Nhạc cụ cổ truyền VN – Đàn Đáy

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Đàn Bầu, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Đàn Đáy của Việt Nam.

Đàn Đáy (hay Đới Cầm, Vô Đề Cầm) là nhạc cụ độc đáo mà từ hình dáng, âm thanh đến thể loại âm nhạc có một địa vị đặc biệt trong nền âm nhạc cổ truyền của người Việt.

Không rõ Đàn Đáy xuất hiện lần đầu vào thời điểm nào nhưng nó có mặt ít ra đã 500 năm hơn. Theo phó giáo sư tiến sĩ Thụy Loan, thì các mảng điêu khắc ở đình Lỗ Hạnh, đình Hoàng Xá và đền Tam Lang (niên đại thế kỷ 16-18) cho ta biết Đàn Đáy đã phổ biến trong dân gian vào thời nhà Mạc. Thời điểm xuất hiện của Đàn Đáy theo đó được các nhà nghiên cứu nghi nhận sớm nhất là thế kỷ 15. Niên đại xuất hiện này hoàn toàn phù hợp với những ghi chép trong thư tịch cổ và những tư liệu mỹ thuật đã được phát hiện.

Đàn Đáy có tên gốc là “Đàn Không Đáy” tức “Vô Đề Cầm”, vì nó không có đáy (hậu đàn). Do đó người ta gọi tắt là Đàn Đáy lâu ngày thành tên chính thức như hiện nay. Một giả thuyết khác cho rằng nhạc cụ này có dây đeo bằng vải, dây này trong chữ Hán là “Đái” (Đai) nên mới gọi là “Đàn Đái”, đọc chệch lâu ngày thành “Đàn Đáy”.

danday_ĐB

danday30

Đàn đáy có 4 bộ phận chính:

1. Bầu đàn, còn gọi là thùng đàn: bằng gỗ, hình thang cân. Đáy lớn nằm phía trên, rộng khoảng 23–30 cm, đáy nhỏ nằm phía dưới rộng khoảng 18–20 cm. Cạnh 2 bên khoảng 31–40 cm. Thành đàn vang bằng gỗ cứng, dày khoảng 8–10 cm. Mặt đàn bằng gỗ ngô đồng, có một bộ phận để móc dây đàn (cái thú). Có khi mặt đàn khoét một lỗ hình chữ nhật. Đáy đàn thủng hình chữ nhật.

2. Cần đàn: dài 1,10-1,30 m gắn phía trên từ 10 đến 12 phím đàn bằng tre nhưng đàn đáy cổ có 16 phím. Các phím này dày và cao, phần đỉnh dài hơn phần chân phím. Tính từ đầu đàn trở xuống, phím đầu tiên không gắn sát vào sơn khâu như nhiều nhạc cụ khác mà lại nằm ở quãng giữa cần đàn.

3. Đầu đàn: hình lá đề, hốc luồn dây có 3 trục chỉnh dây.

4. Dây đàn: 3 dây bằng tơ se, dài, mềm và dễ nhấn mang tên dây Hàng, dây Trung và dây Liễu. Ngày nay, những dây này có thể bằng nilon với kích thước to nhỏ khác nhau, mỗi dây cách nhau 1 quãng bốn đúng. Dây đàn được chia làm năm cung: cung Nam, cung Bắc, cung Nao, cung Huỳnh và cung Pha.

Âm vực của Đàn Đáy.
Âm vực của Đàn Đáy.

 

Thang âm 7 cung.
Thang âm 7 cung.

 

Đàn Đáy có âm vực rộng hơn 2 quãng tám, âm sắc giống đàn nguyệt, ấm áp dịu ngọt và có thể diễn tả tình cảm sâu sắc. Ngày xưa nghệ sĩ cần miếng khảy bằng que tre để đánh, ngày nay họ thường dùng miếng khảy nhựa hơn.

Kỹ thuật tay phải gồm có ngón khảy, hất, lia (vê) giống như cách diễn đàn nguyệt và đàn tỳ bà.

