũng thấy những chuyện cãi nhau như con nít và rất tức cười hàng ngày.

Nếu chúng ta không thấy các điều này, và không học làm việc nhóm như là một đội bóng chỉ biết đá bóng và chuyền bóng vào gôn, mà không có thời giờ đế suy đoán, tự ái, và gây gổ lăng nhăng, thì ta còn ở dưới đáy thế giới nhiều niên đại nữa.

Các bạn sinh viên du học có lẽ hiểu và thấm rất rõ từng chữ mình viết trong bài này. Mong các bạn quan tâm đặc biệt đến việc tạo ra một cách mạng trong tư duy và thái độ làm việc nhóm của người Việt ta, bằng cách thực hành khả năng làm việc nhóm superb các bạn học được ở nước ngoài để mọi người cùng thấy và học theo. Ta không thể ngồi nói 100 năm nữa mà vấn đề biến mất.

Mình nhắc lại điều căn bản này: Trong một team của Việt Nam bạn có thể thấy hàng trăm vấn đề khó chịu. 99.99% các vấn đề này không có thật mà chỉ đẻ ra từ tư duy của bạn. Bạn có thể thông thái đủ để thấy căn nguyên của 99.99% vấn đề đó không? Và đủ can đảm để xóa sổ hết 99.99% đó trong tư duy của bạn không. Đó sẽ là cuộc cách mạnh ảnh hưởng cực kỳ lớn đến tương lai đất nước, đến nỗi bạn cũng không mường tượng được nó lớn đến mực nào.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Greenfields – Đồng Xanh

Đồng xanh

Thuở trước có đồng xanh, mặt trời ve vuốt
Thuở trước có thung lũng, với những dòng sông
Thuở trước có trời xanh, với những tàn mây trắng
Thuở trước tất cả dự phần vào cuộc tình vĩnh cửu.
Chúng mình là kẻ đang yêu lang thang trên đồng xanh

Đồng xanh nay đã mất, mặt trời đốt
Đã biến khỏi thung lũng nơi từng có những dòng sông
Đã mất theo làn gió lạnh thổi vào tim anh
Đã mất theo những người yêu để giấc mơ vuột mất
Còn đâu đồng xanh ta thường vui chạy?

Anh không bao giờ biết điều gì đã khiến em ra đi
Làm sao anh tìm được, khi mây đen che tối cả ngày
Anh chỉ biết chẳng còn gì ở đây cho anh cả
Chẳng còn gì trên thế gian để anh nhìn ngắm

Nhưng anh vẫn đợi ngày em trở lại
Anh vẫn đợi ngày em học được
Em không thể hạnh phúc, khi con tim em lang thang
Em khổng thể hạnh phúc cho đến khi em mang con tim về nhà
Nhà nơi cánh đồng xanh, và nơi anh lần nữa.

(TĐH dịch)
.

Greenfields
Brother Four
Music & Lyrics : Terry Gilkyson – Rich Dehr – Frank Miller

Once there were green fields, kissed by the sun.
Once there were valleys, where rivers used to run.
Once there were blue skies, with white clouds high above.
Once they were part of an everlasting love.
We were the lovers who strolled through green fields.

Green fields are gone now, parched by the sun.
Gone from the valleys, where rivers used to run.
Gone with the cold wind, that swept into my heart.
Gone with the lovers, who let their dreams depart.
Where are the green fields, that we used to roam ?

I’ll never know what, made you run away.
How can I keep searching when dark clouds hide the day.
I only know there’s, nothing here for me.
Nothing in this wide world, left for me to see.

Still I’ll keep on waiting, until you return.
I’ll keep on waiting, until the day you learn.
You can’t be happy, while your heart’s on the roam,
You can’t be happy until you bring it home.
Home to the green fields, and me once again.

The Brothers Four viết và hát nhạc dân ca, thành lập năm 1957 ở Seattle, tiểu bang Washington. Bob Flick, John Paine, Mike Kirkland, và Dick Foley gặp nhau ở University of Washington, nơi cả bốn người là hội viên của nhóm Huynh Đệ Phi Gamma Delta năm 1956. Vì thế, sau này họ dùng chữ “Brothers” (huynh đệ) trong tên The Brothers Four.

Greenfields, phát hành tháng 1.1960, lên đến hạng 2 trong các danh sách nhạc pop lúc đó. Vào cuối thập niên 60 đầu thập niên 70, đây là bạn thịnh hành ở miền nam Việt Nam.  Ngày nay nó là một trong nhũng bản nhạc kinh điển trong kho tàng âm nhạc nước Mỹ.

Mời các bạn nghe The Brother Four năm 1960 và mới đây, thập niên 2000.

Greenfields – The Brother Four (1960, from Mitch Miller’s 1960 TV series “Sing Along with Mitch”)

Greenfields – The Brothers Four (2011)