Triết lý Việt – Quả Dưa Hấu

Chào các bạn,

Mình viết bài này 32 năm về trước, nhân dịp Tết năm Bính Dần 1986, cho Hoa Thịnh Đốn Việt Báo ở Washington. Nay nhân dịp Tết đến, post lại đây chia sẻ với các bạn chuyện dưa hấu.

Chúc các bạn năm mới may mắn đỏ thắm như ruột dưa hấu

Hoành
___________

Triết lý Việt — Quả Dưa Hấu

I. Chính truyện (*)

Ngày xưa, đời Hùng Vương có một người tên Mai An Tiêm, người ngoại quốc, mới được bảy tuổi, do thuyền buôn chở đến. Vương mua về làm đầy tớ, kịp lúc lớn lên thì diện mạo đoan chính, nhớ biết nhiều việc.

Vương đặt tên là Yển, tên chữ là An Tiêm, và cho một người thiếp, sinh được một trai, Vương yêu dùng để sai bảo, dần dần Yển thành thành phú quý, ai cũng uy phục, và chen nhau đến dâng lễ vật không thức gì là không có; Yển sinh ra kiêu mạn, thường tự bảo rằng:

– Của cải này là vật tiền thân của ta, ta không từng trông nhờ vào ơn chúa.

Hùng Vương nghe được, cả giận nói rằng:

– Làm thần tử mà nó không biết ơn chúa, sinh ra kiêu mạn, nói rằng của cải đều là vật tiền thân của nó. Bây giờ ta đem bỏ nó ra ngoài biển, ra cái chỗ không người ấy coi thử nó còn cái vật tiền thân của nó nữa hay không?

Bèn đày Mai Yển ra ngoài bãi cát cửa biển Nga Sơn từ phía không có dấu chân người đi đến, chỉ để cho lương thực đủ dùng trong bốn năm tháng mà thôi, ăn hết là chết đói. Chị vợ khóc ầm lên, bảo rằng ta chắc chết ở đây không lý‎ gì sống được.

Tiêm nói:

– Trời đã sinh thì trời phải dưỡng, có lạ gì?

Ở chưa được bao lâu, đương lúc tháng tư, bỗng thấy có một con bạch hạc từ phương tây bay lại, đậu lên một mõm núi cao, kêu lên ba bốn tiếng thì sáu bảy hạt dưa rơi trên mặt cát, đâm chồi nẩy lộc, lan trên cát, xanh tốt rườm rà, rồi kết thành trái dưa, nhiều không kể xiết.

An Tiêm mừng rỡ nói:

– Đây đâu phải là quái vật, đó là trời cho để ta nuôi đó.

Bổ dưa ra ăn thì mùi vị thơm tho ngọt ngào, ăn vào thì tinh thần khỏe khoắn, rồi cứ mỗi năm tỉa thêm, ăn không hết thì đem đổi lấy lúa gạo nuôi vợ con. Nhưng không biết dưa ấy tên là gì mới nhân chim tha từ phương tây đem đến nên đặt là Tây Qua.

Những khách chài lưới, buôn bán, ưa mùi vị của nó đều đem phẩm vật của mình để đổi lấy dưa. Nhân dân xa gần, trên rừng dưới bến tranh nhau mua hạt, bắt chước trồng tỉa khắp bốn phương; dân gian suy tôn An Tiêm làm “Tây qua phụ mẫu”.

Lâu ngày, Vương nhớ đến An Tiêm, sai người đến chỗ An Tiêm ở hỏi thăm có còn sống hay không. Người ấy về tâu lại với Vương. Vương than thở hồi lâu mới nói rằng:

maiantiem8
– Nó bảo là vật tiền thân của nó, thực là không nói dối vậy.

Vương bèn triệu An Tiêm về, trả quan chức lại và cho tỳ thiếp, đặt tên chỗ An Tiêm ở là “An Tiêm Sa Châu”; thôn ấy gọi là Mai An, đến nay còn lấy tây qua tôn phụng tổ khảo mà tế tự, là khởi tự An Tiêm vậy.