Kỹ thuật tay trái gồm có ngón chùn, nhấn, láy, đánh chồng âm và hợp âm…

Ở loại Đàn Đáy cổ truyền người ta không đánh dây buông mà bấm vào phím thứ nhất để gảy, cách này coi như đánh dây buông.

Người biểu diễn thường dùng Đàn Đáy đệm cho giọng nữ cao hoặc phối hợp với những nhạc cụ gõ có âm thanh khô (ít vang). Đàn Đáy là nhạc cụ độc đáo chỉ duy nhất dùng để biểu diễn Ca Trù cùng với phách và trống chầu. Ngày nay nó còn được dùng trong một số dàn nhạc dân tộc để hòa tấu.

Dưới đây mình có các bài:

– Ca trù qua một số truyền thuyết
– Đàn Đáy chỉ có trên đất nước Việt Nam
– Đàn Đáy (Thang âm)
– Độc đáo cây đàn đáy cổ tuổi đời gần 1 thế kỷ

Cùng với 7 clips Ca Trù và 1 link audio Độc tấu Đàn Đáy để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Ca Trù Việt Nam thời Pháp thuộc.
Ca Trù Việt Nam thời Pháp thuộc.

Ca trù qua một số truyền thuyết

(Trần Thị An)

Cho đến nay, ca trù vẫn là một thể loại văn chương âm nhạc rất xa lạ với đông đảo đại chúng. Trong ấn tượng chung, ca trù là một sinh hoạt âm nhạc trước hết gắn với lễ lạt của các ông hoang bà chúa hay các miếu đền, sau nữa là thú ăn chơi ở dinh quan, thậm chí trở nên sa đọa và trụy lạc nơi ca quán.

Ấn tượng đó thực ra không phải không có cơ sở, căn cứ vào sự phát triển tự thân của thể loại ca trù mà như một số nhà nghiên cứu đã tổng kết các giai đoạn của nó là: ca trù- nhạc (gắn với cung đình, đền miếu), ca trù- thơ (ở các dinh quan, giáo phường), ca trù- rượu (ở các cao lâu, tửu điếm). Có vẻ như ca trù là một thế giới hoàn toàn khép kín của các bậc vương giả, của người có tiền, người có chức sắc hay những bậc quân tử hào hoa. Vậy trên thực tế ca trù có phải hoàn toàn tách rời đời sống nhân dân hay không? Lịch sử và truyền thuyết dân gian đã cho thấy một thực tế khác. Vào nhiều thời điểm lịch sử, ca trù chẳng những gắn bó với đời sống hàng ngày của nhân dân (sinh hoạt hát ả đào trong dân gian) mà còn tích cực đóng góp sức mình vào công cuộc kháng chiến vì đại nghĩa của dân tộc (truyền thuyết về các ả đào giết giặc Minh, các bài hát hiệu triệu lòng yêu nước vào những năm đầu thế kỷ XX).

Thực tế trên cho thấy, ca trù quả có một đời sống riêng khá phong phú và phức tạp, rất cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để tránh những thành kiến và quy chụp đơn giản một chiều. Mặc dù không thể kết luận được sự hình thành và phát triển của thể loại qua cứ liệu truyền thuyết nhưng trong tình hình thiếu tư liệu nói chung, những truyền thuyết còn sót lại có thể gợi một đôi điều suy ngẫm về vị trí và ý nghĩa của ca trù trong đời sống tâm thức dân gian và trong đời sống sinh hoạt dân gian. Bởi những gì có ý nghĩa với cộng đồng, dân tộc thì đều được truyền thuyết quan tâm ghi lại. Đó là phạm vi mà bài viết nhỏ của chúng tôi muốn đề cập đến.

danday10

1. – Truyền thuyết về ca vũ và ban nữ nhạc

Truyền thuyết về các nhân vật dân gian:

Các nhà nghiên cứu khi bàn đến sự hình thành và phát triển của ca vũ đều dẫn Ngô Thì Sỹ trong Việt sử tiêu án một truyền thuyết kể rằng: Tương truyền vua Triệu Vũ Đế (thế kỷ II trước công nguyên) khi đi tuần thú đến làng Đồng Sâm (Kiến Xương, Thái Bình) đã lập hành cung ở đó và lấy bà Trình Thị làm hoàng hậu. Bà là một ca nữ tài giỏi nên sau khi bà mất, con cháu bà vẫn giữ nghiệp ca công. Truyền thuyết về tài ca hát của bà không còn nhưng bà đã để lại một dấu ấn trong lễ tục hát ca trù đó là lễ Chầu Cử ngày 6 tháng 8, ngày giỗ Triệu Đà hàng năm ở đền Đồng Sâm. Sách Việt Nam ca trù biên khảotrong mục Tổ chức giáo phường có ghi cách tổ chức lễ này vào ngày giỗ tổ 11 tháng chạp và ngày giỗ Triệu Đà 6 tháng 8 như sau: “Trước ngày giỗ độ một tháng, các trùm họp nhau lại cắt đặt đào hay kép giỏi mọi nơi về hát thờ, đào kép dầu ở cách xa mấy mà giáo phường đã cắt đặt cũng phải tìm về hát. Những người được về hát thờ coi đó là một vinh hạnh”. Trong ngày này, đào kép giỏi ở các nơi được gọi về hát thờ nghi lễ rất trọng thể. Tài năng và công lao của Trình hoàng hậu đối với sự nghiệp ca trù như thế nào, đến nay chúng ta không còn biết nhưng việc ghi nhớ công ơn của bà trong lễ hát thờ ở đền Đồng Sâm cho thấy trong tâm thức dân gian ca trù có một lịch sử rất lâu đời. Đây là một sự thật lịch sử hay chỉ là một ý muốn tôn vinh, mong muốn cho nghề nghiệp của mình có một lịch sử lâu đời của người dân? Và liệu tài ca hát của bà hoàng hậu họ Trình có phải là ca trù ngày nay ta biết hay không? Đó là một vấn đề cần được tìm hiểu.

Cũng với một ý thức tôn vinh, truyền thuyết dân gian đã ghi lại những tấm gương liệt nữ là các ả đào. Đó là các đào nương họ Đào (Đào Xá, Tiên Lữ, Hưng Yên), họ Lương (Chuế Cầu, Ý Yên, Nam Định) đều dùng tiếng hát của mình làm diệu kế giết giặc Minh, phò vua Lê dựng nên nghiệp lớn. Ngoài ra còn có các ả đào dùng mỹ nhân kế phá súng thần công của giặc Tàu-Ô thời vua Lê chúa Trịnh. Các nàng đều được phong làm phúc thần, được lập đền thờ nghìn năm hương hỏa. Đặt vào hoàn cảnh lúc đó, trong một xã hội mà “xướng ca” bị coi là “vô loài” (Luật Hồng Đức cấm quan lại lấy phụ nữ làm nghề xướng ca, con nhà xướng ca không được đi thi mà Đào Duy Từ là một nạn nhân tiêu biểu) thì mới thấy nhân dân công bằng biết nhường nào, yêu quý và tôn kính các cô đào dám xả thân vì nghĩa lớn đến mức nào. Có thể vì chiến công của các cô đào mà nghề ca trù được trọng vọng lên nhiều nhưng cũng có thể vì yêu quý nghề hát của mình mà người dân đã thêu dệt thêm những chiến công oanh liệt cho các cô đào hát, hòa trộn lòng yêu mến tiếng hát lời ca vào lòng yêu nước thành một niềm tự hào hết mực về truyền thống dân tộc.

danday11

Truyền thuyết về các nhân vật lịch sử và dã sử:

Các truyền thuyết dân gian còn tìm gặp được sự tôn vinh nghề hát xướng của mình qua những nhân vật lịch sử và dã sử. Đó là các bậc vương phi giỏi hát ca, giàu lòng thương dân yêu nước. Trước hết phải kể đến nàng Bích Châu, vị nữ thần ngự ở ngôi đền thiêng nơi cửa bể Hà Tĩnh. Nàng ca nhi họ Nguyễn này được vua Trần Duệ Tông (1374-1377) yêu quý lập làm phi đã cùng vua xông pha dẹp giặc, dám mang thân liễu yếu đào tơ để làm yên sóng biển, giúp ba quân yên lòng vào chốn trận mạc. Sách Truyền kỳ tân phả chép nàng có tên là Nguyễn Cơ tự Bích Châu, còn sách Lê triều dã sử và Thần tích làng Kỳ Hoa thì chép nàng họ Nguyễn được vua phong là Tử Vân phu nhân. Sau này nàng còn hiển linh âm phù vua Lê Thánh Tông thắng trận, được tu sửa đền miếu và được sắc phong. Đền thờ nàng được lập ở xã Kỳ Hoa, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

Đo còn là cô gái gõ phách bị câm tương truyền là con của Nguyễn Trãi từ khi gặp vua Lê Thánh Tông (1460-1497) đã cất hát du dương khiến nhà vua yêu quý lập làm Trường Lạc hoàng hậu. Đó còn là vương phi Phùng Ngọc Đài (dưới thời Trịnh Tráng) nổi tiếng đẹp người hát hay đã xin được nhà Chúa cho dân Thiên Bản miễn phu phen tạp dịch, là người mà dân nhớ ơn nên hàng năm mở hội kéo chữ để bày tỏ tấm lòng làm nên tục kéo chữ ở hội Phủ Giày ngày 7 tháng 3 hàng năm. Cùng thời chúa Trịnh còn có ca nhi nổi danh đất kinh kỳ Nguyễn Thị Huệ rất thông tỏ lịch sử được chúa Trịnh Cương phong Ngọc Kiều phu nhân giữ chức nữ quan trông coi ban nữ nhạc. Nàng rất giàu lòng thương người đã cứu muôn dân khỏi ốm đau bệnh tật. Sống giàu lòng nhân, chết linh thiêng, nàng được phong làm phúc thần, dược lập đền thờ ở Hà Nội. Đó còn là vương phi Nguyễn Thị Kể (dưới thời Trịnh Doanh) chẳng những cứu được mấy trăm người dân vùng biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn khỏi tội chết mà còn cứu được hai làng Lôi Động và Lập Thạch, Vĩnh Phú khỏi bị triệt hai. Nàng còn thường xuyên bỏ tiền của ra cứu giúp người nghèo khó, làm việc công ích khiến dân hết lòng yêu thương kính phục. Các bậc vương phi, hoàng hậu này đều xuất thân từ nguồn gốc bình dân, hay nói cách khác là từ phong trào ca hát dân gian, bằng tài năng và đức độ của mình đã được chính quyền phong kiến thừa nhận ở những địa vị tột bậc cao sang. (Chính một ca nữ ở đời Lê Dụ Tông 1706-1729 sau khi được tiến vào phủ Chúa đã xin đước Chúa Trịnh Cương bãi bỏ lệnh cấm con nhà ca xướng không được đi thi. -Vũ trung tùy bút).

