All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Tự ái vặt

Chào các bạn,

Một trong những cách rất dễ để đo lường công phu tư duy tích cực của ta đã đến đâu, và xã hội ta đã có thể dân chủ được đến đâu, là đo lường mức độ tự ái vặt của ta. Còn ở mức thấp, thì tự ái vặt cùng mình; mức thượng thừa thì không còn tự ái vặt; đại đa số người nằm giữa hai thái cực.

Tự ái vặt thì khi bị chê, chỉ trích, hay phê phán, sẽ lấy làm tức tối, hoặc khó chịu, chán nản, buồn rầu, giận dữ, nổi điên… Nói chung là phản ứng tiêu cực (từ trong suy tưởng hoặc trong cả hành động) khi nhận một điểm thấp từ ai đó.

Ta có thể đo lường ta từ mức tư duy tích cực thấp nhất đến mức cao nhất, với các tình huống sau đây:

• Có người nói hay làm điều gì đó (1) trong vòng “riêng tư” bè bạn, (2) không rõ nghĩa 100%, (3) nhưng ta diễn giải là phê phán ta. Ví dụ: Một người bạn nói “Chà hôm nay làm gì coi lịch sự quá vậy?” Ta nghĩ, “À, vậy là hắn muốn nói hàng ngày mình không lịch sự.”

• Tương tự như trên, nhưng “công cộng” hơn, chẳng hạn như một câu viết trong một diễn đàn công cộng.

• Có người phê phán ta trong vòng riêng tư bè bạn.

• Có người phê phán ta một cách công cộng.

• Có người phê phán ta “sai” (tức là phê phán một cách bất công) trong vòng riêng tư.

• Có người phê phán ta “sai” nơi công cộng.

Trong mỗi tình huống đó phản ứng ta thế nào? Nhói tí xíu, như kim châm nhè nhẹ, rồi cười vui như không? Hay buồn rầu chán nản? Hay còn phản ứng tiêu cực (kém vui tươi) trong cách cư xử? Hay trả đũa bằng cách nào đó?

(Ta nói “nhói tí xíu như kim châm nhè nhẹ” mà không nói là “chẳng cảm thấy gì.” Người bị phê phán mà cứ trơ như gỗ đá, không cảm thấy gì cả, thì đã thành chai đá, không biết cảm xúc, và không thể tiếp nhận được ích lợi từ các phê phán).

Đây là một thước đo rất tiện nghi cho mỗi người chúng ta sử dụng hàng ngày, để biết được mình đã tiến đến đâu trên đường luyện tâm.

Từ cá nhân đến xã hội

Vấn đề tự ái vặt không chỉ là vấn đề riêng của mỗi người, mà là một vấn để xã hội lớn. Nếu chúng ta tự ái vặt nhiều quá, không dám phê phán nhau, thì đối thoại, trao đổi, sáng tạo và dân chủ không thể phát triển trong xã hội ta.

Bố mẹ hay tự ái vặt thì sẽ không cho con cái hạch hỏi phê phán. Thầy cô tự ái vặt thì không cho học trò đối thoại tự do. Quan chức tự ái vặt thì bịt miệng dân và trừng phạt nhân dân khi bị phê phán.

Một quốc gia dân chủ là quốc gia trong đó một người dân có quyền nói với thủ tướng hay chủ tịch nhà nước nơi công cộng, “Ngu như bò” và ngài lãnh đạo cười trả lời, “Ừ, mẹ tôi cũng hay mắng tôi vậy đó,” và chẳng ai trừng phạt người đó cả (ngoại trừ có thể mời đi nơi khác để lãnh đạo có thể làm việc). Và dân có thể viết báo chê lãnh đạo dốt, mà lãnh đạo vẫn vui cười để nhân dân xả xú bắp hàng ngày.

Chỉ có người tự tin mới không tự ái vặt. Chỉ nhà nước tự tin mới không tự ái vặt. Chỉ quốc gia tự tin mới không tự ái vặt.

Sáng tạo, đối thoại, tự do, dân chủ không rơi từ trên trời xuống, hay đến với mấy tờ văn bản luật, mà đến từ thái độ sống thoải mái thong thả bình thản của chúng ta đối với nhau trong xã hội.

Mỗi chúng ta cần tập cho da mình dày thêm một tí, và biết vui đùa với phê phán. Đừng như teen hơi một tí là mặt như cái thúng, và đòi mọi người chung quanh cư xử với mình như là bước trên vỏ trứng.

Muốn phát triển xã hội tự do dân chủ sáng tạo, mỗi người chúng ta cần dày da một tí. Và cười thường hơn.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Gotan Project – Nuevo Tango

Gotan Project là tên của một ban nhạc ở Paris,gồm Philippe Cohen Solal (Pháp), Eduardo Makaroff (Argentina), và Christoph H. Müller (Thụy Sĩ).

Gotan Project được thành lập năm 1999. Đĩa phát hành đầu tiên là “Vuelvo Al Sur/El Capitalismo Foraneo” năm 2000, theo sau với album La Revancha del Tango năm 2001.

Nhạc của gotan Project là nhạc Tango, nhưng nhanh hơn tango cổ điển, nghe như soft rock, dùng nhiều nhạc cụ điện tử, và nhịp điệu cũng sôi động hơn tango cổ điển nhờ dùng nhiều nhịp gõ, như trống conga và bongo, chập chả… Loại tango này còn gọi là Nuevo Tangpo, tức là Tango Mới, hay Eleoctrotango (tango diện tử).

Loại Tango Mới này làm tango trở thành sống động với thế hệ @ và đã đưa tango trở về vị thế nhạc khiêu vũ dòng chính cho thê hệ trẻ.

Tên Gotan Project là từ Tango Project năm 1982 của một số nhạc sĩ cổ điển Mỹ, họp lại để làm một tango album tên la Tango Project, gồm nhạc của Carlos Gardel và Alfredo Le Pera, và đã được dùng trong các phim khá nỗi tiếng như Scent of a Woman (tài tử Al Pacino) và True Lies (tài tử Arnold Schwarzenegger).

Vì mức thành công của Tango Project, nhớm 3 người Solal, Makaroff và Muller (1999) quyết định dùng một cái tên để tỏ lòng kinh trọng Tango Project, và họ đổi chữ Tango thành Gotan.

Sau đây mời các ban nghe 2barn của Gotan Project: Diferente, Mi Confession, Una musica brutal

.

Gotan Project – Diferente

.

Gotan Project – Mi Confesion

.

Una musica brutal – Gotan Project

Tụng kinh

Một nông dân nhờ một vị sư Thiên Thai tụng kinh cho vợ đã qua đời. Sau khi tụng xong, người nông dân hỏi: “Thầy nghĩ là vợ tôi có được phúc đức nhờ tụng kinh không?”

“Không những chỉ là vợ anh, mà tất cả sinh linh đều hưởng lợi nhờ tụng kinh,” sư trả lời.

