All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Chúc mừng sinh nhật đầu tiên của Đọt Chuối Non

Chào các bạn,

Ngày chúa nhật 7.2.2010 là lễ thôi nôi, sinh nhật 1 tuổi, của Đọt Chuối Non.

Năm đầu tiên luôn luôn là năm mệt mỏi nhất, và ĐCN đã lớn nhanh như nấm trong vòng một năm qua. Đương nhiên đó là do công sức của tất cả các Đọt Chuối lớn nhỏ trong vưởn, cũng như nhịêt tình ủng hộ của các fans. Chúng ta nên vỗ vai nhau tự chúc mừng mình một tiếng, và gởi lời cám ơn đến các fans của chúng ta khắp nơi.

Đọt Chuối Non là “tư duy tích cực mỗi ngày”. So với ba bài đầu tiên của posting ngày 7.2.2009 – Nửa ly nước (Trà Đàm), Cái gì làm ra mình (Danh Ngôn), và Đứng dậy đi tiếp (Tin Sáng) – với 2 admins – TĐHoành và NMHiển – ngày nay chúng ta có từ 8 đến 12 bài mỗi ngày, với một nhóm tác giả gần 40 người, và mức bạn đọc cũng đã vượt mốc 4 ngàn pageviews một ngày. Các bài viết đa dạng và phong phú hơn rất nhiều, và sẽ tiếp tục đa dạng và phong phú thêm.

Dù vậy, gốc cuả chúng ta là “Tư duy tích cực mỗi ngày”, cho nên dù đa dạng hoá và phong phú hoá đến thế nào, chúng ta cũng sẽ không quên tư duy tích cực là gốc.

Hiện tượng bất ngờ lớn nhất, hoàn toàn không có trong kế hoạch ban đầu, là Daklak Gang do Huỳnh Huệ điều động. Chị Huệ biết đến ĐCN qua admin Thuỳ Dương và gởi bài cho ĐCN. Bài đầu tiên là Khắc phục những suy nghĩ tiêu cực, đăng ngày 22.2.2009. Một thời gian sau Huệ thành admin của ĐCN, và ngay sau đó là hiện tượng xuất hiện—các học sinh của Huệ góp tay vào việc dịch và trau dồi Anh ngữ ồ ạt, rồi từ từ các văn nghệ sĩ chuyên nghiệp của Daklak tham dự đông đảo, đến nỗi Đọt Chuối Non ngày nay trông giống như Đaklak Chuối Nướng. 🙂 Một phần nào cơ duyên với Daklak cũng nhờ mình và Phượng có thân tình với chị Linh Nga, chị Hoàng Thiên Nga, và các bạn Daklak nhiều năm trước. Nhưng rõ ràng là nếu không có chị Huỳnh Huệ thì Đọt Chuối Non đã không có Daklak Gang.

Trong tương lai, ngoài việc tiếp tục cải tiến những phần việc chúng ta đang làm, chúng ta có một số vấn đề đáng suy nghĩ:

• Dùng những tài năng có sẵn của Đọt Chuối Non vào các công việc cụ thể để phát triển văn hoá nước nhà—như là, phát hành sách của tác giả ĐCN, giới thiệu văn hoá Việt Nam ra thế giới bên ngoài bằng tiếng Anh, v.v…

• Nghiên cứu cách thảo luận các vấn đề kinh tế, giáo dục, môi trường, xã hội lớn của đất nước một cách tích cực và không bị rơi vào các tiêu cực trong thảo luận, như ta thường thấy trong các thảo luận về các vấn đề xã hội trên Internet.

Dù là làm gì đi nữa, thì chúng ta cũng sẽ không quên gốc của chúng ta là “Tư Duy Tích Cực Mỗi Ngày.”

Cám ơn tất cả các Bạn Chuối lớn nhỏ cao lùn đã cùng nhau vui đùa và gắng công làm việc trong năm qua.

Hãy cùng nhau bước về hướng mặt trời. 🙂

Mến,
Hoành

Thiền từng phút

Thiền sinh học với thầy tối thiểu là hai năm trước khi được cho dạy người khác. Tenno vừa xong chương trình tập sự và mới thành thầy dạy. Tenno đến thăm Nan-in. Trời mưa nên Tenno mang guốc gỗ và dù. Sau khi chào hỏi, Nan-in nói: “Chắc thầy để guốc và dù ở trong căn phòng đằng trước. Tôi muốn biết thầy để dù ở phía bên phải hay bên trái đôi guốc.”

Tenno, lúng túng, không có câu trả lời. Chàng nhân ra là chàng đã không thể hành thiền trong từng phút. Tenno trở thành học trò của Nan-in, và học thêm sáu năm nữa để đạt được Thiền từng phút.

Bình:

Thiền sư Tào Động Daizui MacPhillamy của Edmonton Buddhist Meditation Group ở Edmonton, Alberta, Canada, viết ngày 4.4.2006 về “Thiền từng phút” như sau:

Thiền không phải là điều giới hạn trong vài lần ta ngồi thiền định một ngày. Ta có thể mang tâm thiền của ta vào đời sống hàng ngày, với một cách sống ta gọi là “tập trung”, hay “thiền khi làm việc” hay “Thiền từng phút”. Các trường phái Phật giáo có nhiều cách khác nhau để thực hành. Sau đây là cách của [Tào Động] chúng tôi. Cách này cực kỳ giản dị và chẳng đòi hỏi gì ngoài quyết tâm kiên trì thực tập nó. Thiền này có thể tóm tắt trong 5 bước.

1. Chỉ làm một lúc một việc.
2. Chú tâm hoàn toàn vào việc đang làm.
3. Nếu tâm trí của bạn lang thang qua việc khác, kéo nó lại.
4. Thực tập bước số 3 khoảng vài trăm nghìn lần.
5. Và, khi tâm trí của bạn cứ lang thang đến một vấn đề hoài hoài, ngừng một tí và để ‎ý
đến vấn đề “quấy phá” đó: Có thể là nó đang cố gắng nói điều gì đó với bạn.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Every-Minute Zen

Zen students are with their masters at least two years before they presume to teach others. Nan-in was visited by Tenno, who, having passed his apprenticeship, had become a teacher. The day happened to be rainy, so Tenno wore wooden clogs and carried an umbrella. After greeting him Nan-in remarked: “I suppose you left your wooden clogs in the vestibule. I want to know if your umbrella is on the right or left side of the clogs.”

Tenno, confused, had no instant answer. He realized that he was unable to carry his Zen every minute. He became Nan-in’s pupil, and he studied six more years to accomplish his every-minute Zen.

# 35

The Green Leaves of Summer – Lá Xanh Mùa Hạ

Chào các bạn,

Có lẽ ai trong chúng ta cũng đã nghe qua bản The Green Leaves of Summer – Những chiếc lá xanh của mùa hạ — dù là ta có thể không biết tên bản nhạc. Đây là một trong những bản nhạc nền của phim The Alamo, do John Wayne đóng vai chính, năm 1960.