Thực tế cho thấy một điều là vào thời vua Lê Chúa Trịnh, hát ca trù đã phát triển rất sâu rộng trong dân gian với rất nhiều gương mặt tiêu biểu và đã có những giao thoa nhất định với nhã nhạc trong cung đình. Cũng sách Việt Nam ca trù biên khảo ghi rằng việc vua Lê Thánh Tông sách lập cô gái trong ban Nữ nhạc làm Trường Lạc hoàng hậu là vào năm Quang Thuận (1460- 1469) còn việc soạn hai bộ Đồng văn và Nhã nhạc thì xảy ra sau đó vào năm Hồng Đức (1470-1497). Dòng dân gian và dòng cung đình, nhã nhạc và tục nhạc đến đây tuy đã có phân biệt rất rõ ràng nhưng không thể nói là hoàn toàn cách biệt. Lại có thể thấy rằng, từ chức quản giáp mà vua Lê Thái Tổ đặt ra để quản lý các phường nhạc dân gian để tuyển lựa những người hát hay múa giỏi vào phục vụ triều đình (mà sau này được đọc chệch là képtrong hát ca trù) đến các giáo phường đời Lê trải đã mấy trăm năm nay thì sự ảnh hưởng qua lại đó tuy mạnh yếu có lúc khác nhau nhưng không thể không lưu lại những dấu ấn đáng kể. Những dẫn chứng nêu trên cho thấy một điều là sự thừa nhận của nhà Chúa đối với những thân phận đào nương bé nhỏ trước hết là sự thừa nhận những tài năng âm nhạc trong dân gian. Còn trong tâm thức nhân dân, các ả đào có công với nước dù vô danh hay có tên tuổi đều xứng đáng được tôn vinh. Để rồi từ những chỗ đứng cụ thể trong lịch sử, họ đã bước vào thế giới bất tử của nữ thần, hòa chung trong điện thờ linh thiêng của thần dân nước Việt. Sự tôn vinh, niềm tự hào chính đáng về truyền thống ca hát của các ban Nữ nhạc của nhân dân ta có khi không được các sử gia phong kiến ghi vào chính sử nhưng truyền thuyết dân gian đã bổ sung vào để ta có thể hình dung được một cách đầy đủ hơn tình cảm, suy nghĩ, cách ứng xử của lịch sử đối với một hiện tượng văn hóa truyền thống vốn được coi là phức tạp này.

danday23

2) – Truyền thuyết về tổ ca trù:

Lễ tế tổ là một sinh hoạt rất quan trọng trong các giáo phường song ngày tế tổ và đối tượng thờ thì mỗi nơi một khác. Theo cụ Chu Hà, ở Bãi Thủy, Chẩn Xuyên (Thiệu Yên), Ngọc Trung, Bàn Thạch (Thọ Xuân), Văn Trinh (Quảng Xương) của tỉnh Thanh Hóa là những nơi có dòng ca công phát triển, đã thờ chung vị tổ sư tên là Phong Quân. Ông này vốn là một hàn sỹ tiều phu, nhờ hát hay đàn ngọt đã chinh phục trái tim công chúa (không rõ thời nào), khiến công chúa bỏ cả cung đình đi theo tiếng gọi của nghệ thuật. Về sau cả hai vợ chồng đều trở thành nghệ sỹ dân gian, truyền nghề hát và được lập đền thờ ở xã Ngọc Trung. Đền thờ nay không còn chỉ còn dấu tích gọi là Dải Đàn và Túi Sênh (giống cây đàn đáy và túi sênh). Còn ở làng Lỗ Khê (xã Liên Hà, Đông Anh, Hà Nội), nơi có sinh hoạt hát ca trù nổi tiếng thì sự tích tổ ca đã được ghi lại ở bản thần phả Sự tích tổ sư giáo phường do Đông Các học sỹ Đào Cử soạn tháng giêng năm Hồng Đức thứ 7 (1476). Theo bản thần phả này, tổ ca trù là ông Đinh Dự và bà Đường Hoa, con ông Đinh Lễ đời Lê Thái Tổ, quê gốc ở Thanh Hóa. Đinh Lễ do đi đánh giặc nên đóng quân ở Lỗ Khê, và ở đây, Đinh Dự đã gặp tiên nữ Đường Hoa rồi nên duyên vợ chồng. Hai ông bà đã mở giáo phường truyền nghề hát ả đào khắp vùng. Mãn hạn trần, Đường Hoa về trời và Đinh Dự cùng hóa ngày 13 tháng 11. Sau khi họ mất, vua phong cho chồng là Thanh Xà đại vương, vợ là Mãn Đường Hoa công chúa, cho lập đền thờ ngay cạnh đình Lỗ Khê. Hàng năm, vào ngày hóa của họ, dân làng tổ chức cúng tế rất linh đình.