“Nếu thầy nói tất cả mọi sinh linh đều có lợi,” người nông dân nói, “vợ tôi rất yếu và những người khác sẽ ăn hiếp cô ấy, lấy đi phước đức của cô ấy. Vậy thầy làm ơn tụng kinh chỉ cho cô ấy thôi.”

Vị sư giải thích là người Phật tử muốn dâng cúng và cầu phước đức đến mọi sinh linh.

“Đó là lời dạy rất hay,” người nông dân kết thúc, “nhưng làm ơn cho một ngọai lệ. Tôi có anh chàng láng giềng thô lổ và dữ dằn với tôi. Làm ơn dẹp hắn ra ngoài mọi sinh linh khác.”

Bình:

• Trong một cọng cỏ có toàn thể vũ trụ. Tất cả mọi thứ đều liên hệ chặt chẻ với nhau như các lọn sóng của một đại dương. Nên ta không thể làm tốt cho một người hay một thứ mà không tốt cho tất cả. Hoặc ngược lại, không thể làm xấu cho một người hay một thứ mà không làm xấu cho tất cả. Không thể chỉ dành riêng cho người ta yêu, cũng như không thể gạt bỏ người ta ghét.

• Hãy nghĩ đến khái niệm này trong cuộc sống hàng ngày – ảnh hưởng của bất kỳ hành động lớn nhỏ nào của ta, dù tốt hay xấu, đến những người gần ta, đến môi trường ngay nơi ta ngồi, rồi lan thành phố của ta, rồi quốc gia của ta, rồi thế giới của ta.

Không thể nói rằng: “Tôi quá nhỏ bé, việc tôi làm chẳng ăn nhập gì đến ai cả.”

Một tiếng gảy móng tay có thể rung động đến vô lượng thế giới.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Reciting Sutras

A farmer requested a Tendai priest to recite sutras for his wife, who had died. After the recitation was over the farmer asked: “Do you think my wife will gain merit from this?”

“Not only your wife, but all sentient beings will benefit from the recitation of sutras,” answered the priest.

“If you say all sentient beings will benefit,” said the farmer, “my wife may be very weak and others will take advantage of her, getting the benefit she should have. So please recite sutras just for her.”

The priest explained that it was the desire of a Buddhist to offer blessings and wish merit for every living being.

“That is a fine teaching,” concluded the farmer, “but please make one exception. I have a neighbor who is rough and mean to me. Just exclude him from all those sentient beings.”

# 24

Tạo tôi diệt tôi

Chào các bạn,

Nếu chúng ta đã thực hành tư duy tích cực một thời gian dài, chúng ta có thể thấy hai giai đoạn lớn trong tiến trình phát triển của chính mình, gói trọn trong bốn chữ “Tạo tôi, diệt tôi.” “Tạo tôi” là giai đoạn đầu, “Diệt tôi” là giai đoạn cuối.

Lúc ban đầu, ta chẳng có tự tin tí nào, lúc nào cũng tin là tôi ngu, tôi dốt, tôi bất tài, tôi không được trời thương, tôi không có điều kiên tốt, tôi không đủ ô dù thanh thế gia đình… Nói chung, đây là lúc tất cả mọi suy tư tiêu cực làm cho chúng ta thấy mình chẳng nghĩa lý‎ gì, chẳng có kí lô nào, cuộc đời đã chẳng đến đâu và sẽ chẳng đến đâu. Đó là lúc ta thiếu tự trọng, thiếu hiểu biết về chính mình và những tiềm năng của mình, chưa thấy được con người thật của mình.

Đó là lúc ta phải “tạo tôi”, tức là xây dựng cái nhìn chân thật về mình, xây dựng tự trọng cho chính mình. Đây là lúc ta phải nhận biết con người mình, cũng như tất cả con người khác, đều là con của Thượng đế. Mình được yêu thương như tất cả mọi người khác, có những sức mạnh ngang những người khác, có những cơ hội ngang những người khác, có thể thành công ngang những người khác, dù là mới nhìn thoáng qua thì mình xem cứ như là đã sinh ra dưới một ngôi sao xấu, với một số phận rất tàn tệ.

“Tạo tôi” tức là mình phải tự tin vào vốn liếng sẵn có của mình, tự tin vào chiến thắng và thành công cuối cùng đến từ quyết tâm và kiên trì của mình, tự tin rằng nếu mình tập trung tư tưởng vào một mục tiêu tốt và không bỏ cuộc nửa chừng, thì mình sẽ đến đích. Đó là “nhân định thắng thiên”, là “số phận của mình nằm trong hai bàn tay của mình, do chính mình định đoạt.”

Khi đã đạt được mức “tạo tôi” rồi, khi ta đã có đủ tự tin rồi, ta phải bắt đầu bước cao hơn –“diệt tôi”, tức là bắt đầu nhận thấy “tôi” không còn là trọng tâm của suy tưởng của mình, không còn là trọng tâm của vũ trụ riêng mình nữa. Tôi là một người đứng trong 80 triệu người trong nước, môt người trong 7 tỉ người của thế giới, một sinh linh trong vô lượng sinh linh của thế giới, một sinh linh trong vô vô lượng sinh linh của vô vô lượng thế giới mà khoa học ngày nay vẫn chưa thấy tới…

Đó là lúc ta nhận thấy mình chỉ là một lọn sóng của đại dương, mình và thế giới chung quanh là một. Sức mạnh của mình đến từ thế giới chung quanh, như sóng lấy sức mạnh từ đại dương. Và mọi sự mình làm, tốt hay xấu, đều liên hệ và ảnh hưởng đến mọi người mọi vật chung quanh. Mình không là chính mình nữa, mà là một phần của xã hội quanh mình, của cuộc đời quanh mình.

Dù mình có là trọng tâm của sinh hoạt của mình, thì “tôi” lúc này vẫn là “tôi của thế giới”, và tập trung lo lắng cho “tôi” chính là lo lắng cho một phần tử của thế giới, là cho lắng cho sức mạnh và hạnh phúc của thế giới.

Cái nhìn của chúng ta lúc này vượt ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của chính mình, để phóng tư tưởng, ước muốn, lo lắng của mình ra ngoài thế giới.

Bằng cách gạt bỏ cái tôi, chúng ta cho “tôi” đôi cánh cuối cùng, để thoát khỏi tù ngục của chính nó, cất cánh bay cao, trở thành một phần của đại dương sự thật, bay trên những làn sóng của biển đời mênh mông.

Đây là lúc mà nhà Phật gọi là trở về với bản lai diện mục – mặt mũi nguyên sơ – của mình, cũng chính là bản lai diện mục của vũ trụ–mình với đời là một, như bản tính nguyên sơ.

“Người nào có cuộc đời của họ, sẽ mất đi. Người nào mất cuộc đời của họ, sẽ tìm đươc nó.”

