Nghe Cha thì thầm

Chào các bạn,

Hôm qua trong bài Niêm hoa vi tiếu, chúng ta đã nói về truyền thống Phật gia không bám vào chữ nghĩa, nhìn thẳng tâm thật của mình để nắm được bản tánh Phật của mình. Hôm nay chúng ta nói đến vấn đề bám vào chữ nghĩa trong truyền thống Thiên Chúa giáo – gồm Do thái giáo, các nhánh Kitô giáo (Công giáo, Chính thống giáo, Tin lành) và Hồi giáo.

Truyền thống Thiên chúa giáo này còn có tên là truyền thống Áp-bra-ham (Abrahamic tradition), lấy tên của Abraham, tổ phụ của dân Do thái, hoặc còn gọi là truyền thống Mô-sê (Mosaic tradition), lấy tên của Moses, lãnh đạo và là tiên tri lớn của dân Do thái.

Trong khi Phật gia và các truyền thống triết lý Đông phương luôn nhấn mạnh không bám vào chữ nghĩa, thì truyền thống Thiên chúa giáo nhấn mạnh vào gắn chặt đến từng lời từng chữ trong Thánh kinh vì đó là lời Chúa. Dù con người viết Thánh kinh, Thánh kinh đều là lời Chúa vì do chính Chúa mặc khải (tiết lộ, reveal), bằng nhiều cách khác nhau. Cho nên, trong truyền thống Thiên chúa giáo, học từng chữ từng lời trong Thánh kinh là cực kỳ quan trọng.

Truyền thống này có thể lần ngược lại bắt đầu từ Cựu ước của Thánh kinh, tức là ít nhất khoảng 1500 năm trước công nguyên. Trong chương đầu tiên của Cựu ước, Thượng đế tạo vũ trụ chỉ bằng lời nói, như là “Hãy có ánh sáng” thì liền có ánh sáng.  Chính vì thế mà lời nói, word, rất quan trọng trong truyền thống Thánh kinh.  Trong Tân ước, tức là từ Chúa Giêsu về sau, sách Tin Mừng của John gọi Chúa Giêsu là “the Word”, tiếng Việt dịch là Ngôi Lời, tức là Lời Thượng đế, hay Thượng đế Ngôi Lời, qua đó mà mọi sự được tạo thành như trong Cựu ước đã nói.  Hiểu những điều này thì ta hiểu được văn tự (chữ nghĩa) quan trọng thế nào trong truyền thống Thánh kinh.

Văn hóa bám vào từng chữ trong Thánh kinh này cũng trở thành văn hóa chung của triết lý Âu Mỹ, chẻ từng chữ ra làm 4 làm 10 để lý luận.

Đương nhiên là bám cứng vào chữ nghĩa rất dễ đưa đến sai lầm, như tình trạng ta thường thấy trong xã hội: dùng chữ nghĩa của luật pháp để áp bức nhau mà không cần biết công bằng, công lý, nhân ái là gì.

Trước khi phân tích thêm, chúng ta cần nhớ lịch sử rằng trong khi Phật giáo nói chung là một tôn giáo hòa bình, thì máu đã đổ đầy trái đất với các cuộc chiến và thanh trừng đẫm máu của các nhánh Thiên chúa giáo từ thời lập quốc của Do thái, đến Thời kỳ Đen tối (the Dark Age) của Châu Âu khi giáo hội thống trị Châu Âu, đến Thời đại Ánh sáng (Age of Enlightenment) của Châu Âu bắt đầu từ thế kỷ 17 (nhưng Thời đại Ánh sáng của Âu Châu là Thời Thuộc Địa đen tối của nhiều dân tộc trên thế giới bị các nước Châu Âu xâm chiếm và thống trị), đến mọi cuộc chiến tranh tôn giáo, kể cả chiến tranh khủng bố, ở Trung Đông, Châu Phi, và các mạng khủng bố quốc tế ngày nay.

Đương nhiên đó là hậu quả một phần lớn của “bám vào từng chữ trong Thánh kinh”. Hai người hiểu một từ trong Thánh kinh khác nhau, và đó là chuyện đương nhiên của con người, thì có thể giết nhau vì “thằng kia là Satan, là kẻ chống Chúa”.

Chúa thì thông thái, con người thì ngu si. Ngu thì giết nhau, nhưng đừng đổ thừa cho Chúa và Satan.