Sự tích Tổ cô đầu ở làng Cổ Đạm (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) là sự tích được kể chi tiết nhất. Truyền thuyết này có một số chỗ giống và khác với bản thần phả ở Lỗ Khê. Truyền thuyết kể rằng, người truyền bá nghề hát ca trù ở làng Cổ Đạm ra khắp nơi là Đinh Lễ, tên tự là Nguyên Sinh. Thuở bé, Sinh đã giỏi đàn ca, tính tình rất phóng khoáng, thường dùng lời ca tiếng đàn để tiêu sầu, làm bạn cùng cây cỏ. Lớn lên, Sinh được tiên ông trao cho khúc ngô đồng và mẫu vẽ đàn để làm ra cây đàn đáy, khiến cho tiếng hát trở nên tuyệt hay có một không hai. Từ đó chàng đi ngao du khắp nơi, tiếng đàn của chàng đã giúp cho nàng Bạch Hoa (ở Thường Xuân, Thanh Hóa) khỏi bệnh câm và họ nên duyên vợ chồng. Cũng như Trường Lạc hoàng hậu đời vua Lê Thánh Tông, Bạch Hoa đã dùng tiếng hát để giải tỏa nỗi câm lặng trong lòng, nhờ tiếng hát mà hồi sinh, tái tạo một cuộc đời mới. (Phải chăng đó là ẩn ý sâu xa của tác giả dân gian về ý nghĩa hát ca trù?). Hai vợ chồng trở về Cổ Đạm lập nghiệp, chồng dạy đàn vợ dạy hát, đệ tử rất đông. Sau Đinh Lễ được tiên ông đưa về trời, hóa thành con chim xanh. Bạch Hoa cũng vì bệnh mà mất hóa thành cây đào đỏ. Vì thế, chồng được phong là Thanh Xà đại vương, vợ được phong là Mãn Đào Hoa công chúa, sắc cho dân lập đền thờ, lấy ngày 11 tháng Chạp làm ngày giỗ. Ở Hưng Yên, Hà Đông, Nam Định, Hà Nội đều có đền thờ hai vị tổ sư này. Riêng ở giáo phường Phượng Mỗ (Hà Tây) thì lại thờ một vị tổ sư có tên là Đinh Triết. Họ Đinh này có phải là hậu duệ của Đinh Lễ ở Cổ Đạm hay không, chưa đủ cứ liệu để chứng minh.

danday20

Dân ca công Ngọc Trung (Thanh Hóa) thì lưu truyền rằng, nơi đây xưa kia các giáo phường ca công trong cả nước đều về cúng lễ. Song sử sách không thấy lưu giữ được tên tuổi của các nghệ nhân, các tác giả và các sinh hoạt giáo phường ở đây. Như vậy, có thể ở Ngọc Trung (Thanh Hóa), vào một giai đoạn nào đó ca trù đã phát triển và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các vùng khác nên dân ca công ở đây đã tôn vinh vị tổ của mình thành tổ nghề ca trù. Song cứ liệu sách vở thì đã bị thất truyền. Còn ở Cổ Đạm, những tài liệu còn lại đã cho thấy nơi đây trong sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố (sẽ nói ở phần sau), chắc chắn đã có một giai đoạn ca trù phát triển rực rỡ, có ảnh hưởng tới các giáo phường lân cận cũng như các vùng khác trong cả nước. Sự phát triển sâu rộng ca trù trong đời sống dân gian một cách đột khởi khiến cho người dân Cổ Đạm tin rằng, vị tổ nghề đã xuất hiện nơi đây và truyền nghề cho cả nước.

