Giáo Sư Trần Văn Khê qua đời

Chào các bạn,

Mình vừa nhận được thông báo của anh chị Trần Quang Hải & Bạch Yến thông qua nhóm cựu sinh viên Đại Học Văn Khoa của Sài Gòn trước đây, Giáo Sư Trần Văn Khê đã mệnh chung sáng ngày 24 tháng 6 năm 2015 sau một cơn bạo bệnh.

Gia đình chúng mình xin thành kính phân ưu cùng anh chị Trần Quang Hải & Bạch Yến và toàn gia đình. Nguyện xin hương linh của Giáo Sư sớm được siêu sinh tịnh độ.

GS Trần Văn Khê là một cây đại thụ của nền Âm Nhạc Cổ Truyền Việt Nam. Sự ra đi của ông là một mất mát lớn lao chẳng những cho dân tộc Việt Nam nói riêng và còn cho kho tàng văn hóa thế giới nói chung.

Để tưởng niệm sự nghiệp một đời của Giáo Sư vì văn hóa dân tộc Việt Nam, mình có dưới đây bài giới thiệu về tiểu sử của ông, bài “Căn bệnh mãn tính của âm nhạc truyền thống Việt Nam” do Giáo Sư viết, bài phỏng vấn của phóng viên Trà Mi (Radio RFA) phỏng vấn GS: “Làm cách nào khơi dậy nền âm nhạc dân tộc Việt Nam”, 2 clips Giáo Sư nói chuyện với nhà báo Lê Quốc Vinh về Âm Nhạc Dân Tộc Việt Nam trong chương trình “Nói Ra Đừng Sợ”, và 1 clip Giáo Sư ngâm thơ & đàn tranh với sự phụ họa của con trai trưởng, Vua Muỗng VN Trần Quang Hải để chia sẻ cùng các bạn.

Nếu các bạn nghe clip cuối cùng, tức là clip Giáo Sư đánh đàn tranh, các bạn sẽ nhận ra Giáo Sư không chỉ là nhà nghiên cứu mà còn là một nghệ sĩ trình diễn đàn tranh có một không hai.

GS Trần Văn Khê và con trai NS Trần Quang Hải.
GS Trần Văn Khê và con trai NS Trần Quang Hải.

GS Trần Văn Khê (24 tháng 7 năm 1921 – 24 tháng 6 năm 2015) là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền nổi tiếng ở Việt Nam. Ông là tiến sĩ ngành âm nhạc học người Việt Nam đầu tiên tại Pháp và từng là giáo sư tại Đại học Sorbonne, Pháp, thành viên danh dự Hội đồng Âm nhạc Quốc tế, UNESCO. Ông là người có bề dày trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, có công trong quảng bá âm nhạc Việt Nam nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung ra thế giới.

GS Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, biết đàn những bản dễ như “Lưu Thuỷ”, “Bình Bán vắn”, “Kim Tiền”, “Long Hổ Hội”. Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng.

Ông mất mẹ năm 9 tuổi, mất cha năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Quái kiệt Trần Văn Trạch và Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện bão dưỡng.

Ông sang Pháp du học từ năm 1949. Hè năm 1951, ông thi đậu vào trường Chính trị Khoa giao dịch quốc tế. Cho đến năm 1958, ông theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Luận văn của ông có tên: “LaMusique vietnamienne traditionnelle” (Âm nhạc truyền thống Việt Nam).

GS Trần Văn Khê và con dâu trưởng, danh ca Bạch Yến.
GS Trần Văn Khê và con dâu trưởng, danh ca Bạch Yến.

Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies).

Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Sài Gòn 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.

Sau một thời gian bị bệnh, ông qua đời vào khoảng hai giờ sáng ngày 24 tháng 6 năm 2015 tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Sài Gòn.

Ông Trần Văn Khê có bốn người con: NS Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh hiện là kiến trúc sư ở TP Sài Gòn, Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris.

GS TS Trần Văn Khê.
GS Trần Văn Khê.

Giáo sư Trần Văn Khê là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc trong nước Pháp, Mỹ, Trung Hoa và trên trường quốc tế:

• Hội Nhà văn Pháp (Société des Gens de Lettres) (Pháp)
• Hội Âm nhạc học (Société Française de Musicologie) (Pháp)
• Hội Dân tộc Nhạc học Pháp (Société Française d’Ethnomusicologie) (Pháp)
• Hội Âm nhạc học Quốc tế (Société Internationale de Musicologie)
• Hội Dân tộc Nhạc học (Society for Ethnomusicology) (Mỹ)
• Hội Nhạc học Á châu (Society for Asian Music) (Mỹ)
• Hội Âm nhạc Á châu và Thái Bình Dương (Society for Asian and Pacific Music)
• Hội Quốc tế Giáo dục Âm nhạc (International Society for Music Education)
• Thành viên và chủ tịch hội đồng khoa học của Viện Quốc tế Nghiên cứu Âm nhạc với Phương pháp Đối chiếu (International Institute for Comparative Music Studies) (Đức)
• Hội đồng Quốc tế Âm nhạc truyền thống (International Council for Traditional Music) nguyên phó chủ tịch (Mỹ)
• Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (International Music Council/UNESCO), nguyên uỷ viên ban chấp hành, nguyên phó chủ tịch, đương kim Chung sanh hội trưởng danh dự (Pháp)
• Viện sĩ thông tấn, Hàn lâm viện Châu Âu, Khoa Học, Văn chương, Nghệ thuật…

Các giải thưởng:

• 1949: Giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại Liên hoan Thanh niên Budapest.
• Huy chương bội tinh hạng nhứt của chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
• Văn hoá bội tinh hạng nhứt của Bộ giáo dục Việt Nam Cộng hòa.
• 1975: Tiến sĩ âm nhạc danh dự (Docteur en musique, honoris causa) của Đại học Ottawa (Canada).
• 1981: Giải thưởng âm nhạc của UNESCO ở Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (Prix UNESCO – CIM de la Musique).
• 1991: Officier de l’Ordre des Arts et des Lettres, Ministère de la Culture et de l’Information du Gouvernement français (Huy chương về Nghệ thuật và Văn chương của Bộ Văn hoá Pháp).
• 1993: Cử vào Hàn lâm viện châu Âu về Khoa học, Văn chương, Nghệ thuật; viện sĩ thông tấn.
• 1998: Huy chương Vì Văn hoá Dân tộc của Bộ Văn hoá Việt Nam.
• 2005: Giải thưởng Đào Tấn do Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc trao tặng.
• 2011: Giải thưởng Phan Châu Trinh về nghiên cứu

Trần Lê Túy Phượng
(Theo Wikipedia)

GS Trần Văn Khê.
GS Trần Văn Khê.