The Alamo
, tên cũ là Nhà Dòng Thánh An-tôn của Valero, là một nhà dòng công giáo, do Tây Ban Nha dựng nên hồi thế kỷ 18 để giáo dục người da đỏ mới theo đạo, nằm trong vùng ngày nay là thành phố San Antonia, tiểu bang Texas.

Continue reading The Green Leaves of Summer – Lá Xanh Mùa Hạ

Một nụ cười trong cả một đời

Mokugen được xem là không bao giờ cười, cho đến ngày cuối cùng trước khi chết. Khi giờ chết đã gần kề, thiền sư nói với các đệ tử: “Các con đã học với thầy hơn 10 năm. Hãy cho thầy thấy cách các con biểu hiện Thiền. Ai trình bày được điều đó rõ ràng nhất sẽ là người kế vị thầy và nhận y bát của thầy.”

Mọi người nhìn khuôn mặt nghiêm trọng của Mokugen, nhưng không ai trả lời.

Encho, một đệ tử đã theo thầy nhiều năm, bước đến bên giường. Encho đẩy chén thuốc đến trước vài phân. Đây là câu trả lời của Encho cho câu hỏi của thầy.

Khuôn mặt của thầy càng thêm nghiêm trọng. “Con chỉ hiểu vậy thôi sao?” thầy hỏi.

Encho với tay và đẩy chén thuốc ngược lại chỗ cũ.

Một nụ cười đẹp nở trên mặt Mokugen. “Thằng nhóc này,” thầy nói với Encho. “Con ở với thầy mười năm và vẫn chưa thấy cả người của thầy. Lấy y bát của thầy đi. Nó là của con.”

Bình:

• Truyền y bát là truyền áo và bát (khất thực) lại cho người thừa kế.

• Chỉ một cử chỉ đẩy chén thuốc giản dị. Rất khó cho người ngoài cuộc biết được ‎ý của hai người. Ta chỉ có thể đoán mà không thể chắc.

Đẩy chén thuốc đến trước, có thể có hai ý nghĩa hơi khác nhau:

1. “Đây là câu trả lời của con. Thầy uống thuốc đi.”

2. Nhưng có thể là Encho chẳng trả lời gì cả, chẳng hề quan tâm đến câu hỏi của thầy, mà chỉ đẩy thuốc cho thầy vì thầy đang bệnh: “Thầy uống thuốc đi.”

Số (1) có nghĩa là: “Câu trả lời của con là ‘sống ở đây, lúc này.’ Thầy đang bịnh thì uống thuốc.”

Số (2) có nghĩa là Encho không trả lời gì cả, không hề quan tâm đến câu hỏi một tí nào. Encho thực sự đang sống ở đây lúc này, và đang thực sự bảo thầy uống thuốc đi.

• Và thầy hỏi: “Con chỉ hiểu vậy thôi sao?”

Nếu Encho đã có ý trình bày “cái hiểu” trong trả lời Số (1), thì có lẽ là Encho đã gật đầu: “Dạ đúng rồi thầy.”

Nhưng Encho đã chẳng trả lời gì cả, đã chẳng có “ý hiểu” gì trong đầu cả. Encho chỉ đẩy thuốc cho thầy uống, và thầy không uống, cho nên Encho chỉ mang chén thuốc để lại chỗ cũ.

Tức là:

1. Encho có một tâm hoàn toàn rỗng lặng, không hề bận tâm đến chuyện đạt Thiền, hay chuyện thừa kế.

2. Encho chỉ sống “Ở đây, lúc này.” Thầy đang bệnh thì đưa thuốc cho thầy uống. Thầy không uống thì lấy lại. Vậy thôi.

Và đó là Thiền.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

A Smile in His Lifetime

Mokugen was never known to smile until his last day on earth. When his time came to pass away he said to his faithful ones: “You have studied under me for more than ten years. Show me your real interpretation of Zen. Whoever expresses this most clearly shall by my successor and receive my robe and bowl.”

Everyone watched Mokugen’s severe face, but no one answered.

Encho, a disciple who had been with his teacher for a long time, moved near the bedside. He pushed forward the medicine cup a few inches. This was his answer to the command.

The teacher’s face became even more severe. “Is that all you understand?” he asked.

Encho reached out and moved the cup back again.

A beautiful smile broke over the features of Mokugen. “You rascal,” he told Encho. “You worked with me ten years and have not yet seen my whole body. Take the robe and bowl. They belong to you.”

# 34

Bàn tay của Mokusen

Mokusen Hiki sống trong một ngôi chùa ở tỉnh Tamba. Một trong những thiền sinh của Mokusen phàn nàn về tính hà tiện của vợ anh ta.

Mokusen đến thăm bà vợ và đưa nắm tay ra trước mặt chị.

“Thầy có ‎ý gì vậy?” chị ta hỏi với ngạc nhiên.

“Giả sử nắm tay tôi cứ như thế này hoài. Chị gọi nó là gì?” thiền sư hỏi.

“Tật nguyền,” chị trả lời.

Rồi thiền sư mở thẳng bàn tay trước mặt chị và hỏi: “Nếu nó cứ như thế này hoài. Thì sao?”

“Cũng tật nguyền,” chị nói.

“Nếu chị hiểu được bao nhiêu đó,” Mokusen kết thúc, “chị là một người vợ tốt.” Rồi thiền sư ra về.

Sau lần viếng thăm của thiền sư, chị vợ giúp anh chồng phân phát cũng như dành dụm.

Bình:

• Bài này không hẳn là chỉ nói đến cách dùng tiền, mà nó còn áp dụng cho mọi lĩnh vực khác của đời sống. Điều gì cực đoan cũng là tật nguyền. Điều gì cũng có chừng mực tự nhiên của nó, cứ vậy mà sống.

• Các thiền sư thường có lối giáo dục rất ấn tượng, khó quên. Thay vì giảng giải lằng nhằng cả nửa tiếng đồng hồ, chỉ một nắm đấm đưa ngay trước mặt, rồi tiếp theo là một bàn tay. Bài học không đến 1 phút, nhưng cực mạnh.

• Trong cả bài giảng, chẳng có chỗ nào chê, chỉ có kết thúc bằng câu “chị là một người vợ tốt”, nhưng bắt đầu bằng chữ “nếu” (“Nếu chị hiểu được bao nhiêu đó”).

Trần Đình Hoành dịch và bình

.

Mokusen’s Hand

Mokusen Hiki was living in a temple in the province of Tamba. One of his adherents complained of the stinginess of his wife.

Mokusen visited the adherent’s wife and showed her his clenched fist before her face.

“What do you mean by that?” asked the surprised woman.

“Suppose my fist were always like that. What would you call it?” he asked.

“Deformed,” replied the woman.

Then he opened his hand flat in her face and asked: “Suppose it were always like that. What then?”