Và đương nhiên là với thái độ bám chữ đó, người ta hiểu zero về Chúa Giêsu. Một trong những lý do chính Chúa Giêsu bị xử tử là chống giai cấp lãnh đạo Do thái (Saducees và Pharisees) dùng Thánh kinh và giáo luật để sống đạo đức giả và áp bức người dân:

Bấy giờ, Giêsu nói với dân chúng và các môn đệ rằng: “Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy… [Nhưng] những việc họ làm, thì đừng làm theo, vì họ nói mà không làm. Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào. Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cao nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội trường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là ‘thầy'”. (Matthew 23:1-7).

Chúa Giê-su làm nhiều điều để phá bỏ rất nhiều luật lệ bám chữ của Do thái, như chữa bệnh trong ngày Sa-bát (Sabbath, ngày thứ bảy, nay là Chúa nhật, là ngày không được làm việc), ăn uống với người thu thuế và người tội lỗi, để môn đệ ngắt lúa và ăn trong ngày Sa-bát, nói chuyện riêng với người phụ nữ Samaria…

Và đây là một câu chuyện thú vị và quan trọng: Giáo luật Do thái cấm người Do thái nói chuyện với người Samaria, được xem như dân ngoại đạo. Luật cũng cấm thầy giảng đạo nói chuyện riêng với phụ nữ. Chúa Giêsu đứng nói chuyện riêng với người phụ nữ Samaria bên cạnh bờ giếng vắng vẻ. Còn động trời hơn nữa, là trong buổi nói chuyện đó, Giêsu lần đầu tiên tiết lộ mình là Đấng Cứu Thế (Messiah, Christ) mà dân Do thái hằng mong đợi cả 800 năm. (John 4:26)

Nói chuyện với người phụ nữ này đã là phạm 2 giáo luật, lại còn tiết lộ cho người phụ nữ này danh tánh lớn nhất của mình – Đấng Cứu Thế – mà chưa ai hay biết, kể cả các môn đệ thân tín nhất.

Đương nhiên, đây là cách Giêsu cho thấy mình chống lại cách giáo luật đã được dùng rất phi lý và đạo đức giả để áp bức dân.

Cũng trong cuộc đối thoại thú vị với người phụ nữ này, Chúa Giêsu nói một câu mà chẳng mấy ai để ý: “Giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Cha trong Thánh linh và sự thật, vì Cha tìm kiếm những người thờ phượng như thế. Thượng đế là Thánh linh, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong Thánh linh và sự thật.” (John 4:23-24).

Thánh linh (Spirit) và sự thật (the truth) là những gì đứng sau câu chữ. Đó là điều chúng ta cần nhắm vào. Không phải là mặt chữ.

Thánh linh là Thượng đế, là sự thông thái của Thượng đế.

Sự thật là (1) sự thật về Thượng đế, những điều Thượng đế muốn, và là (2) sự thật trong lòng ta – không giả dối, dối trá.

Nhưng làm sao biết được Thánh Linh và sự thật?

“Rồi một cơn gió lớn và mãnh liệt xé rách núi và làm vỡ nát đá trước Chúa, nhưng Chúa không có trong gió. Sau cơn gió là trận động đất, nhưng Chúa không có trong động đất. Sau động đất lửa đến, nhưng Chúa không có trong lửa. Và sau lửa là tiếng thì thầm rất nhẹ.” (1 Kings 19:11-12).

Thượng đế nói chuyện với chúng ta bằng tiếng thì thầm rất nhẹ. (Và Thượng đế thường đến sau những cơn bão tố, động đất, hỏa hoạn của đời ta).

Và muốn nghe Thượng đế thì ta phải tĩnh lặng. Không tĩnh lặng thì không nghe được tiếng thì thầm rất nhẹ. Tức là lặng lẽ cầu nguyện cùng Thượng đế, với tâm tĩnh lặng.

Tĩnh lặng. Không giận dữ, không la hét, không khóc thét, không nổi đình nổi đám… để có thể nghe Thượng đế thì thầm rất nhẹ.

Và đương nhiên là lòng ta phải chân thật khi ta muốn lắng nghe Thượng đế. Đừng mưu toan dối người, lừa người, hại người, cướp của người, xâm lược người, mà hòng nghe được tiếng thì thầm của Thượng đế. Trò chuyện cùng Thượng đế luôn là một hoạt động của trái tim chân thật.