Căn bệnh mãn tính của âm nhạc truyền thống Việt Nam

(GS Trần Văn Khê)

Trong bàn tròn âm nhạc của Giai điệu xanh, em Hữu Trịnh đã lên tiếng “báo động”, Giáo sư Ca Lê Thuần đã hưởng ứng và nêu lên sự kiện kinh tế thị trường, làm “nẩy nở chủ nghĩa thực dụng”, nhiều nơi đã coi “nghệ thuật là một phương tiện kinh doanh”, và đã đưa ra những đề nghị rất xác thực, hợp thời, hữu hiệu như “giáo dục thẩm mỹ, nghệ thuật”, “tạo môi trường âm nhạc lành mạnh”, “soạn lại chương trình giảng dạy âm nhạc”, “đào tạo đội ngũ kế thừa”, xem lại “chế độ, chánh sách ưu đãi học sinh học nhạc dận tộc, và nghệ nhân đang gìn giữ vốn âm nhạc dân tộc”. Nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan đã ưu tư vì “những em học nhạc dân tộc ra trường không thể sống bằng nghề”, đôi khi mệt mỏi vì tổ chức những buổi biểu diễn là muốn xây những chiếc “cầu nối để dẫn công chúng đến với âm nhạc dân tộc”, hao công tốn của mà vẫn phải “tự lực cánh sinh”, chưa có ai tiếp tay trong công việc đó. Còn nhiều ý kiến rất hay của những bạn khác, kể ra không xiết.

Để góp ý với các bạn, tôi xin đưa ra vài nhận xét về những nguyên nhân nào đã tạo ra một tình trạng đáng buồn của âm nhạc dân tộc trong xã hội Việt Nam ngày nay, và nếu biết rõ được con vi trùng hay siêu vì trùng nào gây ra căn bịnh, hoặc vì đâu âm dương trong cơ thể ta mất quân bình, thì chúng ta sẽ tìm những phương thuốc để trị bịnh đó.

Có lẽ, như các bạn vừa thấy, tôi vì “méo mó nghề nghiệp”, vừa là nhà dân tộc âm nhạc học mà có lúc học Y tại Hà nội, nên thấy tình trạng khó khăn của âm nhạc dân tộc như một “căn bịnh”. Bản chất của truyền thống âm nhạc Việt Nam rất vững chắc, sinh lực truyền thống rất dồi dào. Giá trị nghệ thuật rất cao. Tại sao lại bị chìm vào quên lãng? Như người đang khoẻ mạnh, bỗng kiệt sức, thì chỉ vì lâm bịnh.

Chẩn mạch xong, tôi thấy rất nhiều nguyên nhân, lịch sử, chánh trị, tâm lý, kinh tế, xã hội, từ rất lâu, đã làm cho dân tộc ta, nhứt là giới thanh niên lần lần đi xa âm nhạc dân tộc.

Nguyên nhân từ hơn một thế kỷ.

Trong lịch sử, từ hơn một trăm năm, nước Việt Nam mất chủ quyền. Chánh sách thuộc địa, tuy không cấm đoán chúng ta học tập hay biểu diễn âm nhạc dân tộc, nhưng người thống trị thường phổ biến và đề cao văn hoá của họ, và tất nhiên đẩy lùi văn hoá người bị trị vào trong bóng tối.

Tình trạng dân bị trị dẫn đến tâm trạng tự ti: thấy người thống trị có lực lượng quân sự hùng hậu, nếp sống vật chất cao với nhiều tiện nghi, bị choá mắt vì cái hào nhoáng bên ngoài, nhạc cụ lộng lẫy, dàn nhạc đông đảo, người dân Việt sanh ra tự ti, thấy cái gì mình cũng thua kém, thì văn hoá mình cũng không bằng văn hoá người thống trị. Thấy cây đàn piano bóng bẩy, cả mấy chục dây, nhìn lại cây đàn bầu, thùng tre thùng gỗ trông nó nghèo nàn làm sao, và nó lại nằm trong tay những người ăn mày, mà quên đi cái giá trị của nó trong chỗ chỉ một dây mà tạo ra bao nhiêu âm thanh, có âm vực trên ba quãng tám, phối hợp hai nguyên tắc vật lý là tạo bồi âm bằng cách khảy dây đàn đúng chỗ nút giao động, rồi thay đổi độ căng của sợi dây để làm cho bồi âm có độ cao thấp khác nhau, không thấy rằng “một dây nũng nịu đủ lời, nửa bầu chứa cả một trời âm thanh” (Thơ của Văn Tiến Lê). Chỉ thấy hình dáng thô sơ mà quên rằng trong sự cấu tạo nhạc khí, cha ông chúng ta đã dùng “một dây căng giữa đất trời, cần nghiêng nghiêng tựa dáng người vươn lên” (Thơ Nguyễn Hải Phương), có cả thiên, địa, nhân trong vóc dáng, mà “tiếng ngân, ngân tận cõi nào, dư âm rơi ngẩn ngơ vào tim ai” (Thơ Nguyễn Hải Phương ). Đi học đàn cò, thì xấu hổ, dấu kín cây đàn cò trong bị. Đi học đàn violon, thì hảnh diện xách cây đàn trong hộp gỗ cho mọi người thấy. Lòng tự ti đó dẫn tới chỗ nhiều người nghĩ rằng: “đàn dân tộc là lạc hậu, đàn Tây là tiến bộ” !! Đi đến chỗ bỏ đàn Việt, học đàn Tây.