“Another kind of deformity,” said the wife.

“If you understand that much,” finished Mokusen, “you are a good wife.” Then he left.

After his visit, this wife helped her husband to distribute as well as to save.

# 33

Thấy đường trong cơn bão

Chào các bạn,

Tiếng Anh có câu “Mind over matter” tạm dịch là “tâm trí chỉ huy vậy chất”, tức là tâm trí của ta có sức mạnh chuyển hóa thế giới vật chất quanh ta. Điều này thì mọi người chúng ta đều đã có kinh nghiệm không ít thì nhiều. Ta đã thấy có những người đi đến đâu thì nơi đó có an bình, có người đi đến đâu thì nơi đó có sức mạnh, có người đi đến đâu thì nơi đó có tiếng cười… Thái độ của một người luôn luôn ảnh hưởng và chuyển hóa môi trường chung quanh người đó. Mà nói đến “thái độ” là nói đến “tâm” ta, vì thái độ đi từ trong tâm biểu hiện ta ngoài.

Một anh bạn mục sư thâm niên đã có lần nói với mình: “Thật là lạ thường khi ta cầu nguyện. Khi có vấn đề ta cầu nguyện, nó chẳng ăn nhập gì đến vấn đề. Mọi sự vẫn y như là trước khi ta cầu nguyện. Nhưng sự cầu nguyện ảnh hưởng đến cái nhìn của ta, sau khi cầu nguyện xong, ta nhìn vấn đề một cách hoàn toàn khác, và vấn đề đó trở thành dễ giải quyết hơn rất nhiều.” Nói được như vậy là người đã có rất nhiều kinh nghiệm với cầu nguyện thật sự.

Thiền thì cũng tương tự. Nếu một người đang bị khủng hoảng, thiền định để định tâm bình tĩnh trở lại, thì cơn bão đang đi qua đời anh ta vài phút trước đây có thể bỗng nhiên trở thành cơn gió thoảng mùa xuân.

Đây là điều quan trọng trong khoa học lãnh đạo. Vì nếu lãnh đạo có được đức bình tĩnh mọi nơi mọi lúc, thì các khó khăn lớn cũng thành nhỏ. Lãnh đạo lính qu‎ýnh thì chuyện nhỏ thành lớn.

Người ta hay dùng từ bão tố để nói đến những khủng hoảng của con người—cá nhân hay xã hội. Sở dĩ thế vì bão tố làm cho mọi chuyện đổ vỡ, mất trật tự, hỗn loạn, đầu óc mù mờ chẳng biết điều gì đang xảy ra và sắp xảy ra, hiểm nguy rình rập… Nói chung là bão tố thì nhiều nguy hiểm và nhiều cái ta không biết được…—tức là ta đối diện với “cái sợ” và cái “u mê” của ta trong cơn bão.

Sợ và u mê làm ta không thấy đường. Cách duy nhất là ta phải hết sợ (không sợ) và có khả năng nhìn xuyên mọi hỗn loạn để thấy con đường.

Tĩnh lặng tâm trí để thấy đường trong những hỗn loạn hàng ngày, để không hề sợ hãi, đó là mind over matter.

Đa số các khóa học gọi là “giáo dục lãnh đạo” ngày nay, thật ra chỉ là các kỹ năng quản l‎ý, như nói chuyện trước đám đông, lập chương trình làm việc v.v…‎ Đó là quản lý.

Và các rất nhiều lãnh đạo thời nay cũng chỉ là các nhân viên cao cấp với các kỹ năng nhân viên cao cấp. Gần đây chúng ta đã nghe tin bao nhiêu “lãnh đạo” lớn, ngay cả cựu tổng thống, tổng giám đốc công ty xuyên quốc gia… gặp khủng hoảng là… tự tử. Trời! Các “ông lớn” không biểu hiện được một tí tính anh hùng vả khả năng chịu khó nào cả. Có khả năng làm tổng thống, làm tổng giám đốc, thì có khả năng chịu khó khăn, chịu nghèo đói, chịu nhục nhã, chịu chưởi bới, chịu ở tù… Làm gì mà…!

Người tĩnh lặng không biết sợ, không biết nhục, không biết hèn… người tĩnh lặng có thể chỉ nói “Vậy à” trong tất cả mọi tình huống.

Lãnh đạo là dẫn đường. Dẫn đường thì phải thấy đường.

Trong một thế giới nhiều hỗn loạn hàng ngày bởi các biến động kinh tế và chính trị thế giới, bởi các trào lưu tư tưởng xã hội đối chọi nhau tạo thành những cơn bão tư tưởng thường xuyên, bởi các vấn đề gai góc về giáo dục, tôn giáo, chủng tộc… gia tăng với vận tốc Internet, người lãnh đạo cần đủ khả năng nhìn xuyên bão mỗi ngày.

Ngày nay chúng ta không có xa xỉ phẩm dùng lãnh đạo chỉ có kỹ năng quản lý. Ngày nay chúng ta phải dùng quản lý có khả năng lãnh đạo.

Và thế hệ trẻ, thế hệ sinh viên và chuyên gia trẻ, không thể chỉ lo chúi đầu học kỹ thuật mà không chăm lo rèn luyện các kỹ năng lãnh đạo. Các đại học cũng như các lớp tu nghiệp cho chuyên gia chẳng dạy các bạn các điều này. Nếu có thì cũng chỉ là gãi ngoài da, chẳng thấm bén gì hết. Cho nên mỗi người chúng ta phải tự tìm thầy, tự tìm sách, tự luyện tập.

Và có lẽ là việc luyện tập cũng không khó mấy nếu chúng ta bắt đầu tập “Vậy à” trong mọi tình huống (ngoại trừ khi dạy hoc trò hay cấp dưới—thầy phải nói điều thầy phải nói).

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Sách cho vùng khó

Chào các bạn,

Trong khi tìm ảnh Tây Bắc, mình tình cờ đến trang “Tủ sách cộng đồng” này, thấy có ý nghĩa nên giới thiêu đến các bạn.

Chúng ta cần quan tâm đặc biết đến các anh chị em dân tộc thiểu số ở vùng cao vùng sâu, bởi vì đó là anh chị em của chúng ta, nói chung là sống trong những hoàn cảnh kinh tế xã hội thua kém người Kinh rất xa.  Trong gia đình thì anh chị em thật sự phải quan tâm về nhau, đùm bọc nhau, và đưa nhau đi lên.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

TỦ SÁCH CỘNG ĐỒNG

I. Vì sao phải xây dựng “Tủ sách cộng đồng”?

Miền núi Việt Nam chiếm 3/4 lãnh thổ trải dài trên một không gian địa lý rộng lớn từ Bắc tới Nam, có hơn 1/3 dân số sinh sống với trên 23 triệu người trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Ðây là nơi lưu giữ các thảm rừng nhiệt đới, hình thành các vùng sinh thuỷ, với hệ sinh thái động thực vật phong phú, có tác dụng duy trì cân bằng môi trường sống cho cả nước và khu vực.