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Một vị Phật

Ở Tokyo vào thời Minh Trị Thiên Hoàng, có hai vị thầy với tính cách hoàn toàn khác nhau. Unsho là vị thầy Chân Ngôn Tông, giữ mọi lề luật của nhà Phật rất kỹ lưỡng. Ông không bao giờ uống rượu, và không bao giờ ăn gì sau 11 giờ sáng. Vị thầy kia là Tanzan, một giáo sư triết tại Đại Học Hoàng Gia, chẳng bao giờ giữ lề luật gì. Khi muốn ăn là ăn, khi muốn ngủ ngày là ngủ.

Ngày nọ Unsho đến thăm Tanzan lúc Tanzan đang uống rượu. Phật tử không được cho ngay cả một giọt rượu chạm lưỡi mình.

“Ê, anh ơi, uống một ly nhé.”

“Tôi không bao giờ uống rượu!” Unsho nhấn mạnh nghiêm trọng.

“Người không uống thì không phải là người,” Tanzan nói.

“Anh nói tôi không là người chỉ vì tôi không mê uống rượu!” Unsho nói giận dữ. “Nếu tôi không là người thì tôi là gì?”

“Một vị Phật,” Tanzan trả lời.

Bình:

• Mục đích tối hậu của Phật pháp là đưa đến Giác ngộ, tức là tỉnh thức. Người Giác Ngộ đến Niết Bàn, tức là “lửa đã tắt”—Tâm Tĩnh Lặng.

Tất cả những kinh điển, những chùa chiền, những tăng đoàn, những qui luật được dựng ra chỉ để giúp người ta đạt được mục tiêu tối hậu–Tâm Tĩnh Lặng. Chúng chỉ là dụng cụ, là phương tiện. Có những thứ phương tiện này thì tốt, nhưng nếu không có thì cũng không hề gì, nếu người ta vẫn có thể giác ngộ mà không cần chúng. Phương tiện nào dùng cũng được và không dùng cũng được. Người ta có thể đi bộ, đi xe đạp, đi xe máy, đi xe hơi, đi máy bay để đến một nơi nào đó. Chẳng cách đi nào là bắt buộc cả.

• Uống rượu mà có tâm Phật, tức là nhìn người khác là Phật, như Tanzan, thì có uống cũng chẳng hề hấn gì.

Ngược lại, giữ mọi lề luật gắt gao mà tâm sân rất nhậy như Unsho, thì cũng chẳng được gì.

• Trên đường tu tập, ta phải biết điều gì là mục tiêu, điều gì chỉ là phương tiện. Rất tiếc là nhiều người thích chấp vào hình thức mà quên nội dung, chấp vào phương tiện mà bỏ rơi mục đích.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

A Buddha

In Tokyo in the Meiji era there lived two prominent teachers of opposite characteristics. One, Unsho, an instructor in Shingon, kept Buddha’s precepts scrupulously. He never drank intoxicants, nor did he eat after eleven o’clock in the morning. The other teacher, Tanzan, a professor of philosophy at the Imperial University, never observed the precepts. When he felt like eating, he ate, and when he felt like sleeping in the daytime, he slept.

One day Unsho visited Tanzan, who was drinking wine at the time, not even a drop of which is supposed to touch the tongue of a Buddhist.

“Hello, brother,” Tanzan greeted him. “Won’t you have a drink?”

“I never drink!” exclaimed Unsho solemnly.

“One who does not drink is not even human,” said Tanzan.

“Do you mean to call me inhuman just because I do not indulge in intoxicating liquids!” exclaimed Unsho in anger. “Then if I am not human, what am I?”

“A Buddha,” answered Tanzan.

#13

Phúc cho người xây dựng hòa bình

Chào các bạn,

Nếu nhìn chung quanh ta, chúng ta thấy hình ảnh của tranh chấp và chiến tranh hàng ngày—giữa các quốc gia, các khối tôn giáo, các khối chủng tộc, các khối ý‎ thức hệ… Trong một nước thì phe chính trị này choảng nhau với phe kia, trong sở làm thì bạn bè đâm sau lưng nhau, trong gia đình thì vợ chồng cha mẹ con cái anh chị em gây gỗ nhau… Cho nên…

… Phúc cho người xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thượng đế.

Đây là câu nói của Chuá Giêsu trong Beatitudes, một trong tám phúc lớn, mở đầu Bài Giảng Trên Đồi Cao nổi tiếng. Con của Thượng đế là chức danh lớn nhất mà một người có thể có. Đối với ngài tổng thống, chẳng có chức danh nào trong thiên hạ quan trọng cho bằng “con của tổng thống.” Cho nên câu nói Beatitudes này nhấn mạnh rất rõ vai trò của xây dựng hòa bình, hay hòa giải, trong nền văn mình con người của chúng ta.

Nhưng mà muốn xây dựng hòa bình trước hết ta phải có hòa bình từ trong chính ta, phải không các bạn? Nếu ta còn thói quen hơn thua, bắt bẻ, đì nhau, cãi nhau, chưởi nhau, đánh nhau…, dù là đúng hay sai, thì rất khó để ta xây dựng hòa bình.

Muốn tránh tranh chấp và chiến tranh, qui luật ai cũng biết là “nhịn nhục và xả bỏ”. Nhưng nói thì dễ làm thì khó. Đa số mọi người sẽ nói “Nhịn nhục và xả bỏ, chỉ khi nào ĐÁNG nhịn nhục và xả bỏ.” Nhưng, chỉ một chữ “đáng” đó cũng đủ triệt tiêu hết tất cả cố gắng của ta rồi. Bởi vì, khi ta bị đụng chạm, hầu như chẳng bao giờ ta thấy “đáng” nhịn nhục và xả bỏ. Hoặc là vì “Chuyện này không phải chuyện nhỏ, không thể bỏ qua được”, hoặc “Bỏ qua nó sẽ coi thường và làm tới,” hoặc “Để yên nó sẽ làm hại đến nhiều người khác nữa,” hoặc “Không trị những người như nó thì xã hội không khá lên được”… Và, tất cả các lý lẽ này đều đúng. Vì vậy, khi chúng ta nói đến chữ ĐÁNG nhịn nhục, thì hầu như ta đã vất hết mọi nhịn nhục vào thùng rác rồi.

Vấn đề còn phức tạp hơn, vì khi ta đau đớn hay nóng giận, khuynh hướng tự nhiên của con người chúng ta là “đánh”, chứ không phải “nhịn”. Những lúc đó toàn bộ cảm xúc và suy tư của ta thiên về “đánh” hơn là “nhịn”.

Cho nên nhịn nhục hoặc xả bỏ, trong tất cả mọi truyền thống tâm linh, từ Phật Thích Ca đến Chúa Giêsu, là một qui luật vô điều kiện—nhịn nhục vô điều kiện, xả bỏ vô điều kiện. Tức là, nhịn nhục xả bỏ khi không đáng nhịn nhục xả bỏ, như khi người kia sai 100%, hay hắn làm ta đau đến mức hắn nên bồi thường lớn mới lấy lại công lý, hay khi hắn phải bị đánh một trận tơi tả thì xã hội mới lấy đó làm gương… Khi việc không đáng nhịn, người không đáng bỏ qua, mà ta nhịn nhục và xả bỏ, đó mới là nhịn nhục xả bỏ. Yêu tất cả mọi sinh linh, kể cả kẻ thù.