II. Triết lý‎ tiềm ẩn

Huyền thoại dưa hấu có thể hiểu trên cả hai mặt, ý thức và tiềm thức. Tác giả không chú trọng nhiều vào phân phân tích ý thức bằng phân tích tiềm thức. Ý thức của huyền thoại là ‎ý thức của tác giả huyền thoại, đa số là lớp sĩ phu, học cao hiểu rộng. Tiềm thức huyền thoại là những suy tư ước muốn của đám dân gian quê mùa biểu lộ qua những say mê về hình ảnh của huyền thoại. (Xem bài “Phù Đổng: Triết Lý Chính Trị Dân tộc, Hoa Thịnh Đốn Việt Báo, số 31, ngày 15 tháng 11 năm 1985). Đi tìm tiềm thức của huyền thoại tức là đi tìm tâm lý cội rễ của nhân dân Việt Nam, tức là đi tìm con người Việt Nam thực sự. Dĩ nhiên, phần ý‎ thức huyền thoại nhiều khi giúp cho người phân tích nhiều mấu chốt để phăng ra tiềm thức. Đôi khi tiềm thức và ý thức là một cũng không biết chừng.

Trong phần sau đây, tác giả bàn về hai điểm chính. Thứ nhất, nhũng nhận xét sơ lược. Những nhận xét sơ lược này phần lớn chỉ là phân tích ‎ý thức, và không là điểm chính của bài này. Tuy nhiên, tác giả cũng nhắc qua, gọi là gợi ý. Trong phần hai, tác giả bàn về triết lý thầm lặng. Phần triết lý thầm lặng nhắm vào phân tích tâm lý, tìm hiểu tiềm thức đám bàng dân Việt Nam.

    1. Nhận xét sơ lược

Những nhận xét sơ lược sau đây nhằm vào ý‎ thức của tác giả huyền thoại, dầu vẫn có vài phân tích tiềm thức lẫn vào. Nhiều dấu vết ‎ý thức còn rõ ràng như hai với hai là bốn; vài điểm khác mù mờ hơn. Vì phần này chỉ nhằm mục đích gợi ý, tác giả sẽ không bàn sâu về mỗi chi tiết.

* Trước hết, câu chuyện rõ ràng nói đến truyền thuyết nhân quả của nhà Phật du nhập vào Việt Nam. Những gì con người trải qua kiếp này chỉ là hậu quả của việc làm kiếp trước. Thuyết nhân quả khi mới qua Việt Nam bị dân Việt Nam nghi ngờ, chống đối, như Hùng Vương đày An Tiêm ra hoang đảo. Sau đó, thuyết nhân quả dần dần chứng minh được sức mạnh của nó, biểu hiện bằng mức thành công của An Tiêm ngoài hải đảo. Dần dần được dân Việt Nam ưa chuộng, biểu hiện bằng việc vua rước An Tiêm về.

Vài chi tiết khác nói rõ về nguồn gốc của thuyết nhân quả. Chim hạc trắng từ phương tây mang hạt dưa đến chỗ An Tiêm. An Tiêm là người theo thuyết nhân quả, mà hạc trắng lại đến từ hướng tây, nghĩa là thuyết nhân quả (theo An Tiêm tới cùng) đến từ hướng tây Việt Nam. Ta biết, thuyết nhân quả phát sinh từ Phật giáo ở Ấn Độ, mà Ấn Độ ở phía tây Việt Nam.
HacTrang
An Tiêm lại là người ngoại quốc. Phải chăng An Tiêm là biểu hiện của sứ giả nền văn minh Ấn Độ? Trái dưa hấu lại gọi là trái Tây Qua. Rõ ràng là tác giả nhấn mạnh hướng tây, hướng Ấn Độ.