Miền núi cũng là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu cho sự nghiệp phát triển kinh tế của cả nước. Sự đa dạng về điều kiện tự nhiên, đa sắc diện về cấu trúc kinh tế – văn hoá của các nhóm dân tộc thiểu số, tạo nên sự phong phú cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Miền núi Việt Nam không những có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa mà còn góp phần vào sự tồn tại và phát triển chung của thế giới.

Cánh đồng lúc chín vàng – báo hiệu một mùa màng bội thu

Nhiều năm qua, nhất là trong những năm đổi mới, Ðảng và Nhà nước Việt Nam đã thường xuyên quan tâm đến vùng miền núi, thông qua những chủ trương và chính sách quan trọng cùng nguồn lực đầu tư đáng kể nhằm ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Miền núi đang được thay đổi, cơ sở hạ tầng, sản xuất nông lâm nghiệp đã có những chuyển biến mới, nhiều địa phương đã căn bản giải quyết được vấn đề lương thực và bước đầu sản xuất hàng hoá, rừng được bảo vệ và phục hồi, môi trường dần được cải thiện.

Người dân ngày càng được đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, phúc lợi khác… Ðời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được nâng lên đáng kể. Những thành tựu ấy là căn bản, tuy nhiên so với mặt bằng chung, miền núi nước ta vẫn là vùng kinh tế chậm phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật còn lạc hậu, đời sống đồng bào các dân tộc còn nhiều khó khăn. Sự nghiệp phát triển miền núi gắn liền với các dân tộc thiểu số đang đứng trước những vấn đề mới, với những thách thức mới của sự biến đổi và phát triển của quốc gia cũng như khu vực.

Thiếu nữ Mường đang hoàn thiện

công đoạn cuối cùng của sản phẩm dệt

Trước kia, đặc biệt trong thời kỳ cách mạng dân tộc, dân chủ, mọi chính sách về miền núi và dân tộc chủ yếu phục vụ mục tiêu đảm bảo khối đại đoàn kết dân tộc. Hiện nay, khi cả nước bước vào nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, “khoảng cách” giàu và nghèo, giữa miền núi và miền xuôi ngày càng rộng ra. Nhu cầu bình đẳng trong phát triển gắn với quá trình dân chủ hoá trên các lĩnh vực đời sống xã hội của mọi vùng, và mỗi người dân ngày càng tăng.

Yêu cầu bảo vệ môi trường, bảo vệ bản sắc văn hoá và những giá trị truyền thống cũng tăng lên. Cạnh tranh các nguồn lực cho phát triển cũng trở nên gay gắt hơn. Song tăng cường Ðại đoàn kết dân tộc, thực hiện “Bình đẳng, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc, giữa các vùng miền” lại càng bức thiết hơn bao giờ hết. Vì vậy, nhận thức, quan điểm và các chính sách của chúng ta cũng phải đổi mới cho phù hợp trước yêu cầu thực tiễn phát triển và thực lực chung của cả nước.

Giá trị về chức năng bảo vệ của miền núi là không gì có thể thay thế được. Tuy nhiên, các tài sản, giá trị này rất dễ bị tổn thương nếu không có một chiến lược toàn diện và cách thức tổ chức quản lý thích hợp. Phát triển miền núi theo hướng thúc đẩy miền núi đảm bảo duy trì chức năng của nó là một chiến lược đúng đắn và bền vững.

Thiếu nữ Bana trong trang phục truyền thống

Quan niệm về nghèo đói của vùng miền núi và dân tộc trước đây nay đã đổi khác. Nghèo đói không chỉ đơn thuần xem xét trên khía cạnh kinh tế, mà còn phải bao hàm cả về khía cạnh văn hoá và xã hội như: giáo dục, bảo vệ sức khoẻ cả cộng đồng, bình đẳng về tiếp cận nguồn lực, văn hoá các dân tộc được bảo tồn và phát huy. Mặt khác, miền núi chịu sự chi phối nhiều của các nét đặc trưng và sự khác biệt với mặt bằng chung của quốc gia nên việc giải quyết vấn đề nghèo đói và thúc đẩy phát triển ở miền núi phải chú ý đến các yếu tố xã hội mới bảo đảm sự thành công và hiệu quả.

Lấy phát triển làm cơ sở để giải quyết vấn đề nghèo đói ở miền núi. Miền núi, với tính độc lập tương đối và thích nghi cao hơn, ít phụ thuộc vào biến động của bên ngoài, đầu tư phát triển không nên nặng tính bao cấp toàn bộ, mà giúp cho miền núi có điều kiện tiếp cận nhiều hơn với các nguồn lực, phải hỗ trợ, kích thích, phát huy nội lực sẵn có, đảm bảo cho phát triển bền vững.

Chúng ta cũng nhận thức được rằng tương lai và phúc lợi của nhân dân miền núi tuỳ thuộc vào khả năng sử dụng một cách khôn khéo, bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không làm suy thoái các nguồn tài nguyên và cũng không làm suy thoái môi trường. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là làm thế nào để động viên toàn thể nhân dân ở các vùng, miền của cả nước dựa vào sức mình là chính để gìn giữ và khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên vùng miền núi, đó chính là bảo vệ lợi ích của mình và của đất nước.

Miền núi cần được xã hội nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về vị trí, vai trò, tiềm năng phát triển cũng như những khó khăn đang phải đối mặt. Phát triển miền núi phải tập trung quyết tâm xoá hộ đói, giảm hộ nghèo, phấn đấu làm giảm khoảng cách giàu, nghèo và phát triển giữa miền núi với đồng bằng, giữa nông thôn với thành thị.

Thiếu nữ Thái đang trang trí cho chiếc khăn Piêu của mình

Ổn định và phát triển bền vững miền núi không chỉ là mục tiêu của Việt Nam mà cả các quốc gia trên toàn thế giới. “Phấn đấu vì sự phát triển bền vững của miền núi Việt Nam”, đó là bức thông điệp “miền núi” muốn gửi tới toàn thể chúng ta.

Mạng Tủ sách cộng đồng là một Website phi lợi nhuận với mục đích mong muốn góp một phần công sức và nhiệt huyết của sức trẻ Việt nam trong thời đại mới vào công cuộc “nâng cao dân trí” cho đồng bào, thông qua việc kêu gọi đồng bào cả nước, mỗi một người dân, mỗi một tổ chức, mỗi một doanh nghiệp hãy cùng nhau chung tay góp sức để đem những cuốn sách về với “vùng khó” của cả quốc gia. Ban Biên tập Website vì vậy cũng sẽ là một cộng đồng mở với sự tham gia tình nguyện của tất cả những ai quan tâm đến văn hoá miền núi trong cả nước.


II. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN “Tusachcongdong.com.vn”


1. Tên gọi của dự án

– Tên đầy đủ của dự án: “Tủ sách cộng đồng – sách cho vùng khó”

2. Mô tả chung về dự án

“Tủ sách cộng đồng” là một website vì dân trí cho vùng khó, đặc biệt nông thôn miền núi do nhóm sinh viên trẻ năng động từ các trường ĐH sáng lập .Đứng đầu là Sinh viên Đặng Thị Hơn, sinh viên trường ĐH Văn hóa Hà Nội khởi xướng với mong muốn “nâng cao dân trí” cho đồng bào thông qua việc kêu gọi đồng bào cả nước, một người dân, mỗi một tổ chức, mỗi một doanh nghiệp hãy cùng nhau chung tay góp sức để đem những cuốn sách dầy ý nghĩa về với “vùng khó” trên khắp đất nước

3. Hoài bão của dự án (Vision)

Trước dự án này đã có dự án “One book” do Sachhay.com khởi xướng và PACE điều hành đã triển khai rộng rãi trên khắp Việt nam từ năm 2004 và đạt được những thành công nhất định. Ở đây chúng tôi chỉ tập trung vào nhóm đối tượng là người dân ở nông thôn miền núi. Hoài bão của chúng tôi mong muốn được các nhà đầu tư quan tâm đến dự án này để chúng tôi có thể xây dựng “Tủ sách cộng đồng” trên các bản làng vùng cao trên khắp đất nước Việt Nam với khát vọng “thu hẹp khoảng cách giữa miền ngược và miền xuôi và mang sách đến với các em nhỏ, cũng như giúp người dân biết đến các ứng dụng của KHKT để áp dụng vào sản xuất”

4. Sứ mệnh của dự án

Chúng tôi mong muốn có thể là trung gian để đưa những cuốn sách đến với người dân nơi đây và làm cho bộ mặt xã hội dần thay da đổi thịt.

5. Mục tiêu của dự án

Mục tiêu hướng tới là có thể xây dựng tủ sách cộng đồng tại tất cả các bản làng vùng cao. Đến tận ngõ nhỏ của bản bản làng để các em đều có sách đọc.

Mạng Tủ sách cộng đồng là một Website phi lợi nhuận với mục đích mong muốn góp một phần công sức và nhiệt huyết của sức trẻ Việt nam trong thời đại mới vào công cuộc “nâng cao dân trí” cho đồng bào, thông qua việc kêu gọi đồng bào cả nước, mỗi một người dân, mỗi một tổ chức, mỗi một doanh nghiệp hãy cùng nhau chung tay góp sức để đem những cuốn sách về với “vùng khó” của cả quốc gia.

Mạng Tủ sách cộng đồng rất mong nhận được sự ủng hộ và tham gia nhiệt tình của các anh chị và các bạn trên mọi miền tổ quốc.
Mọi hồi âm xin liên lạc theo địa chỉ e-mail: tusachcongdong@gmail.com

Xin trân trọng cảm ơn

Vô Tâm

Chào các bạn,

Vô tâm là đích điểm của Thiền tập. Vô tâm, hay “tâm không”, là một tâm trí không vướng mắc, hoàn toàn tự do. Một ví dụ rất nổi tiếng về vô tâm là chuyện thiền sư Tanzan ẳm cô gái đẹp qua vũng bùn mà lòng chẳng một ly vướng bận trước, trong khi, và sau khi ẳm.

Vô tâm cũng là tâm điểm của võ thuật và các môn nghệ thuật khác. Và là cách sống mà hàng triệu thiền sinh hiện nay, dù là ở chùa hay ở nhà, vẫn cố gắng mỗi ngày để đạt.

Nhưng vô tâm nói thì dễ, làm thì cực kỳ khó khăn.

Mỗi tâm trí chúng ta là một máy computer, với hàng trăm ngàn thước “dây” thần kinh nối lại trong một guồng máy cực kỳ phức tạp. Guồng máy đó là cốt tủy của tâm ta. Bây giờ đổi nó thành “tâm không” thì cũng như là vứt bỏ tất cả các dây thần kinh đó hết để tâm thành “không”, vậy thì còn gì là bộ máy nữa? Nói thế để chúng ta hiểu được khó khăn của vấn đề.

Đây là vấn đề quan trọng, bởi vi nếu mỗi người chúng ta không giải phóng được tư tưởng của mình, cứ bị cầm tù mãi trong giàn máy tư duy của mình, thì đất nước sẽ không bao giờ cất cánh.

Hãy xem xét câu này: “Anh chàng Sơn nói câu này thiếu luận lý quá. Dốt chịu không được.”

Câu “Anh chàng Sơn nói câu này thiếu luân lý quá” chính là “thấy sự việc như nó là” (seeing thing as it is) (nếu thực sự là anh Sơn thiếu khoa học luận lý).

Câu “dốt không chịu được” là “có tâm”, tức là đưa phán đoán của mình vào.

“Có tâm” thường làm cho mình bị mù mờ tâm trí, vì cái nhìn của mình bị sai lạc và thường chết yểu, không đi sâu được vào sự thật. Chẳng hạn, câu nói thiếu luận lý mình vừa nghe có thể là không dốt tí nào, mà có thể là một sự thật sâu thẳm vượt cao hơn luận lý đến mấy tầng.

Ví dụ câu “Thượng đế là tình yêu.” Câu này thì chẳng luận lý một tí nào cả, nhưng nếu bạn tin vào một “người” có tên là Thượng đế thì câu này là một câu thần học đúng. Nếu bạn là một triết gia dùng từ “Thượng đế” như là một sức mạnh tuyệt đối đến từ tình yêu của con người, có thể nối kết tất cả con người lại với nhau và giúp con người cùng đi lên trong thế giới này, thì nó cũng đúng. Hoặc nếu bạn là một thi sĩ, nhìn “Thượng đế” như là nguồn cảm xúc vô tận của trái tim con người, thì câu đó cũng đúng. Cho nên cái nhìn “có tâm”, bị cản trở bởi thành kiến và giới hạn nhỏ bé của kiến thức có sẵn của ta, thường là nguồn gốc của si mê và dốt nát.

Cái nhìn “thấy sự việc như nó là” là cái nhìn “vô tâm”. Đó là cái nhìn giải phóng, của một tâm trí tự do, không bị tù ngục trong những thói quen phán đoán, suy luận, suy diễn, hay kết luận của ta.

Cho nên người “vô tâm” nhìn một chuyện xảy ra trước mắt, có thể thấy sâu hơn người khác “có tâm” đến mấy tầng, trong kinh tế, trong chính trị, trong quản lý, trong giáo dục…

Tuy nhiên, từ “vô tâm” thường làm cho người thiếu căn cơ không hiểu được, vì “tôi chẳng có cách nào để làm tâm tôi thành ‘tâm không’ như thầy nói được cả.” Vậy thì chúng ta sẽ dùng một từ khác dễ hiểu hơn và dễ thực hành hơn.

