Niêm hoa vi tiếu

Chào các bạn,

Niêm hoa vi tiếu là cầm hoa mỉm cười, nói đến truyện Đức Phật trên núi Linh Thiếu cầm bông hoa đưa lên, đại chúng ngơ ngác chẳng hiểu gì cả, duy chỉ có đại trưởng lão Ma-ha Ca-diếp mỉm cười. Đức Phật liền nói: “Ta có chính pháp vô thượng trao cho Ma-ha Ca-diếp. Ca-diếp là chỗ nương tựa lớn cho các thầy tì kheo, cũng như Như Lai là chỗ nương tựa cho tất cả chúng sinh.” (Kinh Niết Bàn).

Đó là khởi đầu của Thiền tông, với Ma-ha Ca-diếp là sơ tổ. Đến Bồ Đề Đạt Ma là tổ thứ 28 của Ấn Độ. Bồ Đề Đạt Ma qua Trung Hoa truyền Thiền và là sơ tổ của Thiền tông Trung Hoa. Tương truyền, Bồ Đề Đạt Ma để lại 4 câu thơ, được xem là tinh yếu của Thiền:

Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền
Trực chỉ chân tâm
Kiến tánh thành Phật

Tức là

Không lập lời và chữ
Truyền đặc biệt ngoài dạy học
Chỉ thẳng tâm thật
Thấy tánh thành Phật

Người ta thường nghĩ rằng hai câu đầu chỉ giới thiệu một cách giáo dục mới, nói ở 2 câu sau, đó là cách mà người ta gọi “truyền tâm ấn.”

Nhưng thực sự 2 câu đầu rất quan trọng. Tại sao lại không lập lời và chữ, mà lại truyền bên ngoài cách dạy học bình thường?

Bởi vì, điều này chúng ta đã nói trên ĐCN rất thường xuyên: Chữ nghĩa thường méo mó, thường là chẳng chuyển tải được gì chính xác, gây hiểu lầm, tranh cãi, đi lạc, và lạm dụng rất nhiều.

Chính vì vậy mà nhà Phật thường nói đừng chấp vào “danh sắc”. “Danh” là tên, là chữ nghĩa (mỗi chữ là tên của một điều). (Sắc là hình thù, đường nét, màu sắc thấy bằng mắt).

Chính Đức Phật còn cảnh báo: “Ta thuyết pháp 49 năm mà không nói một lời nào.”  Tức là bảo thiên hạ đừng bám vào chữ nào Phật nói.

Lão tử cũng nói trong Đạo Đức Kinh: Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh. Tức là: Đạo mà nói được là đạo thì không phải đạo vĩnh viễn, tên mà nói được là tên thì không là tên vĩnh viễn. Ý là, từ ngữ chẳng thể diễn tả được điều gì chính xác.

Các triết gia thường hiểu rất rõ hạn chế của chữ nghĩa, nhưng dù biết vậy, các triết gia Tây phương vẫn là chúa lý luận chi li, chẻ mỗi chữ ra làm 4 làm 10 để lý luận. Chính vì vậy mà triết lý Tây phương rốt cuộc chỉ là một chuỗi chơi chữ mấy ngàn năm, với hàng triệu ISM. Rất chán.

Và đương nhiên là luật sư, sống bằng lý luận và chữ nghĩa, hiểu giới hạn của chữ nghĩa hơn ai cả. Các luật sư thường diễn tả trò chơi chữ nghĩa thế này: Nếu hai anh A và anh B đánh nhau. Anh A chạy đến thuê tôi làm luật sư trước, thì tôi cãi cho anh A thắng. Nhưng nếu anh B chạy đến thuê tôi làm luật sư trước, thì tôi cãi cho anh B thắng. Tại sao cùng một bộ luật, cùng một vấn đề, mà có thể lý luận cho ai thắng cũng được? Bởi vì, chữ nghĩa luôn mờ ảo méo mó và người chơi trò chơi chữ nghĩa có thể bảo chữ nghĩa làm mọi thứ theo ý mình.

Chính vì vậy mà Thiền tông thuở trước lấy vô ngôn (không nói) làm chính. Khi Bồ Đề Đạt Ma mới đến Trung Hoa, gặp Lương Vũ Đế nổi tiếng là người mộ Phật, xây chùa, in sách, độ tăng rất nhiều, nói chuyện vài câu, thấy Lương Vũ Đế chẳng hiểu tinh yếu của Phật pháp gì cả, sư về động Thiếu Thất cạnh chùa Thiếu Lâm ngồi đối diện vách động 9 năm để Thiền, chẳng nói gì cả, cho đến khi gặp Huệ Khả chặt tay xin làm đệ tử.

Cho nên, cái im lặng của các Thiền sư chẳng phải vì không thích nói, mà biết là càng nói nhiều học trò càng dễ đi lạc. Đương nhiên là ngày nay chúng ta có thể thấy điều này kinh khủng hơn ngày xưa hàng triệu lần, với sách vở và Internet tràn ngập, chữ nghĩa như núi như non, và thiên hạ đi lạc hoặc cố tình xảo ngôn hơn xưa phải cả triệu lần.

Cho nên, im lặng, không nói, không lập văn tự, truyền ngoài dạy học bình thường là vậy.