* Nhưng tại sao lại là hạc trắng? Trên phương diện luận lý, chim đưa hạt đến hoang đảo là dễ hiểu nhất. Chẳng lẽ cá lại mang hạt từ biển lên, hay ngựa chạy trên mặt biển mang hạt vào? Trên phương diện phân tâm, chim là vật tổ của dân Việt Nam. Nói mang máng, chim là tên họ của dân Việt. Ta thấy chim đầy dẫy trong văn hóa Việt Nam, từ hải âu (Âu Cơ) đến vịt trời (Vụ Tiên), đến ngỗng (Hồng Bàng). Nói rõ hơn,chim là họ mẹ. Người Việt ta ảnh hưởng mẹ rất nặng nề (Sẽ bàn đến trong một dịp khác). Hạc trắng vì màu trắng là màu tinh khiết, thanh cao. Chim hạc dịu dàng, khiêm kính, có thể bay đến cõi trời. Chim hạc lại ẻo lả, yếu đuối, gần giống như con cò, như mẹ Việt Nam.

“Con cò lặn lội bờ ao
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”

Trong truyện lại nói đến An Tiêm được dân gian suy tôn làm “Tây Qua phụ mẫu”. An Tiêm là đàn ông thì “phụ” (“bố”) được rồi, tại sao lại “phụ mẫu” (“bố mẹ”)? Cũng như tại sao Phùng Hưng được dân gọi là “Bố Cái Đại Vương”? Ta thấy ảnh hưởng của người mẹ mạnh mẽ đến nỗi mẹ luôn luôn đi kèm với bố, dầu trên thực tế người đàn ông chỉ nên gọi là “bố” mà thôi. Hơn nữa bố mẹ luôn luôn đi đôi còn tỏ được tinh thần bình đẳng nam nữ trong văn hóa Việt Nam cổ điển. Tiếc rằng, nhiều ngàn năm sau con cháu Việt Nam chạy theo Tàu, rồi chạy theo Tây, đâm ra khinh nữ trọng nam.

* An Tiêm người ngoại quốc mà lại được Hùng Vương sủng ái. Thế là tinh thần hài hòa đa dung của người Việt đã đến độ thượng thừa. Tinh thần đa dung hài hòa này làm cho người Việt sẵn sàng du nhập những cái hay từ văn hóa nước ngoài, từ Phật giáo ở Ấn Độ, đến Lão giáo, Khổng giáo ở Trung Quốc, đến các triết lý gần đây từ Âu Mỹ. Tinh thần đa dung này mạnh đến nỗi, nếu để ý, ta phải ngạc nhiên. An Tiêm là gốc ngoại quốc, mà ngày nay dân ta luôn luôn coi An Tiêm là người Việt và quả dưa hấu đã thành một biểu tượng rất quan trọng trong văn hóa Việt Nam. Rõ ràng là dân ta chẳng bao giờ nề hà văn hóa nước ngoài cả.

Vì vậy, dầu ta hãnh diện về nền văn hóa Việt Nam, cũng cần để ý đến tính đa dung hài hòa của dân ta, để đừng cố chấp, cho rằng văn hóa Pháp, văn hóa Mỹ, v.v… chỉ là văn hóa ngoại lai. Văn hóa Việt Nam là văn hóa tổng hợp. Nếu ta cứ khư khư cố chấp, ếch ngồi đáy giếng xem trời bằng vung, không những ta không bao giờ tiến bộ, mà còn đi ngược lại bản tính đa dung hài hòa Việt Nam.
hài hòa
* Trong truyện An Tiêm còn nói, “Trời đã sinh thì trời dưỡng, có lo gì?” Triết lý thiên định này khác với thuyết nhân quả. Hơn nữa, thuyết thiên định còn có vẻ ngược với thuyết nhân quả.

Theo thuyết nhân quả, mọi sự đều do người. Kiếp này làm phúc, khiếp sau hưởng nhàn.