Nếu trở lại chuyện của thiền sư Tanzan ẳm cô gái qua đường—lúc ẳm cô gái thiền sư chẳng có “tâm” gì cả, ngọai trừ phải chú tâm vào một chuyện—ẳm và đi cách nào cho tốt nhất. Chú tâm hòan tòan vào một việc duy nhất mình đang làm, gọi là “chánh niệm”. Và đó cũng là “vô tâm”, vì tâm trí chỉ tập trung vào một việc phải làm mà không bị vướng bận vào những tư duy vụn vặt tù túng khác.

Ví dụ: Ta thấy một tư tưởng hay, muốn viết một bài gởi đăng trên ĐCN để chia sẻ với các bạn. Thì tập trung tư tưởng vào việc “viết bài để chia sẻ với các bạn”, và không để các “tâm” sau đây chi phối:

– Các bạn sẽ cho rằng mình thông thái không?
– Hay là chê mình dốt?
– Hay là nói mình khoe tài?
– Hay là nói mình có mưu đồ chính trị?
– Hay là nói mình giảng đạo?
– Hay là nói mình đạo đức giả?
– Hay là nói mình cổ hủ?

Và vài chục cái tâm “hay là” như thế nữa.

Ví dụ viết là ví dụ khó, vì thực ra khi viết mình vẫn phải để ý đến các “hay là” bên trên, vì viết cho đám đông thì mình cần cố gắng để mọi người khỏi hiểu lầm ý mình. Nhưng tất cả các “hay là” đó chỉ là những điều nên để ý trong “kỹ thuật viết” để trình bày thế nào cho độc giả hiểu đúng ý mình càng nhiều càng tốt, chứ không có một cái “hay là” nào là động lực để mình viết (hay để bỏ cuộc không viết).

Khi “viết để chia sẻ” là chỉ tập trung tâm trí vào việc “viết để chia sẻ”, mà không bị các ham muốn hay lo sợ nào chi phối. Đó là “viết chánh niệm”, là một thực hành của vô tâm.

Ăn thì tập trung vào việc nhai và thưởng thức từng vị ngon của bữa ăn (mà đừng nghĩ đến ông chồng mình đang đi với ai 🙂 ).

Khiêu vũ thì tập trung vào việc thường thức nhịp nhạc và bước đi của mình (và không cần phải lo là ai chê mình nhảy dở hay khen mình là vũ sư).

Làm việc nhóm thì tập trung vào làm việc của mình và quan sát các người khác trong nhóm để cùng di chuyển đồng điệu mà không phải nói nhiều hay hiểu lầm nhau (và không làm “chính trị văn phòng”—office politics—tức là cạnh tranh ganh tị lặt vặt ta thường thấy trong các nhóm).

Cho một người hành khất vài đồng, thì cho (và đừng quan tâm là ông này có đang giả vờ để quỵt mình không. Nếu lo bị quỵt thì đừng cho, đã cho thì không lo).

Thấy chuyện sai cần phải nói cho người khác biết, thì nói (và đừng lo hậu quả. Nếu lo thì đừng nói).

Và khi đã xong thì xong: Tranh luận xong, đừng ấm ức; tập trung tâm trí vào việc khác. Người đã làm sai với mình, xong chuyện là xong; không để tâm phán đóan. Vợ chồng cãi nhau, xong là xong, tập trung tâm trí thưởng thức bửa ăn tối với nhau. Mỗi lúc làm chỉ một chuyện. Xong là xong.

Tập cho guồng máy tâm trí của mình “chỉ tập trung vào làm một chuyện một lúc” mà không có tư tưởng lắt nhắt nào xía vào, đó là “chánh niệm”, và người sống chánh niệm thì đương nhiên là vô tâm, vì nếu ăn chánh niệm, ngủ chánh niệm, làm việc chánh niệm, đi chánh niệm… cả ngày như thế thì lấy đâu còn tâm trí để cho các tư duy lăng nhăng khác xía vào.

Nếu ta tập được khả năng “thấy mọi sự như nó là” (seeing everything as it is), không bị các tâm lăng nhăng xía vào, ta có thể hiểu được mình và những người chung quanh sâu hơn người bình thường mấy tầng, và thấy được các hiện tượng kinh tế, chính trị, giáo dục, xã hội của quốc gia sâu hơn những người khác mấy tầng.

Đó là đưa mình và đưa đất nước đi lên.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Tự do đầu tiên và cuối cùng, Tâm trí tự do.

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Sự đóng góp của người Việt Nam ở nước ngoài vào công cuộc phát triển của đất nước

Chào các bạn,

Mình vừa nhận từ ENDA Vietnam (Environment and Development in Action) một report về “Sự đóng góp của người Việt Nam ở nước ngoài vào công cuộc phát triển của đất nước”. Đăng lại đây để chia sẻ với các anh chị và các bạn làm chính sách trong chính phủ cũng như các tổ chức quốc tế.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành
.

Hãy múa hát ca tụng mùa xuân

Tạ ơn mùa xuân đã trở lại
Cho ta tỉnh giấc ngủ dài
Phương đông phương đông phương đông
Bừng tia nắng sớm
Đàn chim di trú đã hồi lai
Những quả tim tàn tật đã trỗi dậy
Rong chơi trên những dãy đồi
Và những linh hồn quạnh hiu
Đã múa ca trên những con đường đồng nội
Những cánh đồng mênh mông
Mênh mông
Những linh hồn của mẹ
Lượn vòng
Như đàn cò trắng
Điểm danh lúa màu
Buổi sáng
Những giọt nước mắt của bao niên đại
Đã trở thành suối mát trên những nấm mồ
Những làn cỏ xanh đã tái sinh trên thềm mộ địa

Trên mảnh đất này
Ta đứng đây
Giữa những tảng đá đã lặng yên nhiều thế kỷ
Những rừng cây hóa thạch từ thời cổ đại
Và những dòng sông đã khô cằn từ thuở trái tim dẫy chết
Tất cả đang trở mình
Với những tia nắng đầu tiên
Chen vào giữa cơn ngủ đông thế kỷ
Đã kéo dài từ thưở con tim
Tắm sâu trong vinh quang của nó

Hỡi người
Hỡi rừng
Hỡi núi
Hỡi cỏ cây sông suối
Hãy mang lên mình màu lụa mới
Dệt từ những sợi xót thương của trái tim của mẹ
Không bao giờ ngừng đập
Không bao giờ gian dối
Và đã được nấu nung từ thuở hồng hoang bằng lửa mặt trời

Hãy bước ra sân nắng
Và múa hát ca tụng mùa xuân.

TĐH
4:52 pm, Fri., Jan. 29, 2010
Woodbridge, VA, USA

Không nước, không trăng

Khi ni cô Chiyono học Thiền với thầy Bukko của chùa Engaku, cô không gặt được thành quả gì từ thiền định trong một thời gian dài.