Có một vấn đề khá lý thú khi tìm hiểu truyền thuyết tổ ca trù là mối quan hệ giữa nguồn gốc ca trù, thời điểm xuất hiện ca trù và vấn đề tổ ca trù. Các nhà nghiên cứu rất quan tâm đến vấn đề: Ca trù thoát thai từ đâu? Và họ đã tìm ảnh hưởng của các nền nhạc ngoại lai vào ca trù (Chiêm Thành, Trung Quốc, Ả Rập). Nhưng sau khi rất khó tìm thấy dấu vết của ảnh hưởng ngoại lai, các tác giả quay về xu hướng coi nó là một yếu tố nội sinh. Nhạc sĩ Phạm Duy đã phỏng đoán rằng: “Hát ả đào khi xưa đã theo âm luật Trung Hoa. Tuy nhiên nếu ta nghiên cứu số điệu hát ả đào còn lại thì ta thấy nhạc ngữ vẫn rất Việt Nam. Ngay một nhạc cụ rất quan trọng của hát ả đào là cây đàn đáy tuy có mặt từ lúc hát ả đào mới hình thành (TK XV) cũng là một cây đàn hoàn toàn Việt Nam”. Nhà văn hóa Nguyễn Văn Ngọc thì hào hứng khẳng định: “Văn hát nói thật là một lối văn đặc biệt của nước ta cũng như các lối phong dao, lối lục bát đặc biệt vậy. Thơ hay phú, văn tế hay văn bia…còn bảo bắt chước, mô phỏng của Tàu ra chớ hát nói thì thật là riêng của ta, tự ta đặt thành lối, xưa nay chưa ai từng thấy có điệu từ, khúc hay nhạc phủ nào của Tàu giống thế”.

danday28

Quay về yếu tố nội sinh, các tác giả đã nghiên cứu sự xuất hiện của ca trù trên dòng phát triển của nền ca vũ nước ta. Nhiều tác giả dẫn Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sỹ chi tiết vua Lý Thái Tổ ban thưởng cho Đào Thị, do đó, con hát được gọi là đào nương, và sách Khâm định Việt sử chép việc vua Lý Thái Tổ đặt chức quản giáp (sau đọc chệch là kép) để khẳng định ca trù ít nhất cũng có từ đời Lý. Tác giả sách Việt Nam ca trù biên khảo viết: “Con người hễ biết nói là biết múa hát để bày tỏ tình cảm của mình và múa hát theo một hình thức nào đó thì được gọi là ca trù. Tuy nhiên ca trù tiến hóa không ngừng, về khúc hát cũng như về âm luật. Ca trù đời Lý không phải ca trù đời Lê ; ca trù đời Lê không phải ca trù đời Nguyễn”. còn theo tác giả sách Đặc khảo dân nhạc Việt Nam thì ca trù ra đời khoảng thế kỷ XIV,là “hậu thân của những tổ chức phường chèo bội: đào nương dưới quyền của người quản giáp (gọi nôm na là ông trùm), đi múa hát trong những cuộc lễ thần (hát cửa đình) hoặc trong những đám tiệc của nhà quan (hát cửa quyền)”. Cũng theo Phạm Duy thì “tổ chức của hát ả đào lúc đó rất là chặt chẽ, không có tỉnh nào của Bắc Việt là không có hát ả đào (hai tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa ở Trung Việt cũng có tổ chức), mỗi huyện có đến hai ba làng ả đào và hai ba huyện kết lại thành một đoàn thể hát ả đào. Ngoài việc hát cửa đình, hát cửa quyền, đào nương còn đi hát khao, hát vọng tại các nhà giàu nữa”. Các tác giả Ngô Linh Ngọc và Ngô Văn Phú có nêu một nghi vấn nhỏ về hai nhân vật truyền thuyết là Trình hoàng hậu (TK II tcn) và ca nữ Phạm Thị Trân được vua Đinh Tiên Hoàng phong chức Ưu Bà dạy múa hát trong quân đội. Tác giả viết: “Không có thư tịch nào cho biết hát múa thời Trình hoàng hậu và Ưu Bà Phạm Thị Trân như thế nào, chỉ có môn ca trù còn truyền lại đến ngày nay với khá rõ ràng về cứ liệu và hình thức hoạt động của nó”. Khi khảo sát các bộ phận của ca trù, về hát cung đình tác giả nêu dẫn chứng thời Nguyễn mạt với việc “lai kinh chúc hỗ” còn khảo sát về hát cửa đình ở nông thôn thì tác giả đã đẩy mốc thời gian về rất xa: “Đây là khu vực giáo phường với những luật lệ chặt chẽ nhất của giới ca trù từ ngàn xưa truyền lại”.