Thuyết thiên định, tương tự như quan niệm số mệnh của Nho giáo, cho rằng mọi sự đều do trời định. Ở xứ ta “học tài thi phận” hay là “số giàu đem đến dửng dưng, lọ là con mắt tráo trưng mới giàu”. Đời sống cực khổ, vô hy vọng của dân ta làm thuyết thiên định trở nên hấp dẫn.

Ta thấy ở đây hai thuyết có vẽ nghịch nhau (chưa hẳn là nghịch nhau hoàn toàn) đều nằm chung trong câu chuyện một cách hòa bình. Đó là tinh thần Việt Nam hài hòa. (Các độc giả muốn đọc thêm về thuyết thiên định trong văn hóa Việt Nam, xin đọc Truyền Thống Dân Tộc, của Lê Văn Siêu, tr. 51-63 Sống Mới (19??).

* Ngoài những điểm kể trên, tác giả mạn phép được nhắc lại ý kiến của giáo sư Kim Định: “Đây là muốn cụ thể vào một việc cho rõ đạo tự cường tự lực. Tuy đã nhiệm mầu Phật nhưng cũng còn cậy vào công cũ, nên vẫn giữ được vẻ tự cường tự lực của nhân thoại”. (Kinh Hùng Khải Triết, tr. 194). Thế nghĩa là An Tiêm là biểu hiện của dân Việt Nam tự lực tự cường, dầu có lâm vào đường cùng vẫn có thể tự lực cánh sinh để trở thành hùng mạnh. Hơn nữa, công lao tự lực của thời trước vẫn luôn sinh hoa trái cho kẻ thời sau.

Ta thấy ở đây ý chí tự lực, thuyết thiên định, và thuyết nhân quả phối hợp với nhau một cách kỳ dị, và trở thành cái ta gọi là văn hóa Việt Nam. Sản phẩm cuối cùng thật là phức tạp khó hiểu. Nhưng, có tổng hợp nào ở đời lại quá giản dị đâu?
humbleness

    2. Triết lý thầm lặng

* Điểm hấp dẫn hơn hết và là trọng tâm của câu truyện là quả dưa hấu. Ta thấy những nhận xét trên đây đều chẳng liên hệ gì đến quả dưa. Nếu vậy thì quả dưa chẳng là tiểu tiết lắm sao?

Nhưng tại sao lại là dưa hấu mà không là những quả khác? Ta thấy rõ ràng là dưa hấu giữ một vai trò quan trọng trong văn hóa Việt Nam. Ngày lễ quan trọng nhất trong năm, Tết Nguyên Đán, là phải có dưa hấu.

Nhưng xét trên thực tế, ta chẳng thấy lý do nào để dưa hấu trở thành quan trọng. Tháng Tết vẫn là tháng lạnh, dưa hấu chẳng có gì hấp dẫn như giữa mùa hè. Nếu Tết nằm giữa mùa hè, và vì quá nóng, dưa hấu trở thành quan trọng, lâu năm trở thành biểu tượng văn hóa, thì dễ hiểu hơn.

Về kinh tế, dưa hấu chỉ làm cho người ta hết khát, chứ không làm cho người ta no thế cơm. Mà Việt Nam lại không là sa mạc, nước quý như vàng. Nghĩa là dưa hấu chẳng quan trọng gì cho kinh tế hàng ngày cả. Hơn nữa, dưa hấu không giữ được lâu, nghĩa là bán buôn khó khăn, không có lời. Bán trễ một tí là chỉ có nước mang đi đổ. Vì vậy, người ta không thể xuất cảng dưa hấu ra ngoài, nhất là vào thời chưa có máy móc xe cộ. Do đó, dưa hấu không quan trọng cho đời sống kinh tế nhân dân.

Về mùi vị thì dưa hấu khá ngon. Nhưng so với các loại trái cây khác thì chẳng thể nào dưa hấu đứng được hàng đầu. Việt Nam thiếu gì trái cây thơm ngon, đẹp đẻ, mùi vị hấp dẫn. Dưa hấu cũng chỉ là một trong những số trái ngon mà thôi. Thế thì l‎ý do gì làm dưa hấu trở thành quan trọng?