Các lời dạy này, chúng ta đểu đã nghe và đã thường bỏ ngoài tai, vì ta cho rằng nó không thực tế, không hạp với đời sống hàng ngày ta phải đối phó. Và vì vậy tất cả chúng ta tiếp tục sống kiểu hòn đất ném đi hòn chì ném lại, và do đó đa số các gia đình và các quốc gia đều có lục đục, thế giới luôn luôn có chiến tranh.

Nhưng, nếu các lời dạy nhịn nhục và xả bỏ vô điều kiện xa xôi với thực tế, tại sao chúng có thể sống đến mấy ngàn năm, và vẫn được nhắc nhở học hỏi hàng ngày, trong khi một l‎ý thuyết kinh tế lớn của thế giới của một đại kinh tế gia, nếu may mắn sống khỏe mạnh được 50 năm thì đó đã là chuyện rất hiếm?

Thực ra, tự trong tâm thức sâu thẳm, mỗi người chúng ta đều biết những lời dạy về nhịn nhục xả bỏ vô điều kiện là đúng, cho nên các lời dạy này mới sống được mấy ngàn năm. Chỉ là ta không muốn thực hành khi ta không thích thực hành, thế thôi.

• Nhưng đương nhiên là có những trường hợp không thể nhịn và không nên nhịn. Ví dụ, một đám cướp vào một ngôi làng nhỏ cướp của, hãm hiếp, giết người. Đương nhiên là ta không nên nhịn mà nên đánh. Hoặc khi có người cầm dao đòi đâm ta, ta không thể ngồi yên chịu đâm được. Và ta có thể kể nhiều ví dụ khác, khi đời sống an vui và hạnh phúc của chính ta hay của xã hội đòi hỏi chúng ta phải đứng lên tích cực chiến đấu.

Thế thì khi nào nhịn nhục xả bỏ, khi nào không nhịn nhục xả bỏ?

Đây thực là vấn đề phức tạp hầu như truyền thống đạo đức và tâm linh nào cũng gặp phải. Và không thể có câu trả lời cụ thể vì mỗi câu trả lời tùy thuộc vào những điều kiên thực tế của vụ việc liên hệ. Không thể trả lời khi không có dữ kiện thật của đời sống.

Tuy nhiên, môt cách chung chung, có lẽ mọi người đều đồng ‎ý với hai tiêu chuẩn sau:

1. Khi có người làm sai trái
2. Và cái hại quá lớn cho bản thân ta, gia đình ta, hay xã hội của ta

thì chúng ta cần ra tay ngăn chận. Tức là không nên nhịn nhục.

• Như vậy cho đến lúc này, phương thức sống của chúng ta có thể tóm tắt như sau:

1. Luôn luôn nhịn nhục và xả bỏ,
2. Ngoại trừ khi, (a) có người làm sai trái, và (b) cái hại quá lớn cho bản thân ta, gia đình ta, hay xã hội của ta.

Công thức này phù hợp với lời dạy của các bậc thánh nhân mà trong thâm tâm ta vẫn biết là đúng, và vẫn thực tế với đời sống hàng ngày.

Và công thức này là đảo ngược của công thức nhiều người chúng ta đang dùng hàng ngày. Đa số chúng ta quen phản ứng theo kiểu: “Tôi đương nhiên trả đũa, trừ khi đáng nhịn nhục xả bỏ”.

Công thức từ lời dạy các thánh nhân là “Tôi đương nhiên nhịn nhục xả bỏ, trừ khi thực tế đòi hỏi tôi không nên nhịn nhục xả bỏ.”

Một đằng lấy trả đũa làm gốc, một đằng lấy xả bỏ làm gốc.

Chúc các bạn một ngày hòa bình.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Proud Mary – Mary kiêu hãnh

500 Greatest Songs of All Times

Chào các bạn,

Một bản nhạc rock thời 1960s đã trở thành kinh điển và ưa chuộng bởi hầu như mọi người ngày nay là Proud Mary, của nghệ sĩ guitar John Forgerty của ban Creedence Clearwwater Revival (“CCR”) năm 1969.

CWR phát hành bản này lần đầu tiên trong album Bayou Country tháng 1/1969, và ngay lập tức nó trở thành bản nhạc đầu tiên của CWR lên hàng đầu trong các danh sách nhạc Pop ở Mỹ.

Proud Mary nghe có hoà trộn của rock and roll, nhạc Gospel (thánh ca của người da đen), blues và soul. Và đương nhiên là có các đặc tính thường xuyên của Creedence Clearwater Revival là lời nhạc giản dị thực tế, và đường guitar của John Fogerty.

Mary kiêu hãnhBỏ việc tốt trong thành phố
Làm việc cho anh chàng ngày và đêm
Nhưng tôi không bao giờ mất một phút ngủ nào
Để lo lắng chuyện có thể đã ra thế nào

[Điệp khúc]
Vòng lớn tiếp tục xoay
Mary kiêu hãnh tiếp tục nóng cháy
Lăn, lăn, lăn trên dòng sông

Rửa rất nhiều bát đĩa ở Memphis
Bơm rất nhiều xăng ở New Orleans
Nhưng tôi chưa bao giờ thấy mặt tốt của một thành phố
Cho đến khi tôi đi một chuyến trên con thuyền Nữ Hoàng dọc sông

[lập lại Điệp khúc]

Nếu bạn xuống Sông
Tôi chắc bạn sẽ thấy người ta sống
Bạn không phải lo lắng vì không có tiền
Mọi người trên sông luôn vui vẻ cho bạn

(TĐH dịch)
Proud Mary

Left a good job in the city
Workin’ for the Man every night and day
But I never lost a minute of sleepin’
Worryin’ ’bout the way things might have been
Continue reading Proud Mary – Mary kiêu hãnh

Trên trung bình 6%

Chào các bạn,

Nếu đứng trong một nhóm người cao khoảng 1m6, ta cần phải cao bao nhiêu để có thể “vượt trội”, dễ nhận ra? 3m2 ? 2m5 ? Chắc là không cần phải cao thế, phải không các bạn? Cũng không cần phải đến 1m8. Cỡ 1m7 là ta đã vượt lên hẳn mọi người rồi, và một người đứng xa có thể nhận ra ta rất dễ dàng rồi. Tức là, trong một nhóm người trung bình ta không cần phải hơn mọi người nhiều, không cần hơn gấp đôi, hay gấp rưỡi, hay 25%, hay ngay cả 10%. Chỉ cần cở 6% (0,1m/1,6m) là đủ để vượt trội.