Rồi những nguyên nhân kinh tế lại càng làm cho thanh niên xa lần âm nhạc truyền thống. Trong những buổi hoà nhạc, trên các Đài phát thanh, sau nầy trên Đài truyền hình, trong các hãng làm dĩa hát, tiền thù lao cho nhạc công truyền thống thua xa tiền thù lao của những nhạc công đàn Tây và từ năm sáu chục năm nay, thua cả diễn viên tân nhạc. Bỏ công luyện tập đàn dân tộc để không sống được với nghề nghiệp của mình. Cùng một thời gian luyện tập, đi vào nhạc mới, nhạc Tây sẽ làm ra tiền nhiều hơn. Tính thực dụng đã làm cho thanh niên quay lưng với âm nhạc truyền thống.

Tiếp theo là nạn chiến tranh. Trong hơn 30 năm, nước Việt bị chìm trong khói lửa. Nông dân cấy lúa ban đêm, im lặng không hò không lý. Đối ca nam nữ, hát đúm, hát ghẹo, hát xoan, hát quan họ cũng im hơi vắng tiếng vì ngày đêm bom đạn có thể rơi trên đầu mình bất cứ lúc nào. Tất cả năng lực trong nước đều tập trung để chống ngoại xâm, phục vụ kháng chiến. Văn nghệ dân tộc vì thế không được phát triển.

Nếp sống trong xã hội thay đổi.

Đàn bà không phải như ngày xưa chỉ là nội trợ, mà đi làm việc bên ngoài. Con ít bú sữa mẹ, và tiếng hát ru cũng đã tắt trên môi của bà, mẹ, chị, để nhường chỗ cho những chương trình của Đài phát thanh giới thiệu những ca sĩ tân nhạc, hay nhạc kích động của nuớc ngoài. Đứa trẻ đã mất đi bài giáo dục âm nhạc đầu tiên của mẹ gieo vào tiềm thức em.

Trẻ em không còn hát những bài đồng dao mà hát những bài do người lớn đặt ra cho em.

Thanh niên thiếu nữ gặp nhau, không còn thích đối đáp bằng những câu ca tình tứ, những bài hát huê tình, mà thích ôm nhau và khiêu vũ theo những điệu tango, boléro.

Tiến bộ kỹ thuật có giúp con người đỡ tay, và nâng cao mức sản xuất, nhưng cũng làm mất đi vài vài điệu dân ca. Trong đồng ruộng không còn những giàn hò, hò cái hò con, cất lên những câu kể câu xô. Đã có đài phát thanh cho nghe những bài hát tân nhạc rồi ! Không còn những tiếng chày tiếng cối nhịp theo những câu hò giã gạo hay xay lúa, vì đã có những nhà máy thay người, chỉ cần đổ lúa đầu nầy, hốt gạo đầu kia.

Trên sông nước không còn những tiếng cất lên trong đêm vắng gọi “bớ chiếc thuyền loan khoan khoan gác mái. Tôi có một đôi lời phải trái phân nhau”. Vì bao nhiêu đò máy đã thay thế chiếc đò chèo. Tiếng máy xìn xịt đã thay tiếng Hò khoan vang trên mặt nước.

Các rạp hát thưa lần và tụ điểm mọc lên như nấm.

Trên các đài phát thanh hay truyền hình, vắng tiếng đờn ca dân tộc tân nhạc và “nhạc ngoại” chiếm những giờ có thể đông người nghe.

Lại có bao nhiêu bộ môn bị hiểu lầm, đôi khi chịu hàm oan mang tiếng xấu. Những đào nương, gốc nông dân, chịu khó luyện tập để hát được tròn vành rõ chữ, vững tay phách, lại phải có tánh hạnh tốt mới được tuyển đi hát thờ hay hát cửa đình. Người đào nương đến khi mang tiếng « cô đầu » bị liệt vào “phường bán phấn buôn hương”, vì ít ai biết cô đầu hát và cô đầu rượu là hai hạng người khác nhau rất xa. Cô đầu rượu nhờ tài nghệ của cô đầu hát dẫn khách vào nhà để cô đầu rượu rót chén rượu nồng mời “quan viên” uống cho say, rồi rỉ tai bày chuyện gió trăng. Nhưng nghệ thuật ca trù vì vậy mà bị coi thường và chìm lần vào sự lãng quên.

Chầu Văn bị xem là mê tín, nên có lúc bị bài trừ chớ không phải là một sinh hoạt văn hoá toàn diện, có hát có đàn, có trang phục, có múa.

Những nguyên nhân tôi nêu ra cho chúng ta thấy vì đâu âm nhạc truyền thống mất lần sinh lực, nên trước sự tấn công của các luồng văn hoá ngoại bang, đã bị đẩy lần vào trong bóng tối. Đa số thanh niên chạy theo cái hào nhoáng bên ngoài vì không hiểu cái chân giá trị đặc thù mà kín đáo của nghệ thuật dân tộc.

Ngày qua tháng lại, căn bịnh không ai trị đã thành mãn tính.

Nay muốn lành bịnh phải trị căn chớ không thể trị chứng.

Từ trong gia đình ra tới xã hội, từ dân chúng đến nhà cầm quyền, mỗi người đều phải có ý thức nhúng tay vào việc trị bịnh. Nếu bắt đầu từ ngay bây giờ, có lẽ phải đợi 5, 10 năm hoạ may mới có kết quả. Nếu không, việc phải tới sẽ tới. Âm nhạc truyền thống sẽ hoi hóp, tàn lụn rồi đến khi sức tàn lực tận sẽ trút hơi thở cuối cùng. Đó là cái nhìn khách quan. Nhưng tôi bổn tánh lạc quan và rất tin tưởng vào ý chí quật khởi của dân tộc Việt Nam, nên tôi nghĩ rằng âm nhạc truyền thống, dầu lâm cơn bạo bịnh, cũng sẽ tìm lại được sức hồi sinh.

Muốn sớm đem lại nguồn sinh lực cho nguời bịnh, tôi đề nghị những phương thuốc sau đây:

1. Làm sống lại tiếng Hát ru để cho trẻ sơ sanh có được bài giáo dục âm nhạc đầu tiên trong cuộc đời. Nếu mẹ phải đi làm việc bên ngoài hay phải gởi con vào nhà trẻ, thì đến giờ các em ngủ, để cho các em nghe qua máy phóng thanh, tiếng hát ru ghi vào dĩa hát hay băng từ.