Nguyễn Trọng Thuật trong Quả Dưa Đỏ và Nguyễn Lang trong Văn Lang Dị Sử, có nói đến hạt dưa đen nhánh như răng các cô thiếu nữ. (A, các cô thiếu nữ ngày nay, đừng vội cười. Ngày xửa ngày xưa, răng càng đen càng đẹp đấy nhé). Nhưng hạt dưa đẹp như răng của mấy cô cũng không thể nâng quả dưa lên hàng quan trọng. Cùng lắm cũng chỉ như hạt lựu so với răng các cô thời nay.

Nhìn kỹ lại dưa hấu ta thấy gì khác với các loại trái cây khác?

Trước hết là vỏ dưa xanh. Non cũng xanh, chín cũng xanh, lạt cũng xanh, ngọt cũng xanh. Đa số các trái cây khác khi chín đổi màu vàng hay đỏ, nhìn là biết ngay. Dưa hấu chín vẫn âm thầm lặng lẽ, khó mà biết được. Đây là điểm âm thầm thứ nhất.

Một vài trái cây khác khi chín vẫn mang màu xanh, như trái mít chẳng hạn. Nhưng những trái xanh khác khi chín lại bốc mùi thơm hấp dẫn. Dưa hấu chín vẫn âm thầm, chẳng khoe khoang hương vị. Đây là điểm âm thầm thứ hai.

Tóm lại, dưa hấu luôn luôn âm thầm, không lộ cái hay cái đẹp của mình ra ngoài bằng màu sắc hay mùi vị. Nhưng nếu người ta bổ ra thì bên trong thế nào? A! Màu đỏ. Màu của con tim, của tình yêu, của nhiệt huyết, của cả tấm lòng trung can tiết nghĩa. Mấy trái cây Việt Nam có bên trong đẹp hồng như dưa hấu? Không những chỉ có màu sắc, mà còn ngọt ngào mát mẻ. Nghĩa là đẹp cả hình thức lẫn nội dung.

Như vậy, dưa hấu là biểu tượng của con người tâm huyết trung nghĩa vẹn toàn. Nhưng con người đó âm thầm khiêm tốn, không hề tỏ lộ tấm lòng ra ngoài bao giờ. Khi người khác bổ ra, tìm hiểu lòng mình, họ mới thổ lộ chân tình.
dua-hau
Xanh vỏ, đỏ lòng.

Chính vì biểu tượng trung nghĩa âm thầm đó, mà dân Việt Nam say mê ưa chuộng quả dưa hấu, và dưa hấu được dùng đến trong mỗi đầu năm. Dân Việt Nam ưa chuộng thầm lặng và khiêm tốn trong lòng.

* Một điểm khác trong chính truyện làm sáng tỏ thêm một tí triết lý thầm lặng.

Trong truyện nói đến đời Hùng Vương mà không nói là đời thứ mấy. Nguyễn Lang trong quyển Văn Lang Dị Sử cho là đời Hùng Vương thứ 3 (tr. 130, in lần ba, Lá Bối, 1982). Nguyễn Trọng Thuật trong Quả Dưa Đỏ cho là đời Hùng Vương thứ 17 (tr.11).

Trên phương diện triết lý, đời 17 có lý hơn đời thứ 3. Theo Dịch học (mà người Việt ta nếu không là một trong những tác giả, thì cũng sử dụng rất nhiều), số 3 là con số thái dương, con số của thời huy hoàng cực thịnh. Số 17 là tổng số của 10 và 7. Số 10 là số thái cực, trung dung, vô thưởng vô phạt. Số 7 là số dương suy, thời đi xuống. Đời 17 là đời kế đời Hùng Vương cuối cùng. Đời vua 18 bị Thục Phán xâm chiếm.