Việc vĩ đại đến mức nào thì cũng chỉ cần hơn người đứng gần mình một tí xíu cỏn con thôi. Vô địch chạy nước rút thế giới có thể về đến đích trước người thứ hai dưới 1/10 giây đồng hồ. Vô địch quyền Anh chỉ cần đứng ngất ngư gần chết trong khi địch thủ không đứng dậy được sau 10 tiếng đếm của trọng tài. Cựu vô địch cờ vua Savielly Grigorievitch Tartakower nói: “Chiến thắng đến với kỳ thủ nào làm lầm lỗi trước lầm lỗi cuối cùng.” Người thắng chỉ cần làm ít hơn người thua một lỗi.

Chỉ cần hơn một tí là chúng ta đã có thể vượt trội.

Cho nên chẳng nên ngồi đó than thở sao trời không cho tôi IQs đến mức giải một bài toán nhân 20 con số trong vòng 2 giây đồng hồ, hay sắc đẹp làm Elizbeth Taylor phải xấu hổ, hay sức mạnh làm Hercules phải vái làm thầy…

Và nếu chỉ cần 6% là có thể trở thành vượt trội thì ai trong chúng ta cũng có thể trở thành vượt trội được cả, vì khá lên bằng 5 bằng 10 thì khó chứ 6% thì chắc cũng chỉ khó như ăn cháo lòng ở ngã bảy là cùng.

Nhưng tại sao ta phải vượt trội vậy các bạn?

Tại vì phải vượt trội một tí ta mới có thể làm gương cho các người khác noi theo, nhất là những người nhỏ hơn, trẻ hơn, những người nhìn lên ta để học hỏi, để tìm một dẫn dắt nào đó.

Thế giới (và đất nước ta) có nhiều người trung bình quá. Người trung bình là người: hòn đất ném đi hòn chì ném lại, nói thì úp úp mở mở, nói một nửa giấu một nửa cố tình làm người nghe hiểu lầm, thiếu thành thật, sẵn sàng gian dối để có lợi cho mình, tự ái vặt, ganh tị, coi thường người nghèo khổ, áp bức người cô thế, ai sống chết mặc ai tôi chỉ cần lo cho thân tôi…

Các bạn có thể tự làm một danh sách của những gì bạn cho là trung bình. Rồi cố nâng cả danh sách của mình lên cao hơn 6%. Vậy là thái độ và phong cách của bạn sẽ vượt trội hẳn lên, đến nỗi mọi người gặp bạn, nói chuyện vài ba câu là nhận ra phong cách lạ thường của bạn ngay. Người nhậy cảm có thể nhận ra ngay khi vừa bắt tay chưa kịp nói gì. Và như thế, tự nhiên là những người khác, nhất là bạn bè và con em, sẽ âm thầm được ảnh hưởng thái độ và cách sống tốt của bạn chi phối, mà bạn chẳng tốn công giáo huấn và hay làm thầy ai cả.

Thành thật hơn 6%
Bớt ích kỷ hơn 6%
Nhịn nhục hơn 6%
Lo lắng cho xã hội hơn 6%
Yêu mình ít hơn 6%
Yêu xã hội nhiều hơn 6%
Bớt kỳ thị hơn 6%
Can đảm hơn 6%
Ít a dua theo đám đông hơn 6%
Ít chê bai hơn 6%
Khen người nhiều hơn 6%
Bớt cau có 6%
Hay cười hơn 6%
Bớt nghiêm nghị 6%
Hay giễu hơn 6%
…. 6% …6% ….6%

Chúng ta thường nghĩ đến các việc lấp biển vá trời và cho là ta không bao giờ đủ sức làm gì cho đời cả. Thế giới không có, và cũng không cần có, Nữ Oa.

Chỉ cần làm việc chút xíu trong khả năng hàng ngày của mình thôi. Mỗi chú mối chỉ làm công việc nhỏ xíu của chàng ta, để xây dựng ụ mối lớn hơn chàng ta vài trăm triệu lần.

Một tiếng gảy móng tay có thể vang động đến vô lượng thế giới.

Trên trung bình 6% .

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Thánh thi Hafiz: Một Thế Giới Mới – Những Tia Nắng

Chào các bạn,

Hafiz (đôi khi còn viết là Hafez) (1320-1389), với tên thật là Shams-ud-din Muhammad, là thi sĩ được yêu chuộng nhất của đế quốc Persia (Iran cũ), và là một cây đại thụ trong nền văn hóa Persia.

Ông sinh ra ở Shiraz và sống gần cả đời ở Shiraz, nơi ông trở thành một vị thầy Sufi nổi tiếng. Sufism là một truyền thống Hồi giáo chú trọng đến hướng vào nội tâm, suy tưởng, khổ hạnh, và trực nghiệm tâm linh.

Cho đến khi Hafiz qua đời, người ta nghĩ là ông đã viết khoảng 5 ngàn bài thơ, nhưng chỉ có từ 500 đến 700 bài còn sót lại ngày nay. Divan (tập thơ) của ông là một tác phẩm kinh điển trong văn học Sufism.

Tác phẩm của Hafiz được Tây phương biết đến qua Geothe, và sự nồng nhiệt của Goethe kích thích Ralph Waldo Emerson dịch Hafiz vào thế kỷ 19.

Thơ của Hafiz được nhiều tác giả khác nhau ưa chuộng, như Nietzsche, Pushkin, Turgenev, Carlyle, và Garcia Lorka. Ngay cả Sherlock Holmes, viết tiểu thuyết trinh thám, cũng trích thơ Hafiz trong một câu chuyện về Arthur Conan Doyle.

Năm 1923, Hazrat Inayat Khan, người thầy Ấn Độ có công giới thiệu Sufism đến Tây phương, đã nói: “Các lời thơ của Hafiz đã chiến thắng từng con tim nghe chúng.”

Sau đây mời các bạn đọc hai bài thơ của Hafiz: Một Thế Giới Mới, và Những Tia Nắng.

Hafiz là thi sĩ của Sufism, truyền thống tâm suy tưởng sâu sắc nhất của Hồi giáo, nên chúng ta cần để ý ‎ đến các biểu tượng trong thơ. Xin xem chú thích cuối bài.
.

Một thế giới mới

Hãy dâng hoa, rót rượu thánh, (*)
Chẻ trời và bắt đầu tái tạo thế giới.

Nếu các lực đớn đau xâm nhập mạch máu của những kẻ đang yêu,
người bưng chén thánh và tôi sẽ tạt trôi cám dỗ đó. (**)

Với nước hoa hồng, chúng ta sẽ làm dịu ly rượu thẩm đắng;
Chúng ta sẽ thêm đường vào lửa để làm ngọt những đợt khói bay.

Nào nhạc sĩ, cầm đàn lên, chơi một bản nhạc tình;
hãy vũ, hãy ca hát cả đêm, hãy lễ hội điên cuồng.