2. Đem âm nhạc truyền thống vào học đường là một phương thuốc hữu hiệu và cần thiết nhứt. Dạy con dạy thuở còn thơ. Trong các lớp mẫu giáo hay các trường tiểu học, trung học nên có chương trình dạy Giáo dục âm nhạc trong đó âm nhạc truyền thống dân tộc là nòng cốt.

3. Các em nhỏ nên hát những bài đồng dao hay những bài hát sáng tác theo loại đồng dao, như những bài “Ông Nỉnh Ông Ninh”, “Có con dế mèn” của Lê Thương, phù hợp với tâm lý các em hơn những bài do người lớn sáng tác theo phong cách phương Tây.

4. Khuyến khích người nông dân hò, lý trong lúc làm việc. Có thể tổ chức những giàn hò trong mỗi vạn cấy gồm đôi ba cặp hò đối đáp. Những người hò hay, thì hò nhiều, làm việc ít, mà tiền công được trả đủ có khi còn được thưởng. Như cô bảy Phùng Há thuở lên 7, 8 tuổi đi làm thuê trong lò gạch. Nhờ có giọng ca hay, ai nấy đều đồng ý để cho cô ca, khỏi làm gạch, mỗi người cho một ít gạch, thành ra cô bé có giọng oanh vàng hôm nào cũng có nhiều viên gạch, mà khỏi phải lao công. Người làm nhờ nghe ca ; thích thú, năng suất cao, chủ lò gạch rất thích.

5. Khuyến khích những sinh hoạt đối ca nam nữ, những buổi hoà đàn dân tộc bằng cách mở những cuộc thi có cho giải thưởng cho những người đàn hay hát giỏi. Tổ chức những buổi giao lưu giữa những đội hát, nhóm đàn.

6. Các Đài phát thanh và Truyền hình nên có những buổi giới thiệu, có chuyên gia giải thích, những bộ môn âm nhạc, trong truyền thống dân gian hay bác học vào những giờ có nhiều người nghe hay xem, bày những trò chơi đố giải, có liên quan đến âm nhạc dân tộc. Đài nên mời những nghệ sĩ có tên tuổi đến dự những buổi liên hoan trên Đài về Hát ru, Hò, Lý, Đối ca Nam Nữ. Những nguời nghiệp dư được huy chương vàng, bạc hay đồng trong các liên hoan tại các huyện các tỉnh, được mời lên Đài biểu diễn, coi đó như là một phần thưởng mà các bạn không chuyên nghiệp rất thích.

7. Báo chí nên có những trang đặc biệt về âm nhạc dân tộc.

8. Những nhà xuất bản sách báo nên phát hành những bưu ảnh có hình nhạc khí được thông dụng do các nhạc sĩ trẻ biểu diễn, những sách tập vẽ hay tô màu hình nhạc khí truyền thống, những sách góp lại những truyền thuyết liên quan đến âm nhạc.

9. Những nhà xuất bản đĩa hát nên cho ra những dĩa hát giới thiệu nhạc khí, nhạc phẩm dân tộc, do những nghệ sĩ trẻ biểu diễn, có lời giới thiệu của những giáo sư có tên tuổi do những kịch sĩ, ca sĩ được quần chúng hâm mộ đọc lên, từng ấy « siêu sao » sẽ thu hút nhiều người mua dĩa.

Rất cần có nhiều người do hiếu kỳ, đi tới âm nhạc truyền thống để tìm hiểu. Có hiểu mới thương, có thương mới thích, mới sẵn sàng để thì giờ học hỏi, luyện tập, biểu diễn, thưởng thức, rồi đi tới bảo tồn, phổ biến, phát huy âm nhạc dân tộc.

Trong xã hội hiện nay, muốn huy động tư nhân hay hiệp hội, cơ quan nhà nước hay thương hội tư, kêu gọi sự tài trợ của các “mạnh thường quân” hay các doanh nhân, chỉ có chánh quyền mới có thể phát động phong trào mạnh mẽ.

Hiện nay chánh quyền đã có vạch ra đường lối văn nghệ rất đúng, nhưng các cơ quan thi hành đường lối chưa được đúng. Thí dụ khẩu hiệu “Dân tộc, Khoa học, Đại chúng” rất hay. Tính dân tộc là ưu tiên, là trên hết. Nhưng dân tộc là gì? Mỗi người hiểu một cách. Không ít người cho rằng cây đàn piano nếu được nhiều người ưa thích, học hỏi và biểu diễn nó sẽ thành cây đàn dân tộc. Nói trọng dân tộc, kêu gọi dân chúng Về nguồn, nhưng ta vẫn còn thấy cảnh dàn dựng một Giao hưởng khúc sáng tác theo phong cách Âu Tây, được tài trợ cả vài trăm triệu đồng. Tổ chức một liên hoan về đờn tranh có nhiều nước châu Á tham dự Nhựt bổn, Đại Hàn, Singapore, v.v… chỉ nhận được tài trợ không đến ba chục triệu đồng.

Trong tư nhân cũng vậy có nhan sắc, mặc áo dài đẹp nhứt được thưởng 15 triệu đồng. Có năng khiếu âm nhạc, dày công học tập năm nầy tháng nọ, phải thi qua ba bốn đợt, được huy chương vàng và số tiền 10 triệu. Nói chi đến đá bóng. Đưa một trái banh vào lưới được thưởng ba chục triệu đồng như chơi, nhấn một chữ đàn gân guốc làm não ruột người nghe, chỉ đuợc tiếng xuýt xa, hay một tràng pháo tay…rồi thôi ! Người nghệ sĩ đã làm rung động lòng thính giả lại lủi thủi ra về sống cuộc đời hẩm hiu !

Tính thực dụng lại được đưa ra để giải thích những việc đó. Thì ra âm nhạc đã không còn là một nghệ thuật mà chúng ta phụng sự và đã biến thành một món hàng chúng ta bán !!!