Mà Hùng Vương trong truyện này có vẻ là vua của thời đi xuống. Vua nuôi An Tiêm, thương như con, nhưng khi nghe An Tiêm nói tin vào tiền thân, có vẻ như phụ ơn vua, là vua đùng đùng nổi giận đày ra hoang đảo. Người làm việc phúc đức sao lại bắt người ta mang ơn của mình hoài, nếu người ta tỏ vẻ như là vô ơn thì mang ra phạt? Thế là kẻ phúc đức hay kẻ háo danh? Thế là kẻ khiêm tốn hay “cái tôi lớn như quả núi”?

Hùng Vương trong truyện có thể là biểu hiện của sức đối kháng của dân Việt với văn hóa Phật giáo thời đó. Nhưng cũng có thể là biểu hiện của “cái tôi” quá lớn. Cũng may mà Hùng Vương vẫn còn thấy được An Tiêm có lý vào lúc cuối truyện.

“Cái tôi” to lớn của Hùng Vương đặt kế tính khiêm nhường âm thần của quả hưa hấu, làm nổi bật vai trò quan trọng của quả dưa. Âm thầm khiêm tốn và trung nghĩa trong lòng là vốn liếng của cái làm cho An Tiêm giàu có, và chinh phục được “cái tôi” to lớn của Hùng Vương.
khiêm tốn phục vụ
Như vậy, dân Việt ta vì yêu chuộng thầm lặng khiêm tốn mà thành ra yêu chuộng dưa hấu, và đưa dưa hấu lên hàng đầu trong văn hóa Việt Nam. Dĩ nhiên, không phải là mỗi người Việt đều “thấy” mối liên hệ giữa dưa hấu và tính khiêm tốn, vì “thấy” là ý thức, mà ta đang phân tích tiềm thức dân tộc. Nhưng làm sao ta biết là ta phân tích đúng hay sai? Thưa, ta đem so sánh lời phân tích của ta với các câu truyện khác rõ ràng hơn về tính thầm lặng mà dân Việt Nam ưa chuộng, như Con Tấm Con Cám, Thạch Sanh Lý Thông. Tính thầm lặng là một trong những đặc tính tâm l‎ý của dân Việt, mà ta phải để ý trong những lúc thực hành.

III. Kết luận

Thầm lặng là một cái gì thật giản dị, thật dễ hiểu. Nhưng khi áp dụng, thầm lặng đòi hỏi ta phải kiên nhẫn và tự kỷ luật cao độ. Kiên nhẫn để bỏ sức ra làm việc chậm chạp và mệt nhọc bằng năm bằng mười lần hô hào bắc loa to lớn. Kiên nhẫn để khỏi nóng nảy áy náy là con đường mình đi sao quá chậm. Tự kỷ luật để mình có thể chống lại hào quang của những tràng pháo tay, những lời xưng tụng. Ôi! Hào quang sao đẹp đẽ thế mà có sức hủy diệt nhân tài!

Trần Đình Hoành
____________________

Chú thích: (*) Phần chính truyện trích nguyên văn từ phần Chính Kinh của quyển Kinh Hùng Khải Triết do giáo sư Kim Định viết.

Theo giáo sư Kim Định, “Kinh Hùng là 15 truyện đầu trong quyển Lĩnh nam Trích Quái theo bản VHv 1473 là bản Phạm Quỳnh đã theo và Lê Hữu Mục đã dịch… Ở đây chúng tôi chỉ dùng bản dịch của họ Lê sau khi đã sửa vài ba chỗ sai (chắc vì vô tình) hoặc quá xa bản chính, nhưng nói chung đã đủ cho phương diện triết lý”. Xem K.H.K.T. tr. 151 (Thanh Niên Quốc Gia xuất bản, 198?).

Bản chính truyện này gần giống hoàn toàn với bản chính truyện Nguyễn Trọng Thuật đã dùng trong Quả Dưa Đỏ, tr. 6-7 (Sống Mới, 1955).

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s