Là cát bụi, ơi Gió Tây, hãy đưa chúng tôi lên các Thiên Đàng,
bay tự do trong ánh sáng sướng vui của Tạo Hóa.

Nếu trí óc muốn trở về nhưng con tim khóc lóc xin ở lại,
đó là cuộc tranh cãi cho tình yêu suy gẫm.

Than ôi, những bài ca và những ngôn từ này chẳng nghĩ lý gì trên mảnh đất này;
đến đây, Hafez, hãy cùng tạo lập một thế hệ mới.

Chú thích:

(*) Trong truyền thống Tây phương và Trung Đông, rượu nho là của lễ hiến dâng trong các dịp lễ hội, thờ tự. Ngày nay vẫn thế trong như ta thường thấy trong các nhà thờ Thiên chúa giáo.

Rượu tượng trưng cho sức sống, cho mạch máu. Trước khi bị tử hình, chúa Giêsu nâng chén rượu trong tay, chia cho các môn đệ, và nói: “Này là máu ta…”

(**) Người bưng chén (cupbearer): Ngày xưa mỗi vua có một người mang chén uống rượu của mình, để tránh bị đầu độc. Vua chỉ uống rượu trong chén của vua, do cupbearer mang theo mình. Đây là người trung thành nhất của vua, có thể chết vì vua. Thường khi, cupbearer uống thử trước khi vua uống, để tránh vua bị đầu độc.

Tu sĩ cấp cao thường được xem là cupbearer của Thượng đế.

Trong bài này, cupbearer nên được hiểu là người trung thành với Thượng đế và chỉ dạy của Ngài (không hẳn là tu sĩ).

(Trần Đình Hoành dịch từ Anh ngữ và chú giải)

.

A New World

Let’s offer flowers, pour a cup of libation,
split open the skies and start anew on creation.

If the forces of grief invade our lovers’ veins,
cupbearer and I will wash away this temptation.

With rose water we’ll mellow crimson wine’s bitter cup;
we’ll sugar the fire to sweeten smoke’s emanation.

Take this fine lyre, musician, strike up a love song;
let’s dance, sing all night, go wild in celebration.

As dust, O West Wind, let us rise to the Heavens,
floating free in Creator’s glow of elation.

If mind desires to return while heart cries to stay,
here’s a quarrel for love’s deliberation.

Alas, these words and songs go for naught in this land;
come, Hafez, let’s create a new generation.

Hafiz (1320-1389) (Orinial language: Persian/Farsi)
English translation: Haleh Pourafzal and Roger Montgomery

Những tia nắng

Ơi, Người Chủ Rượu, mặt trời đã lên. Hãy rót rượu đầy ly tôi. (***)
Nhanh lên, vì đêm sẽ đến, và ta sẽ phải ngủ.

Ngoài kia, những kẻ tiên tri chết chóc đang tuyên bố ngày tận thế.
Nhanh lên! cho chúng tôi thêm rượu ngọt của Ngài!

Nếu bạn tìm danh tiếng và vinh quang từ mặt trời,
Thì ngủ tiếp đi; chỉ có trí tuệ thánh hóa trong những tia nắng.

Khi Ngày Phán Xét đến và bầu trời biến thành bình sành, (****)
Hãy biến xương sọ của bạn thành ly sành, và đổ vào đó rượu trong bình này.

Bây giờ không phải là thời nói chuyện vặt vảnh với bạn bè;
Chỉ nên nói về ly và rượu. (*****)

Hafiz, đứng dậy! Ra khỏi gường. Cậu có việc làm,
Và thờ kính rượu là việc duy nhất đáng làm. (******)

Chú thích:

(***) Người Chủ Rượu (Người Mang Rượu, Winebringer), nên được hiểu là Thượng đế.

Rượu là sức sống từ Thượng đế.

(****) Ngày Phán Xét: Theo một số tôn giáo, Ngày Tận Thế là Ngày Phán Xét, Thượng đế sẽ đến để phán xét con người. Con người sẽ được sống lại từ sự chết để chịu phán xét.

Hafiz xem ra không xem ngày này như là các tiên tri tận thế đang nói. Khi ngày này đến, Hafiz nói như giễu nhưng đồng thời cũng rất nghiêm chỉnh: Bầu trời sẽ thành bình rượu lớn, và ta hãy biến xương sọ (của hài cốt được tái sinh của ta) thành ly rượu nhỏ, tiếp tục uống, tiếp tục ca tụng và thụ hưởng sự sống từ Thượng đế.

(*****) Ly là chính ta, rượu là sức sống từ Thượng đế.

(******) Chỉ trân quý và thờ phụng sức sống Thượng đế cho ta mới là điều duy nhất quan trọng, tận thế hay không tận thế.

(Trần Đình Hoành dịch từ Anh ngữ và chú giải)

.

Sun Rays

O Winebringer, the sun is up. Fill my goblet full of wine.
Hurry, for night will come, and then we’ll have to sleep.

Outside, the doomsayers are announcing the end of the world.
Quick! give us some of Your delicious wine!

If it is fame and glory that you are looking for from the sun,
Then go back to sleep; there is only divine knowledge to its rays.

When Judgment Day arrives and the sky becomes a jug of poor clay,
Make your skull into a clay cup, and fill it with this pitcher’s wine.

Now is not the time to be making small talk with your friends;
Speak only of the cup and of the wine.

Hafiz, get up! Get out of bed. You’ve work to do,
And the worship of wine is all the worthwhile work there is!

Hafiz (1320-1389) (Original language: Persian/Farsi)
English translation: Thomas Rain Crowe

Giáo dục cấp 2 và 3 trong vòng 3 năm qua

Chào các bạn,

Câu hỏi Nghiên Cứu Xã Hội tuần này là:

Trong vòng ba năm vừa qua, bạn nhận thấy giáo dục cấp 2 và cấp 3 ở Việt nam:
1. Khá hơn rất nhiều?
2. Khá hơn một tí?
3. Cũng vậy?
4. Tệ hơn một tí?
5. Tệ hơn rất nhiều?

Các bạn trả lời đông đủ nhé.

Chúc mọi người một ngày vui!