10. Chánh quyền có thể giúp rất nhiều trong việc giữ gìn và chấn hưng âm nhạc dân tộc. Những điều cấp bách cần phải làm Giáo Sư Ca Lê Thuần đã nói rất rõ ràng, đầy đủ và chí lý. Tôi chỉ lập lại ba việc:

i) Đem âm nhạc vào học đường và nhứt là ở cấp mẫu giáo và tiểu học.

ii) Cải tổ chương trình dạy nhạc trong cấp Trung học và nhứt là trong các NhạcViện.

iii) Có chánh sách ưu đãi những nghệ nhân suốt đời tận tụy với âm nhạc truyền thống và với sinh viên học nhạc dân tộc.

Trong quần chúng còn nhiều nhận định về âm nhạc truyền thống cần nên xét lại:

1. Có lắm người cho rằng âm nhạc truyền thống “lạc hậu”. Tôi chỉ xin hỏi lại các vị ấy có biết chi về âm nhạc truyền thống mà dám cho rằng nó lạc hậu.

Các vị có biết tiếng vê, tiếng vẩy, tiếng lia của đàn đáy khác tiếng phi, tiếng chầy của đàn tỳ bà ra sao không?

Các vị có biết rằng cách nhấn đàn tranh chúng ta phong phú hơn cách nhấn của đàn Zheng Trung quốc, vì chúng ta có nhấn nửa bực, một bực, một bực rưỡi, có nhấn rung, nhấn mổ, nhấn nhảy, nhấn vuốt?

Các vị có biết cách gõ phách trong truyền thống ca trù độc đáo có một không hai trên thế giới? Thường thì khi gõ nhịp hay đánh trống thì dùng hai dùi giống nhau, không có nơi nào dùng hai dùi một thân tròn một chẻ làm hai để cho có một tiếng nặng một tiếng nhẹ, một tiếng trong một tiếng đục, một tiếng cao một tiếng thấp một tiếng Dương một tiếng Âm. Khi đánh thì âm dương trộn nhau, hai tiếng, phách cái, phách con, chen nhau làm cho nhịp đều được bao trùm trong những tiếng phụ, phách không hiện rõ mà biến thành “lẫn phách” có phân nhịp mà như không có nhịp, thật mà như hư, có mà như không, hiện mà như ẩn?

Các vị có biết hát Nam trong hát tuồng, hát bội, có luyến và láy? Luyến là gì mà láy là gì? Tại sao lại phải khi dùng láy lệ, lúc dùng láy rút, láy nhún, láy đấp bờ, láy âm, láy dương?

Bao nhiêu cái tế nhị trong thanh nhạc, trong khí nhạc, các vị có biết rõ không mà dám cho rằng âm nhạc truyền thống là lạc hậu?

2. Nhiều người cho rằng âm nhạc truyền thống rất “lề mề”, không theo kịp nhịp sống của thời đại. Trong xã hội công nghiệp, nhịp sống rất mau mà nhạc cổ truyền quá chậm. Tại sao nhịp âm nhạc lại phải mau theo nhịp của xã hội công nghiệp? Âm nhạc là nghệ thuật, công nghiệp là kỹ thuật, tiết tấu của hai bên không liên quan gì với nhau cả. Nhịp của nghệ thuật là nhịp của trái tim. Trái tim của chúng ta không thể đập theo nhịp điệu cuồng loạn. Nếu trái tim phải đập theo nhịp của kỹ thuật, chắc ta phải vào bịnh viện. Ở những nước kỹ thuật tiên tiến bên Âu Mỹ, nhịp sống mau hơn nhịp sống ở nước ta nhiều. Thanh niên các nước Âu Mỹ đang quay về nhạc châu Á để tìm chút yên tĩnh, hầu chống lại nếp sống quay cuồng, lôi cuốn con người vào guồng máy của nó.

3. Có người lại nói rằng nhạc truyền thống của ta phải theo đà tiến hoá, phải thế nầy thế nọ. Các bạn quên rằng âm nhạc truyền thống đang lâm vào cảnh nguy kịch, như căn nhà đang cháy hay bị lũ cuốn lôi. Phải chữa cháy trước đã rồi mới nghĩ phải trồng hoa ngoài sân, phải treo tranh trên tường, phải đặt điều hoà không khí. Âm nhạc truyền thống đang lâm cơn bịnh mãn tính trầm kha. Phải chữa cho bịnh lành rồi mới nghĩ uống thuốc bổ cho khoẻ người, tập thể dục cho nở nang bắp thịt. Âm nhạc truyền thống không phải bất di bất dịch. Nhưng trước khi định cho nó phải tiến bộ như thế nào, nên cứu cho nó sống trước đã.

Theo tôi vừa trình bày phía trên, muốn trị bịnh cho âm nhạc truyền thống, phải có chánh quyền nhúng tay vào. Nhưng chỉ có chánh quyền thì không đủ. Tất cả chúng ta, mỗi người trong phạm vi hoạt động của mình, phải ý thức đến việc mất còn của âm nhạc truyền thống và tùy theo khả năng của mình góp phần vào việc điều trị căn bịnh mãn tính, thì họa chăng trong mươi năm hai mươi năm nữa chân trời âm nhạc truyền thống mới có thể tỏ rạng hơn ngày nay.

GS Trần Văn Khê trong một buổi sinh hoạt âm nhạc truyền thống tại nhà riêng.
GS Trần Văn Khê trong một buổi sinh hoạt âm nhạc truyền thống tại nhà riêng.

Trà Mi (Radio RFA) phỏng vấn GS Trần Văn Khê: Làm cách nào khơi dậy nền âm nhạc dân tộc Việt Nam

Làm cách nào khơi dậy nền âm nhạc dân tộc Việt Nam? (I)

Âm nhạc dân tộc Việt Nam đang bị đẩy vào bóng tối để nhừơng chỗ cho các loại nhạc trẻ hiện đại mang âm hưởng Tây phương. Vì sao dòng nhạc truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc và chất chứa nhiều giá trị nghệ thuật đặc sắc, nay lại bị rơi vào quên lãng? Và làm cách nào khơi dậy nền âm nhạc dân tộc Việt Nam trong lòng thế hệ trẻ?

Mời quý vị cùng Trà Mi tìm hiểu trong loạt bài phỏng vấn với Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê, một chuyên gia có rất nhiều công trình nghiên cứu về âm nhạc dân tộc truyền thống Việt Nam. Ông cũng là thành viên danh dự của Hội đồng Âm nhạc Quốc tế thuộc UNESCO.