Cuối cùng, trong một đêm trăng, ni cô đang xách nước trong một cái gàu cũ bọc tre. Tre bị găy và đáy gàu rớt ra, và ngay lúc đó tâm trí của Chiyono được giải phóng.

Để k‎ỷ niệm, ni cô làm một bài thơ:

Bằng cách này cách kia tôi cố giữ cái gàu cũ
Từ lúc thanh tre đã yếu và gần gãy
Cho đến khi đáy gàu rơi ra.
Không còn nước trong gàu!
Không còn trăng trong nước!

Bình:

Chùa Engaku (円覚寺) là một chùa thiền tông Lâm Tế và một trong những chùa thiền tông quan trọng nhất ở Nhật. Chùa do một vị sư Trung quốc xây dưới thời tể tướng Nhật Hōjō Tokimune sau khi ông đẩy lui được quân xâm lăng Mông Cổ từ 1274 đến 1281. Hōjō Tokimune cũng là một ví thầy về Thiền, vì vậy chùa Engaku rất nổi tiếng về Thiền.

• “Tâm trí của Chiyono được giải phóng.” Đây là điều mà các sách vở của ta gọi là “hốt nhiên đại ngộ”. Chữ “giải phóng” hàm ý tâm trí của Chiyono đã bị tù túng trước đây.

Tù túng vì cái gì?

• Chiyono viết, “Bằng cách này cách kia tôi cố giữ cái gàu cũ”. Đó cũng là một cách để nói “Tôi cứ giữ một nề nếp cũ.” Đây rất rõ là cách suy nghĩ cũ, có nước trong gàu và có trăng trong nước. Đây chính là tù túng.

Trăng là ảo ảnh.

Gàu và nước là cái giữ trăng, cái giữ ảo ảnh. Gàu là cách suy tư, nước là biểu hiện cái sờ mó được. Gàu và nước cách suy tư dựa vào những gì mắt thấy tai nghe, dựa vào những gì sờ mó được mà suy luận. Cho nên tâm trí bị lẩn quẩn trong giới hạn của ngôn ngữ và lý‎ luận, bị cầm tù không thoát ra được.

Ví dụ: Suy tư “Con gà có trước hay trứng gà có trước?” Suy tư này sẽ giữ ta trong vòng lẩn quẩn không bao giờ ra, vì nó bị giới hạn bởi ngôn ngữ và luận l‎ý của con người.

Một ví dụ thường ngày hơn: “Nếu ta làm thiện, ta sẽ được phước, như vậy sẽ gia tăng cơ hội thành công trên đường đời, và được hạnh phúc. Vậy thì, tu học làm việc thiện là đường đưa đến hạnh phúc.” Đây là một chuỗi lý luận rất hợp lý theo lý luận hàng ngày, và chẳng có gì đáng trách cả.

Nhưng nếu ta đã nhận ra chính thân ta là phù du, vô thường, thì tất cả chỉ là ảo ảnh—các việc thiện, tu học, hạnh phúc–đều chỉ là phù du, hư ảo.

Cho nên mọi phương thức suy luận đều là cái gàu nước, giữ ảo ảnh là trăng.

• Vậy thì cái gì không là ảo ảnh? Cái gì là chân l‎ý vĩnh cửu?

Chân lý‎ đó là cái nền thường hằng bất biến (thường trực không thay đổi) của mọi thay đổi. Nếu mọi ngọn sóng đều hiện rồi mất, đều thay đổi liên tục, thì phải có cái gì làm nền cho tất cả mọi ngọn sóng đó. Cái nền đó là đại dương nước. Lọn sóng nào cũng phù du, hiện rồi mất ngay, nhưng đại dương nước thì luôn có đó.

Cái nền thường hằng bất biến của mọi thay đổi đó, ta gọi là Tuyệt Đối. Ta không thể diễn tả được tuyệt đối, không thể tưởng tượng được bằng ‎ý niệm, vì mọi ‎từ ngữ, mọi ý niệm—dài, ngắn, trắng, xanh, lớn, nhỏ…–đều là tương đối, đều là thay đổi.

Cái nền thường hằng bất biến đó, ta gọi là Không, là Như Lai, là Phật. Đó là bản tánh thật của vũ trụ, và là bản tánh thật của chính ta, vì ta cũng từ đó mà ra rồi lại trở về đó, như sóng từ nước mà ra rồi lại tan hòa vào nước.

• Để nắm bắt được Tuyệt Đối (Không, Như Lai), ta phải vượt bỏ hẳn các khái niệm và suy nghĩ, vượt ra khỏi thế giới tương đối của mắt thấy tai nghe và của suy luận trong trí óc, để lên tầng Tuyệt Đối. Cảm nhận trực tiếp được hiện diện của Tuyệt Đối bên trong, và xuyên qua, những điều tương đối ta thấy—gần như là nhìn một người phụ nữ trước mặt và cảm nhận được tình yêu bất diệt của nàng có cho bạn. Cảm nhận này vượt lên trên lý luận và ‎ý niệm.

• Gàu vỡ, hết nước, hết trăng, tức là ngưng suy nghĩ kiểu bình thường, không lệ thuộc vào những điều mắt thấy tai nghe mà suy luận, là nhảy vọt lên đến tầng cảm nhận Tuyệt Đối đó. Cho nên ta nói là “giải phóng tâm trí” hay “hốt nhiên đại ngộ”.

• Người ta dùng chữ “ngộ”, “enlightened”, “giải phóng”, mà không nói “hiểu”, hay “đột nhiên hiểu ra”, vì cái biết này sâu thẳm hơn cái hiểu của suy luận bình thường. Đó tương tự như là cái biết cùa một người nghệ sĩ vừa nắm được một dòng nhạc hiện vào đầu và không giải thích được tại sao có dòng nhạc mới lạ thật hay hiện ra trong đầu như thế.

• Xem thêm về “hốt nhiên đại ngộ” trong bài Ba Ngày Nữa.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

No Water, No Moon

When the nun Chiyono studied Zen under Bukko of Engaku she was unable to attain the fruits of meditation for a long time.

At last one moonlit night she was carrying water in an old pail bound with bamboo. The bamboo broke and the bottom fell out of the pail, and at that moment Chiyono was set free!

In commemoration, she wrote a poem:

In this way and that I tried to save the old pail
Since the bamboo strip was weakening and about to break
Until at last the bottom fell out.
No more water in the pail!
No more moon in the water!

# 29

Mọi thứ đều nhất

Khi thiền sư Banzan đang đi ngang một khu chợ, thiền sư nghe một mẩu đối thoại giữa anh hàng thịt và khách hàng.

“Cho tôi miếng thịt ngon nhất anh có,” người khách hàng nói.

“Trong tiệm tôi mọi thứ đều nhất,” anh hàng thịt trả lời. “Chị chẳng tìm ở đây được miếng thịt nào mà không nhất.”

Nghe những lời này, Banzan tức thì giác ngộ.