Mến,

Hoành

35 Năm

Ngày mới quen
Tóc em demi-garçon
Bước em nhún nhẩy
Bà đầm hái nho
Như cô công chúa
Cười thơ trẻ
Nhưng mắt thiếu phụ
Thẳm thẳm buồn

H & P - 1975 Saigon


Đưa em đi lễ
Nhà thờ Ba Chuông
Tà muslin đen dài
Lộng gió
Nên nắng nao nao
Đầu cây ngọn cỏ

Em vào luật khoa
Nắng sáng sân trường
Quốc Tế Công Pháp
Thầy Châu Tiến Khương
Em nghe anh giảng

Qua Quốc Gia Hành Chánh
Hội quán vắng tanh
Gió lùa hàng cửa sổ
Chỉ em và anh
Ngồi nhìn nắng đổ
Nghiêng sân

Vào Nhà thờ Đức Bà
Dưới chân Đức Mẹ
Nguyện cầu cho những phong ba
Đang cuộn về trên Đất Mẹ

Thảo cầm viên
Những con đường đêm
Vắng lặng
Những quán cà phê
Những buổi xi nê
Những dãy phố trưa
Những chiều hè đổ lửa
Chiếc Rambler
Dọc ngang thành phố
Mondial
305

H & P - 2009 (Washington DC)


35 năm
Thăng trầm
Cơn mộng hoàng lương
Bóng câu vỗ cánh ngoài khung cửa
Trời rộng
Và xanh
Kê vàng chưa chín
Nắng vẫn mong manh
Và hai đứa
Vẫn còn đây
Chỉ chợp mắt vài giây
Trong buổi gặp đầu

35 năm
Những giọt đắng vẫn rơi
Xuống ly đời dịu ngọt
Mặt trời vẫn ấm
Trên những đồng cỏ
Và hai nhỏ
Vẫn nắm tay nhau chạy
Trên những đồi hoang

TĐH
Tuesday, Jan. 5th, 2010
35th Anniversary of Hoành & Phượng
Lake of the Woods, Virginia, USA

say đắm


bên nhau

Stayin’ Alive – Bees Gees

Chào các ban,

Stayin’ Alive là bản nhạc của the Bees Gees làm nhạc nền chính cho phim Saturday Night Fever nam 1977, với Travolta thủ vai chính.

Bản nhạc này do cả ba người của the Bee Gees viết – Barry, Robin, and Maurice Gibb. Ngày 13 tháng 12, 1977 the Bees Gees tung đĩa single của bản nhạc này ra thị trường như là single soundtracdk của phim Saturday Night Fever. Ngay sau đó bản nhạc lên đứng đầu Billboard Hot bắt đầu ngày 4 tháng 2 năm 1978 và giữ vị thế đó trong 4 tuần liền.

Bản nhạc này từ đó trở thành bản nhạc được biết nhiều nhất của the Bee Gees. Phim Saturday Night Fever có tổng coog 17 bản nhạc, trong số đó Bees Gees có 6 bản, kể cả Stayin’ Alive. Bees Gees Saturday Night Fever sountrack của 6 bản này là movie soundtrack hàng đầu trong lịch sử movie soundtrack.

Đến năm 1983, Sylvester Stallone, tài tử chuyên đóng vai võ sĩ quyền Anh Rocky, đạo diễn phim Staying Alive, phim tiếp tục của Saturday Night Fever, cũng với John Travoilta thủ vai chính. Bản nhạc Stayin’ Alive cũng được dùng trong phim Staying Alive.

Báo nhạc Rolling Stone xếp bài hát này hạng 191 trong 500 bài hát hay nhất mọi thời đại.

Sau đây mời các bạn nghe:

1. Stayin’ Alive by Bees Gees (1977)
2. Movie clip của phim Saturday Night Fever với tài tử Travolta và bản Stayin’ Alive (1977).
3. Movie clip phần đầu của phim Staying Alive (1983).
.

Bee Gees – Stayin’ Alive ( 1977 )

.

Stayin’ Alive – Theme song in movie Saturday Night Fever (1977) – John Travolta

.

John Travolta – 1983 – phim Staying Alive – Intro

Càng tu càng tội

Chào các bạn,

Tất cả chúng ta đều đồng ý rằng “càng học càng thấy mình dốt”—bể học thì mênh mông và càng học mình càng khám phá ra là cái mình biết cũng chỉ như vài hạt cát trên bãi biển. Tu luyện nội tâm cũng thế, nhưng chẳng mấy khi ta nghe nói “Càng tu càng tội.” Thực ra, tu cũng chỉ là học. Học càng nhiều càng thấy dốt, thì tu càng lâu càng thấy mình nhiều yếu đuối lầm lỗi.

Tại sao vậy?

Thưa, tại vì càng tu luyện cao thâm ta càng phát hiện ra những điểm yếu của mình mà trước đó ta không thấy.

Để thấy rõ vấn đề, chúng ta hãy quan sát một người cướp của giết người, bỗng nhiên một ngày chợt đổi dạ, bắt đầu con đường tu luyện chính mình:

• Đầu tên, hắn thấy cướp của giết người là xấu, cho nên cải tà qui chánh.

• Được một thời gian dài, hắn khám phá ra là nói dối là xấu, bèn cố bỏ nói dối.

• Thêm một thời gian, công lực cao hơn, hắn khám phá ra là hắn hay kiêu căng về mình, về dĩ vãng “anh hùng” và sự nhất tâm cải tà qui chính của mình, hắn bèn tập cho khiêm tốn.

• Thêm một thời gian, công lực cao hơn, hắn thấy rượu thường làm cho hắn suy nghĩ thiếu chính xác, bèn bỏ rượu.

• Thêm một thời gian, thấy thuốc lá làm phiền mình và người khác quá, bèn bỏ thuốc.

• Thời gian sau, công lực cao hơn, thấy mình hay hứa mà không thực hiện hết được, bèn bắt đầu hứa cẩn thận hơn và cố thực hiện mỗi lời hứa.

• Thời gian sau nữa, hắn cảm thấy nên vào tu viện đi tu thì mình mới thanh tịnh ra, bèn bỏ đời đi tu.

• Trong tu viện, một thời gian rất lâu, hắn mới nhận ra rằng hắn vẫn hàng ngày cạnh tranh với các tu sĩ khác về đạo học, bèn cố bỏ hơn thua.

• Vài năm sau hắn mong đợi được phong chức tu viện trưởng, và khám phá ra rằng mình thầm hằng mong người bạn của mình đừng được chức đó.

• Sau khi thành tu viện trưởng, hắn khuyến khích mọi tu sĩ của hắn giảng đạo hăng hái cho mọi người. Rồi một ngày hắn khám phá ra là hắn vẫn thường nghĩ rằng chỉ con đường đạo học của hắn là đúng và những người theo những đạo khác là lạc đường…

Cứ như thế, tu luyện càng cao thâm ta càng khám phá ra ta có rất nhiều khiếm khuyết và yếu kém, mà trước đó ta không thấy được.

Điều này rất phù hợp với các khái niệm vô minh và giác ngộ của Phật gia—khi vô minh ta không thấy được cái si mê của mình; thấy được một điều si mê là giác ngộ được một tí.

Người học võ cũng thế. Học trò mới học võ thì chỉ thấy mình mạnh. Nhưng đại sư phụ thì biết nơi nào là tử huyệt của mình, địch dùng loại đòn nào thì có thể hạ mình.

Và trong Thiên chúa giáo, ý niệm “tội tổ tông”—cái yếu kém bẩm sinh của con người—cũng là cái nhận biết sâu sắc của những người đã tu luyện đến mức thượng thừa.