Với vốn kiến thức sâu rộng và tấm lòng yêu âm nhạc dân tộc Việt Nam, sau hơn 50 năm định cư tại Pháp, Giáo sư Khê dự định sẽ trở về nước để truyền thụ sự am hiểu về âm nhạc và góp phần bảo tồn âm nhạc truyền thống.

Buổi nói chuyện hôm nay sẽ bàn về những giá trị độc đáo của âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Trước tiên, giáo sư Trần Văn Khê cho biết đánh giá của mình về nền âm nhạc cổ truyền:

Âm nhạc dân tộc Việt Nam đối với tôi có một giá trị thật lớn về chủ quan và khách quan. Bởi vì âm nhạc Việt Nam có những cá tính mà có thể không tìm ra đưọc ở những nền âm nhạc khác.
Mặc dù ở trong Á Châu, cạnh các nước Đông Á và Đông Nam Á, nhưng âm nhạc dân tộc Việt Nam không thể bị lầm lẫn với âm nhạc của Trung Quốc hay của Triều Tiên, Nhật Bản, hay Thái Lan, mà nó có 1 cá tính. Vì thế đối với tôi âm nhạc dân tộc Việt Nam có giá trị về khoa học-nghệ thuật rất cao….

Trà Mi: Những nét cá tính mà giáo sư vừa đề cập là gì thưa giáo sư?

GS Trần Văn Khê: Thứ nhất là những nhạc cụ nhạc khí dùng tuy phần lớn là từ bên Trung Quốc mang sang, nhưng đã từ 6-7 trăm năm nay đã được thích nghi theo thẩm mỹ của dân tộc Việt Nam. Cho nên đã biến thành nhạc cụ nhạc khí Việt Nam với các thủ pháp riêng biệt của Việt Nam…

Trà Mi: Thưa, xin phép hỏi giáo sư âm nhạc dân tộc Việt Nam mình có những nhạc cụ nào được coi là độc đáo, đặc biệt đối với thế giới, và vì sao được đánh giá là đặc biệt. Xin giáo sư giới thiệu thêm.

GS Trần Văn Khê: Nước Việt Nam có rất nhiều nhạc cụ đặc biệt mà trên thế giới không bao giờ có được, điển hình như Trống Đồng… Ngoài ra có những cái đàn rất độc đáo như đàn bầu, mà đặc biệt nhất có lẽ là cây đàn đáy chuyên phụ hoạ cho ca trù… Những nét đặc biệt của âm nhạc dân tộc không chỉ trong nhạc cụ, nhạc khí mà còn cả trong những thủ pháp dùng để đánh những nhạc khí đó…

Trà Mi: Vâng, thưa giáo sư nói rõ hơn về những nét đặc biệt trong thủ pháp như thế nào ạ?

GS Trần Văn Khê: Chẳng hạn cách đánh phách của ca trù là trên thế giới không bao giờ có ai có: một tiếng cao tiếng thấp, tiếng trong tiếng đục, tiếng tròn tiếng dẹp, tiếng dương tiếng âm…

Trà Mi: Bàn về thang âm điệu thức thì âm nhạc Việt Nam có những bản sắc gì riêng biệt thưa giáo sư?

GS Trần Văn Khê: Những chữ nhạc không phải tĩnh và đóng như phương Tây, mà nó động mà mở…
Tôi cho đó là ưu điểm trong tiếng nhạc của Việt Nam nghĩa là tiếng nhạc nó biến chuyển, nó hạp với nguyên tắc về triết học tức nguyên tắc dịch lý…

Trà Mi: Rất cảm ơn giáo sư đã cho biết những kiến thức khái quát về âm nhạc dân tộc và những nét đặc sắc trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

Quý vị vừa nghe phần 1 bài nói chuyện về âm nhạc dân tộc của Giáo sư-Tiến sĩ Trần Văn Khê, một nhà nghiên cứu kỳ cựu về âm nhạc dân tộc. Trong chương trình kỳ sau, mời quý vị đón nghe những đánh giá của giáo sư Trần Văn Khê về tình hình sinh hoạt âm nhạc dân tộc hiện nay trong nước.

Làm cách nào khơi dậy nền âm nhạc dân tộc Việt Nam? (II)

Trong một chương trình trước, Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê, thành viên danh dự của Hội đồng Âm nhạc Quốc tế thuộc UNESCO, đã trình bày khái quát về những giá trị độc đáo của âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Tiếp nối loạt bài chủ đề về nền âm nhạc truyền thống, kỳ này, mời quý vị nghe nhận định của Giáo sư Khê về tình hình sinh hoạt âm nhạc dân tộc trong nước hiện nay.

Trà Mi: Thưa giáo sư, giáo sư có nhận xét gì về tình hình sinh hoạt âm nhạc dân tộc Việt Nam hiện nay tại quê nhà?

Giáo sư Trần Văn Khê: Âm nhạc Việt Nam truyền thống bây giờ đang bị trạng thái nguy hiểm, vì tất cả những chuyện toàn cầu hoá và mở rộng kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho các loại nhạc bên ngoài ồ ạt du nhập vào trong nứơc. Những loại nhạc này có cái mới, cái lạ, cái tiết tấu, cái sức sống thu hút được giới trẻ. Thành ra, giới trẻ bây giờ chỉ mở rộng tay mà đón các loại nhạc đó mà quên nhạc Việt Nam, mà nhạc Việt Nam đã trải qua nhiều khó khăn.

Tôi đã có viết một bài về căn bệnh mãn tính của âm nhạc dân tộc Việt Nam, bởi tôi thấy rất lo ngại vì âm nhạc dân tộc Việt Nam một mặt được chính quyền để ý, khuyên giải cho nó trở lại về nguồn, muốn làm sao cho âm nhạc tiên tiến mà có được bản sắc dân tộc. Thế nhưng, đường lối đưa ra thì rất đúng mà áp dụng đường lối thì chưa thật đúng.