Trực chỉ chân tâm là chỉ thẳng tâm thật của mình. Nói “chân tâm” (tâm thật) vì có “vọng tâm” (là tâm giả dối, không thật). Vọng là giả dối, như vọng ngữ là nói dối.

Vọng tâm là tâm bị đủ thứ rác trong đó mà người ta không biết là rác – tham, sân, si, kiêu căng, ghen ghét, tranh chấp, chụp giật, thèm muốn, kể cả kinh sách, giáo pháp, chữ nghĩa… Không biết mọi thứ là hư ảo, mà cứ tối ngày nhào vào cố lấy cho được. Đó là vọng tâm.

Chân tâm là tâm thật, tức là tâm nguyên thủy của ta, trong sáng, trí tuệ.

Trực chỉ chân tâm là nhìn xuyên qua đám rác, gạt rác ra một bên để nhìn thẳng vào trái tim nguyên thủy của ta – đầy yêu ái, đầy dịu dàng, đầy tình yêu với mọi người, với thế giới, đầy ao ước muốn làm thế giới đẹp hơn, yêu ái hơn, hòa bình hơn, đầy ao ước muốn mọi người là tiên là Phật. Trái tim nguyên thủy của ta dịu dàng như một hồ nước trong xanh để nghìn người trong thế gian rực lửa có thể xuống trầm mình tắm mát.

Nhìn được tâm thật của ta, nắm lấy tâm thật, tức là ta đã thấy tánh thật của ta, và ta thành Phật.

Nếu các bạn suy nghĩ một chút, có lẽ các bạn sẽ thấy ngay là thực hành này rất dễ. Chúng ta ai cũng đều đã từng thấy tâm thật của ta trong vài khoảng khắc ngắn ngủi – khi đó ta thấy ta hiền dịu và yêu thương cả thế giới này như Phật, như Chúa. Những khoảng khắc ngắn ngủi đó là một thoáng của tâm thật của ta.

Giờ ta chỉ cần tĩnh lặng, tập trung nhìn thẳng vào đó, để thấy tâm thật không chỉ trong 5 giây đồng hồ, và là thấy vĩnh viễn. Rồi nắm lấy tâm thật mình mà sống như một Bồ tát đầy từ tâm cho cả thế nhân.

Nhưng nhiều người vẫn thấy điều đó rất khó. Tại sao?

Nguyên do là vì họ không thực hiểu hai câu đầu của Bồ Đề Đạt Ma: Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền. Mọi người lệ thuộc quá nhiều vào chữ nghĩa trong đủ mọi loại kinh sách, và đủ mọi thứ chữ nghĩa trong đầu mình – tức là đủ thứ lý luận, suy tư, lý giải… về giáo pháp, về cuộc đời, về đúng sai, và về một triệu thứ khác. Nói chung là nhiều rác quá, mà không hiểu được mình cần phải loại bỏ tất cả mọi thứ rác trong đầu.

Chính vì vậy mà Thiền tông lấy ngồi Thiền làm chính, để đầu óc trống rỗng, chỉ tập trung vào hơi thở mà chẳng có chữ nào trong đầu. Mục đích là để đầu mình không có rác do chữ nghĩa hay suy tư tạo ra.

Nếu ta Thiền tĩnh lặng thì bớt được rất nhiều rác và thấy chân tâm mình dễ hơn rất nhiều.

Còn tốt hơn nữa là “rỗng lặng”, mà mình đã nói đến nhiều lần. Rỗng lặng không phải là không có gì trong đầu, mà có thể có rất nhiều thứ, nhưng mình chẳng bám vào thứ nào, và chẳng thứ nào thành rác phiền mình.

Thiền sư thấy hai người cãi nhau và đánh nhau. Thiền sư nghe và thấy hết câu chuyện. Hiểu câu chuyện cũng kha khá. Thiền sư suy tính nên làm gì. Đó là rất nhiều thứ trong đầu. Nhưng Thiền sư vẫn tĩnh lặng vì không bị bám vào đâu – không bám vào thái độ bắt nạt của thằng lớn con để mà ghét nó hay bực nó, không bám vào sự bất công của bắt nạt để mà nổi giận, không bám vào sự yếu đuối của thằng nhỏ con để cho là nó đúng thằng kia sai… Không có điều gì bám được vào Thiền sư. Thiền sư vẫn thấy mọi chuyện, vẫn suy tính, mà vẫn tĩnh lặng.

Nếu bạn có thể giữ cho bạn không bị bám vào điều gì, thì dù có gì trong đầu, kể cả một đầu văn tự, bạn vẫn có thể “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền”.

Không vượt qua được cửa ải “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền” này, thì e rằng “Trực chỉ chân tâm” sẽ rất khó, vì nhiều rác đầy đầu, chẳng thấy gì đâu mà trực chỉ. (Xem thêm truyện Thiền “Không nước, không trăng“).

Thấy được chân tâm ta sẽ mỉm cười như Ma-ha Ca-diếp. Niêm hoa vi tiếu.

Chúc các bạn nắm được tâm thật của mình.

Mến,

Hoành

Bài cùng chuỗi: Nghe Cha thì thầm

© copyright 2017
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

One thought on “Niêm hoa vi tiếu”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s