Bình:

• “Mọi thứ đều nhất” tức là tâm không còn phân biệt. Tất cả chúng sinh đều như nhau—đều là Phật đang thành. Phải có tâm Phật mới “thấy” và “sống” được điều này.

Cho nên, Phật dạy từ tâm. Từ tâm với tất cả mọi người–thân sơ, tốt xấu.

Kinh Từ Tâm viết:

Tấm lòng nhân ái bao la,
Thật là thuần khiết, thật là cao thâm.
Hướng về tất cả chúng sinh,

Thương người quen lẽ tất nhiên,
Cũng thương những kẻ chưa quen bao giờ.
Xóa đi ngăn cách thân sơ,

Đủ lòng độ lượng, đủ lòng thương yêu.
Với người mưu hại đủ điều,
Bất nhân ác cảm gây bao hận thù.

Với người oán ghét bao đời,
Nguồn thương yêu ấy làm vơi tị hiềm.

Không những là yêu thương tất cả mọi người, mà là tất cả mọi loài, tất cả mọi sinh linh.

• (Và yêu tất cả mọi người không có nghĩa là tin tất cả mọi người. Trong đời sống hàng ngày, đôi khi ta phải thực tế trong việc tin người và dùng người. Nhưng yêu mọi người thì được. Cũng như bố mẹ có thể yêu tất cả các đứa con như nhau, nhưng tin mỗi đứa, và do đó hành xử với mỗi đứa, có thể khác nhau).

• Ở vào mức cao nhất, Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Khi Bồ tát Quán-tự-tại thực hành trí tuệ Bát Nhã thâm sâu, soi thấy [tất cả] là Không, Ngài liền vượt mọi khổ nạn.” Tất cả là Không, tức là không còn phân biệt cái gì hơn cái gì.

• Ở một góc nhìn khác, thì không có gì là rác cả. Tất cả mọi thứ trên đời đều có thể dùng được vào việc nào đó. Tất cả mọi người trên đời đều có thể dùng được vào việc nào đó.

• Anh hàng thịt: Đối với Phật gia cấm sát sinh, thì có lẽ bán thịt là nghiệp tội nặng nhất nhì trên đời rồi. Vậy mà một lời nói của anh hàng thịt cũng “bật công tắc đèn” cho một thiền sư giác ngộ. Vậy thì, lời nói có thể giúp ta giác ngộ có thể đến từ bất kỳ ai. Ta không thể có thái độ kỳ thị, coi thường lời nói của ai, vì họ dốt, hay là người xấu, là kẻ thù, là kẻ tội lỗi, là người khác đạo… Bất kỳ lời nói đến từ đâu, từ ai, đều có thể làm cho ta giác ngộ, vào đúng lúc.

• Tâm vô phân biệt.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Everything is Best

When Banzan was walking through a market he overheard a conversation between a butcher and his customer.

“Give me the best piece of meat you have,” said the customer.

“Everything in my shop is the best,” replied the butcher. “You cannot find here any piece of meat that is not the best.”

At these words Banzan became enlightened.

# 31

Sao xa

Ngồi yên giữa cõi vô cùng
Bỗng dưng sao đến từ vùng vô biên
Hằng hà sa số quang niên
Cớ gì nay gặp giữa triền mênh mông
Nợ duyên nào đã gieo trồng
Từ vô lượng giữa cánh đồng thời gian
Nên giờ có dịp hỏi han
Gởi về một mảnh bình an thiên hà
Cảm ơn em lại gặp ta…

TĐH
Lake of the Woods
5:34 pm Wed., Jan. 27, 2010

Danh thiếp

Keichu, vị thiền sư lớn thời Minh Trị Thiên Hoàng, là sư trụ trì chùa Tofuku, một đại tự ờ Kyota. Ngày nọ, thống đốc Kyoto đến thăm thiền sư lần đầu tiên.

Người trợ lý thống đốc trình danh thiếp của thống đốc, có ghi: “Kitagaki, Thống Đốc Kyoto.

“Tôi không có chuyện gì để nói với một anh chàng như vậy,” Keichu nói với người trợ lý. “Bảo ông ta đì về đi.” Người trợ lý mang tấm danh thiếp trở lại với lời xin lỗi. “Đó là lỗi của tôi,” thống đốc viết, với dòng bút chì xóa cụm từ Thống Đốc Kyoto. “Hỏi thầy anh lần nữa.”

“Ô, Katagaki hả?” thiền sư reo lên khi thấy tấm danh thiếp. “Thầy muốn gặp anh ấy.”

Bình:

• Keichu Bundo (1824-1905) là thiền sư Lâm Tế, hạ nhân của thiền sư “Vậy à” Hakuin.

• Rõ là đại sư muốn dạy cho thống đốc (“anh chàng như vậy”) một bài học về khiêm tốn. Nhưng tại sao phải dạy thì ta không biết trong bài này. Có thể là có nhiều điều đã xảy ra thời đó làm cho thiền sư phải giảng dạy như thế.

• Bài này cũng cho thấy không thể lấy bụng tiểu nhân mà đo lòng quân tử. Không thể thấy việc đại sư xử với thống đốc như thế mà kết luận là đại sư kiêu căng. Cái nhìn bên ngoài có thể được l‎ý giải bằng đủ mọi cách tâm ta muốn. Nếu ta có tâm thanh thoát, ta sẽ thấy mọi điều thanh thoát.


• Điều quan trọng là, nếu ta là thống đốc, ta được đại sư cho một cơ hội bằng vàng để học cung cách khiêm tốn, ta có khiêm cung để nhận bài học không?

Ở đời gặp chuyện loại này cũng thường. Phản ứng của chúng ta thế nào khi ta nằm trong trường hợp gần như trường hợp của Thống Đốc Kyoto?

• Nhiều người đọc bài này có thể nghĩ rằng tác phong không sợ quyền hành của Kaichu là điểm chính. Nhưng đó không là điểm chính. Thầy dạy học thì có đủ cách dạy, từ dịu dàng đến dữ dội, chẳng có gì đáng ngạc nhiên hết.

Điểm chính là phản ứng khiêm tốn, yêu học hỏi, của Thống Đốc Kitagaki.

• Khi nào thì ta mang chức vụ ra để cư xử? Khi nào ta cư xử với nhau chỉ bằng cái tên bố mẹ đã cho ta?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Calling Card

Keichu, the great Zen teacher of the Meiji era, was the head of Tofuku, a cathedral in Kyoto. One day the governor of Kyoto called upon him for the first time.

His attendant presented the card of the governor, which read: Kitagaki, Governor of Kyoto.

“I have no business with such a fellow,” said Keichu to his attendant. “Tell him to get out of here.”The attendant carried the card back with apologies. “That was my error,” said the governor, and with a pencil he scratched out the words Governor of Kyoto. “Ask your teacher again.”

“Oh, is that Kitagaki?” exclaimed the teacher when he saw the card. “I want to see that fellow.”

# 30