Cho nên, chúng ta gặp một nguy cơ mà không riêng gì nước Việt Nam mà các nước chậm tiến về mặt kinh tế thường bị những luồng nhạc Tây Âu xâm nhập, với những phương tiện truyền thông mãnh liệt, làm cho giới trẻ hướng về điệu nhạc phương Tây mà quên cả âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Trà Mi: Vâng, nhưng âm nhạc dân tộc Việt Nam vốn được đánh giá là có giá trị nghệ thuật rất cao. Thế thì tại sao lại dễ dàng bị quên lãng như vậy thưa giáo sư?

Giáo sư Trần Văn Khê: Không phải dễ dàng bị quên lãng mà âm nhạc Việt Nam đã trải qua bao nhiêu khó khăn. Từ lúc bị thuộc địa thì đương nhiên bị văn hoá của dân tộc thống trị đẩy lùi văn hoá Việt Nam vào trong bóng tối.

Dân tộc Việt Nam đã bị mấy chục năm chiến tranh, trong lúc chiến tranh không thể nào nói chuyện tới âm nhạc, thành ra bị quên lãng. Có một cuộc thay đổi về nếp sống thì cái nếp sống ấy đã đẩy lùi âm nhạc dân tộc lần lần đi vào trong bóng tối.

Cho nên, đã có một giai đoạn rất dài, rất lâu, người thanh niên không được tiếp cận với âm nhạc dân tộc, và âm nhạc truyền thống không được người ta giảng dạy, không được người ta giải thích, không được người ta nói rõ ra nó hay ở chỗ nào. Thành ra có khi có cái hay mà không biết cái hay. Thừơng người ta ở trong rừng không bao giờ thấy rừng đẹp.

Có lẽ chúng tôi là người đã đi ra xa cái rừng, rồi thấy cái rừng ấy đẹp, và chúng tôi may mắn có dịp nghiên cứu, phân tích ra mới thấy trong đó có những cái hay, mà chưa có dịp nói hết cho những người thanh niên Việt Nam nghe để họ luôn có tự tin vào cái tiềm tàng của dân tộc Việt Nam.

Điều đó là điều đáng tiếc. Tại hoàn cảnh về lịch sử đưa ra tới hoàn cảnh về tâm lý, tức là người bị trị luôn coi người thống trị là trên hết, thấy những cái hào nhoáng bên ngoài mà quên cái thâm thuý bên tron. Chẳng hạn như thấy cây đàn piano mấy chục dây thì hoan nghênh nó mà quên rằng cái đàn bầu 1 dây nhưng nói được biết bao nhiêu chuyện đến nỗi nhà thơ Văn Tiến Lê còn nói rằng “Một dây nũng nịu đủ lời, nửa bầu chứa cả một trời âm thanh”.

Như vậy mà không thương nó, không coi nó là trọng mà coi là tầm thường, quên rằng nó có 1 tính chất nghệ thuật rất cao. Thì tại mình không hiểu nó mà mình không thương nó, chứ không phải nó không có đủ sức kháng cự, giống như ngừơi bệnh mà không được miễn dịch.

Tiếng hát ru cũng đã tắt trên môi các bà mẹ rồi.

Thứ nhì mất tiếng đồng dao của trẻ em.

Thứ ba là làm việc đồng áng không còn câu hò điệu lý, không còn đối ca nam nữ… mà thanh niên gặp nhau muốn ôm nhau nhảy theo điệu tango và bu-lê-rô, đi nghe thì không nghe hát chèo, hát bội, hay hát cải lương mà muốn đi coi nhạc trẻ, nghe nhạc kích động.

Điều kiện lịch sử, điều kiện kinh tế, điều kiện tâm lý đã khiến âm nhạc truyền thống Việt Nam bị quên lãng.

Cái nếp sống bây giờ thay đổi. Do hoàn cảnh bên ngoài xã hội và kinh tế: người nào đi học nhạc dân tộc thì không được trả thù lao hậu, mà nhạc mới thì trả thù lao hậu. Thành ra, điều kiện lịch sử, điều kiện kinh tế, điều kiện tâm lý đã khiến âm nhạc truyền thống Việt Nam bị quên lãng. Thanh niên không được hiểu biết tới nên mới hướng về cả bên phương Tây.

Trà Mi: Quý vị vừa nghe phần trình bày của giáo sư – tiến sĩ Trần Văn Khê về tình hình sinh hoạt âm nhạc dân tộc hiện nay trong nước. Làm thế nào để cứu vãn nền âm nhạc dân tộc đang ngày một thưa dần? Mời quý vị đón nghe phần 3 bài nói chuyện của giáo sư Trần Văn Khê trong một chương trình tới.

Làm cách nào khơi dậy nền âm nhạc dân tộc Việt Nam? (III)

Trà Mi: Trong buổi nói chuyện lần trứơc, giáo sư có nói đến chiều hứơng mai một của nền âm nhạc dân tộc trong nứơc. Trứơc thực trạng đau lòng này, từ cái nhìn của một nhà chuyên môn, giáo sư có đề xuất gì nhằm khơi dậy và cứu vãn nền âm nhạc truyền thống đang ngày một vắng bóng, thưa giáo sư?

Gs Trần Văn Khê: Đó là căn bệnh mãn tính mà nguyên nhân rất nhiều. Trong bài viết “Căn bệnh mãn tính của âm nhạc dân tộc Việt Nam”, chúng tôi có đề nghị nhiều phương pháp. Mỗi phương pháp là một phương thuốc để trị. Các phương thuốc này cần phải được áp dụng đồng bộ: phải làm sao dẫn dắt cho dân tộc Việt Nam biết được giá trị của bản sắc dân tộc mình như thế nào, giải làm sao cho mất được cái tự ti, mặc cảm. Và cần phải có sự quan tâm không phải của dân tộc không, mà cả chính quyền cũng phải ủng hộ âm nhạc dân tộc. Đồng thời, mỗi người trong xã hội phải nhận thấy rằng đó là của cải quý báu của cha ông, mà mất đi rồi thì ngàn vàng không mua lại được, thì sẽ thiết tha tham gia vào việc tìm lại, đưa âm nhạc dân tộc vào trong trí nhớ, vào trong sự hiểu biết, nhận thức và thưởng thức của những ngừơi trẻ. Có như vậy, thì hoạ chăng trong vài chục năm nữa, mới có thể bắt đầu được thấy chân trời âm nhạc dân tộc Việt Nam sáng lạng hơn bây giờ.