Tất cả những điều này có nghĩa gì?

– Trước hết, chữ nghĩa là chữ nghĩa. Chữ nghĩa luôn thiếu sót, mờ ảo, méo mó, vì bản chất của chữ nghĩa là thế. Dù có ghi lại lời của Thượng đế, thì lời đó cũng ghi bằng chữ. Lời đó khi ghi lại chỉ còn có âm thanh của chữ, nhưng mọi thứ đi theo lời đó – khung cảnh, cảm xúc, ước muốn, thời gian, dáng điệu, điều không nói ra, ý nghĩa chính xác – tất cả những thứ này đều không có, chỉ còn là một âm, mất hầu hết mọi thứ khác.

Cho nên bám vào chữ là bám vào một cái gì thiếu sót và méo mó. Rồi thêm cái hiểu chủ quan của ta về một chữ, rất có thể sai lạc hay, thường hơn nữa, là khác với cái hiểu của người khác.

Chữ có thể cần để học nhưng phải nắm được cái “thần” bên sau chữ, đừng dính vào chữ. Ở đâu trên thế giới và bất kì sách nào cũng vậy, chữ có thể cần để học, nhưng phải đọc xuyên chữ, đến cái “thần” bên sau chữ, như là đọc sách dạy đánh đàn, nhưng phải đánh đàn cho có hồn trong tiếng đàn, đó là 2 điều cực kỳ khác nhau.

(Người Tin lành giải quyết vấn đề chữ nghĩa bằng cách cho rằng Thánh kinh là 1 cuốn kinh cho mọi người, nhưng mỗi người, tùy theo cá tính và khả năng của họ, được Thánh linh mặc khải một cách khác nhau, cho nên mỗi người có thể hiểu Thánh kinh khác với những người khác, và người nào cũng đúng. Tư duy này chính là nguồn gốc của bản hiến pháp dân chủ đầu tiên trên thế giới – Hiến pháp Mỹ – một hiến pháp, nhưng nhiều cách hiểu khác nhau, sống chung hòa bình trong thể chế dân chủ).

Đọc Thánh kinh là để đọc xuyên chữ. Phải đi xuyên qua chữ, tìm đến Thánh Linh và sự thật, bằng cầu nguyện và tĩnh lặng, để nghe được tiếng thì thầm của Thượng đế.

– Và đừng quên, Thượng đế là Tình yêu. (1 John 4:8). Tiếng thì thầm của Thượng đế là tiếng thì thầm của Tình yêu.

Nếu bạn nghe Thượng đế bảo đi gây lộn, đánh nhau, hay xâm lược, có lẽ là bạn nên cầu nguyện lại kỹ hơn, lắng nghe lại kỹ hơn, để xem mình có nghe nhầm không. Điều này quan trọng, vì lịch sử đã và đang cho thấy con người đã từng nghe nhầm rất nhiều lần và máu đã đổ tràn ngập thế giới cả nghìn năm. Lỗi lầm nghìn năm này, chúng ta không thể không biết, chúng ta không thể quên.

– Cuối cùng, điểm quan trọng nhất cho người Kitô giáo là: Chúa Giêsu là trung tâm của Thánh kinh, là Sao Bắc Đẩu của Thánh kinh. Mọi hiểu biết và lý giải của Thánh kinh phải quy vào Chúa Giêsu: lý giải này, giải thích này, có phù hợp với cách sống, cách làm việc, cách suy tư, lời giảng dạy của Chúa Giêsu hay không?

Dùng tinh thần Giêsu để soi sáng Thánh kinh. Giêsu là trẻ thơ, yêu thương, và hèn mọn.

Trẻ thơ, yêu thương và hèn mọn. Đó là tinh thần Giêsu. Đó là cốt lõi Thánh kinh. Mọi giải thích Thánh kinh cần đưa đến cốt lõi này.

Hãy vững lòng tin, Thượng đế/Giêsu là Tình yêu, luôn có mặt bên ta, và sẽ thì thầm với ta, nếu ta tĩnh lặng và đầy tình yêu để nghe được cùng tần số.

Chúc các bạn đầy Tình yêu.

Dominus vobiscum.

Mến,

Hoành

© copyright 2017
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

5 thoughts on “Nghe Cha thì thầm”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s