Vậy thì chúng ta đã biết một công thức tu luyện nội tâm rồi đó. Ngày nào ta còn tiếp tục khám phá ra những điểm yếu của mình để khắc phục, ngày đó ta đang tu tập đúng hướng.

Ngày nào ta nói “Tôi tốt rồi, đạo đức rồi, manh mẽ rồi, ngộ rồi…”, ngày đó ta còn đang chết.

Chỉ có người học nghiêm chỉnh mới nắm được sự thực là càng học mình càng dốt. Chỉ có người tu tập nghiêm chỉnh mới thấy càng tu càng tội.

Và “tu” có nghĩa là làm cho tốt thêm. Làm cho con tim của mình sáng thêm, sạch thêm, yêu ái thêm, mạnh mẽ thêm, là tu. Ai trong chúng ta cũng tu cả.

Và “tu” cũng có nghĩa là thực hành.

Đọc sách đạo học hay tư duy tích cực mà không thực hành, thì kiến thức đọc đó không thể là kiến thức thật được, và ta cũng không thể làm cho con tim đang chết của ta sống lại được.

Chỉ kiến thức thật, đến từ thực hành và trực nghiệm, mới đủ sức hồi sinh một quả tim đang chết.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Quả tim tôi cháy như lửa

Soyen Shaku, thiền sư đầu tiên đến Mỹ, nói: “Tim tôi cháy như lửa nhưng mắt tôi lạnh như tro chết.” Thiền sư có những quy luật thực hành mỗi ngày trong đời, như sau:

• Mỗi buổi sáng trước khi thay áo quần, đốt nhang và ngồi thiền.

• Đi ngủ đúng giờ mỗi ngày. Ăn đúng giờ. Ăn vừa đủ, không bao giờ đến mức thỏa mãn.

• Tiếp khách với thái độ y như lúc chỉ một mình. Lúc một mình, giữ thái độ y như lúc tiếp khách.

• Cẩn trọng trong lời nói, và nói điều gì thì thực hành điều ấy.

• Khi cơ hội đến, đừng để nó vuột mất, nhưng luôn luôn suy nghĩ hai lần trước khi hành động.

• Đừng ân hận về dĩ vãng. Nhìn về tương lai.

• Có thái độ không biết sợ của một anh hùng và quả tim yêu ái của một em bé.

• Khi đi ngủ, ngủ như là giấc ngủ cuối trong đời. Khi thức dậy, rời khỏi giường tức thì như là vất đi một đôi giày cũ.

Bình:

• Soyen Shaku (釈 宗演, 1859 – 29.10.1919, sinh ở Kamakura, Japan, là thiền sư đầu tiên giảng thuyết ở Mỹ. Thiền sư là Lão Sư (Roshi) của dòng thiền Lâm Tế và là sư trưởng của cả hai chùa Kencho và Engaky ở Kamakura. Shaku là đệ tử của Imakita Kosen và có một đệ tử rất nổi tiếng trong việc mang Phật học và Thiền học đến phương Tây – D.T. Suzuki.

• “Tim tôi cháy như lửa nhưng mắt tôi lạnh như tro chết.” Câu này ý chỉ người tình cảm nồng nàn nhưng ngoài mặt thì lạnh lùng? Shaku nhìn bên ngoài lạnh lùng thật.

Hay muốn nói, những cái thấy được bên ngoài (danh sắc) không ảnh hưởng tôi, nhưng từ ái thì mạnh mẽ trong tôi?

Dù sao đi nữa thì, nói rằng “tim tôi cháy như lửa” nghe cũng hơi xa lạ với Phật gia, vì Niết Bàn (Nirvana) có nghĩa là “lửa đã tắt.”

Các bài giảng của Soyen Shaku ở Mỹ được SuzukI dịch sang Anh ngữ trong quyển Sermons of a Buddhist abbot: addresses on religious subjects

• Tám qui luật sống hàng ngày của Shaku:

1. “Mỗi buổi sáng trước khi thay đồ, đốt nhang và ngồi thiền.” Vài phút tĩnh lặng hoặc cầu nguyện sẽ giúp mở đầu tâm tĩnh lặng cho một ngày.

2. “Đi ngủ đúng giờ mỗi ngày. Ăn đúng giờ. Ăn vừa đủ, không bao giờ đến mức thỏa mãn.” Các bác sĩ ngày nay cũng khuyên thế.

3. “Tiếp khách với thái độ y như lúc chỉ một mình. Lúc một mình, giữ thái độ y như lúc tiếp khách.” Khi có khách thì thành thật (như với chính mình lúc một mình), khi một mình thì nghiêm chỉnh (với chính mình như đang trước mặt khách).

4. “Cẩn trọng trong lời nói, và nói điều gì thì thực hành điều ấy.” Để lời nói đáng tin. Thực hành điều mình nói. Chứ không phải “Hãy nghe điều tôi nói, đừng làm điều tôi làm.” Thầy đạo đức giả và dối trá thời nào cũng nhiều.

5. “Khi cơ hội đến, đừng để nó vuột mất, nhưng luôn luôn suy nghĩ hai lần trước khi hành động.” Cơ hội đến không chịu nắm lấy mà hành động, rồi lại trách trời chẳng thương tôi!

6. “Đừng ân hận về dĩ vãng. Nhìn về tương lai.” Đã làm điều gì lầm lỗi thì cũng đừng ngồi đó tự lấy búa gõ đầu hoài. Chấp nhân đó là lỗi lầm của mình, rồi đứng dậy và hăng hái đi về hướng tương lai.

7. “Có thái độ không biết sợ của một anh hùng và quả tim yêu ái của một em bé.” Anh hùng với tấm lòng yêu ái và trong sáng.

8. “Khi đi ngủ, ngủ như là giấc ngủ cuối trong đời. Khi thức dậy, rời khỏi giường tức thì như là vất đi một đôi giày cũ.” Không lo lắng suy tư đủ mọi thứ khi đi ngủ. Thức dậy thì hoạt động ngay.

Nhưng… xem ra thiền sư chưa biết thú nằm nướng 🙂 nhất là vào các ngày cuối tuần và nghỉ lễ. 🙂

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

My Heart Burns Like Fire

Soyen Shaku, the first Zen teacher to come to America, said: “My heart burns like fire but my eyes are as cold as dead ashes.” He made the following rules which he practiced every day of his life.

* In the morning before dressing, light incense and meditate.

* Retire at a regular hour. Partake of food at regular intervals. Eat with moderation and never to the point of satisfaction.

* Receive a guest with the same attitude you have when alone. When alone, maintain the same attitude you have in receiving guests.

* Watch what you say, and whatever you say, practice it.

* When an opportunity comes do not let it pass you by, yet always think twice before acting.

* Do not regret the past. Look to the future.

* Have the fearless attitude of a hero and the loving heart of a child.

* Upon retiring, sleep as if you had entered your last sleep. Upon awakening, leave your bed behind you instantly as if you had cast away a pair of old shoes.

# 22