Trà Mi: Một trong những phương pháp phổ biến kiến thức rộng rãi nhất là đưa vào trường học. Giáo sư nghĩ sao về việc đưa giảng dạy âm nhạc dân tộc vào học đường? Điều này có khả thi không, thưa giáo sư?

GS Trần Văn Khê: Chuyện đó tôi đã thí nghiệm rồi. Từ tháng 5-6 năm ngoái, tôi đã thể nghiệm chương trình do UNESCO đề xướng và ủng hộ về mặt tinh thần và một ít về mặt tài chính. Tôi đã lập ra 1 lớp tập huấn để chứng minh cho các thầy – cô giáo thấy.

Tôi đã dạy trẻ em từ 8-12 tuổi. Tôi đã đưa ra những phương pháp và nguyên tắc rất mới. Chẳng hạn như nguyên tắc đầu tiên là “học mà chơi, chơi mà học”. Không phải dạy bằng cách tập cho con mắt trẻ đọc tín hiệu ghi âm, mà tập cho chúng nghe chính xác, và ghi nhớ, rồi sau đó mới đi tới tín hiệu. Đó là điều tôi làm ngược lại.

Thứ nhì, theo truyền thống là dạy nét nhạc trứơc khi dạy tiết tấu, nhưng tôi dạy tiết tấu trước, bởi vì tiết tấu, nhịp điệu đi liền với con người. Từ lúc còn là bào thai, 2 tháng trẻ đã nghe tiếng tim mẹ nhảy, 7 tháng nghe tiếng tim mình nhảy. Khi ra đời, tiếng võng kẽo kẹt của bà mẹ, hay ngày và đêm v..v.. tất cả đều là tiết tấu, thì phải dạy tiết tấu trứơc. Các em sau khi học tiết tấu, nắm được tiết tấu rồi, từ đó đi tới những nét nhạc rất dễ dàng. Chuyện đó tôi đã thể nghiệm tại trường tiểu học Trần Hưng Đạo, TPHCM.

Kết quả rất tốt. Hiện UNESCO đang xem xét kết quả đó. Tôi đã làm 1 báo cáo bằng tiếng Pháp, và bài báo cáo bằng tiếng Việt sẽ được dịch sang tiếng Anh và Tây Ban Nha để gửi đi các nơi. Có lẽ trong vòng tháng 5-6, ở Lisbone sẽ có 1 hội nghị với chủ đề đem âm nhạc dân tộc vào trong cấp tiểu học, bởi “dạy con dạy thuở còn thơ”, chứ không phải đợi lớn mới dạy.

Đem âm nhạc dân tộc vào trường học là một trong những phương pháp rất hữu hiệu, giúp âm nhạc truyền thống trở lại vị trí của nó.

Trà Mi: Những thể nghiệm do giáo sư đề nghị có được phía nhà nứơc Việt Nam ủng hộ và họ có phương hướng áp dụng không ạ?

Gs Trần Văn Khê: Trường Cao Đẳng Văn Hoá – Nghệ Thuật TPHCM, sở Văn Hoá Thông Tin Thành Phố, cũng như Sở Giáo Dục-đào tạo đều hoan nghênh. Thế nhưng đưa ra đề xuất đó không phải một ngày một bữa mà được, mà nó đòi hỏi rất nhiều công phu. Và phải có can đảm xoá bỏ những gì hư hỏng, nhưng muốn thay đổi 1 việc gì không phải là đơn giản.

Tôi là người đã gieo hạt giống. Hạt giống đó, nếu gặp được mãnh đất phì nhiêu, có người chăm sóc, vun tưới, thì sẽ nở ra hoa tươi trái ngọt; nhưng nếu mãnh đất cằn cỗi, không ai chăm bón thì hạt giống sẽ chết. Khi đó, lỗi không phải tại tôi không đi gieo giống, không đề xướng ra, mà tại cái điều kiện bên ngoài nó chưa thuận tiện.

Tôi tin rằng nó sẽ thuận tiện. Tôi chưa có dịp nói cho nhiều người nghe, chứ khi tôi nói, kể cả cấp lãnh đạo cũng đều thấy là có lý lắm. Nhưng từ chỗ thấy có lý đến chỗ làm thế nào để áp dụng vào thực tế thì đụng phải không biết bao nhiêu là sợi dây chằng chịt, đụng cái óc bảo thủ, đụng chuyện mà người ta sợ đổi mới… thì điều đó cũng phải hiểu là không phải một ngày một buổi mà được.

Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn giáo sư về thời gian dành cho cuộc trao đổi hôm nay!

Quý vị vừa nghe phần 3 của loạt bài với chủ đề “Làm thế nào khơi dậy nền âm nhạc dân tộc đang ngày một thưa dần?”, do Giáo sư-Tiến sĩ Trần Văn Khê trình bày. Trong những buổi nói chuyện trước, giáo sư Khê đã đề cập đến những nét đặc sắc của âm nhạc dân tộc Việt Nam, cũng như thực trạng mai một của nền âm nhạc truyền thống. Quý vị muốn nghe và xem lại, mời truy cập vào trang web http://www.rfa.org của Đài Á Châu tự do:

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/03/18/TraditionalVietnameseMusic3_TMi/

Bạn nghĩ gì về vấn đề này? Xin email về: Vietnamese@www.rfa.org

oOo

Giáo Sư Trần Văn Khê Phần 1:

 

Giáo Sư Trần Văn Khê Phần 2:

 

Giáo Sư Trần Văn Khê – Ngâm thơ “Qua Đèo Ngang” (Bà Huyện Thanh Quan) và đàn tranh:

 

Một suy nghĩ 2 thoughts on “Giáo Sư Trần Văn Khê qua đời”

  1. Dù biết rằng ai cũng phải đi, và sống đến 94 tuổi là rất trường thọ, nhưng không thể không thương tiếc cho một mất mát lớn cho văn hóa và nghệ thuật VN với sự ra đi của bác Trần Văn Khê, người irreplaceable.

    Thích

  2. Dạ, đồng ý với ý kiến của anh Hoành, nếu có ai là người có thể thay thế thì Giáo Sư Trần Văn Khê là người không thể thay thế được.

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s