Sơ qua như vậy có thể thấy thời điểm hình thành ca trù có rất nhiều giả thuyết. Thế mà tổ ca trù lại xuất hiện vào đời Lê (theo Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề là cuối Lê), một giai đoạn mà ca trù đã phát triển rất rực rỡ, nhiều lối hát đã định hình. Thậm chí, theo tác giả Vũ trung tùy bút thì “cuối Lê chỉ có những ả đào già mới biết những xoang điệu cũ”, có nghĩa là ca trù đã trải qua một giai đoạn cực thịnh trong những giai đoạn của mình. Tại sao lại như vậy? Tìm hiểu vấn đề này, theo chúng tôi, cần đặt sự phát triển của ca trù trong mối liên hệ nhiều chiều với các nguồn tư liệu và các cách giải thích. Và chúng tôi thử tìm tìm hiểu sự giao thoa của các mối liên hệ ấy qua một vùng còn lưu giữ được khá nhiều tài liệu để đối chiếu, đó là làng Cổ Đạm.

danday29

3) – Nôi ca trù Cổ Đạm

Truyền thuyết về đàn đáy:

Một chi tiết rất đáng chú ý trong các truyền thuyết về tổ nghề ca trù là truyền thuyết về cây đàn đáy. Đàn đáy là một nhạc cụ không thể thiếu được của hát ca trù mà hẳn ai cũng biết rằng “phi đàn đáy bất thành ca trù”. Trong tất cả cá truyền thuyết về tổ ca trù ở nhiều vùng mà hiện nay chúng ta còn có được chỉ có vùng Cổ Đạm (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) là có truyền thuyết về sự ra đời của cây đàn đáy. Theo truyền thuyết thì tiên ông đã ban cho Đinh Lễ khúc ngô đồng và tờ giấy vẽ kiểu mẫu đàn để ông chế tác ra cây đàn đáy. Tiên ông có dặn rằng: “Tiếng đàn gẩy lên sẽ trừ dược ma gủy, người ốm nghe khỏi bệnh, người buồn phiền nghe hóa vui vẻ”. Và cũng theo truyền thuyết, khi thành hình, chiếc đàn đáy có công hiệu phi thường, chẳng những cảm hóa được vạn vật mà còn tái tạo được cuộc đời mới cho con người (chữa được bệnh câm cho nàng Bạch Hoa). Truyền thuyết còn kể về cái tên của đàn là do “khúc đàn cuồn cuộn như nước chảy ra biển sâu không thấy đáy, sau mới bỏ chữ không đi, thành ra đàn đáy, có tên chữ là vô để cầm “(theo Việt Nam ca trù biên khảo). Có phải ngẫu nhiên chăng mà truyền thuyết về tổ ca trù gắn liền với việc chế tác ra cây đàn đáy và việc truyền bá nghệ thuật chơi đàn đáy? Chắc chắn không phải ngẫu nhiên bởi vì ca trù, như chúng ta biết ngày nay đã không thể tách rời với cây đàn đáy. Như thế có nghĩa là, cách đây mấy trăm năm, tính đến khi có cây đàn đáy, thì ca trù đã có một bước tiến nhảy vọt về chất để định hình thành một diện mạo ổn định, có một lề luật nội tại chặt chẽ, một sự hài hòa ở đỉnh cao chưa từng có. Sự kiện ý nghĩa này đáng được ghi thành một cái mốc lịch sử trong sự phát triển ca trù, người chế tác cây đàn đáy đáng được thêu dệt thành một thiên truyền thuyết đầy thơ mộng, đáng được tôn vinh thành một tổ nghề. Do đó, điều lạ là ca trù có thể có từ đời Lý (như một số truyền ngôn) mà đến cuối đời Lê mới xuất hiện tổ ca trù trở nên dễ hiểu.

Nôi dân ca Nghệ Tĩnh:

Chúng ta biết, làng Cổ Đạm nằm trong cái nôi dân ca Nghệ Tĩnh với hơn 100 điệu ru, ví, dặm, hò, vè… Đó chắc chắn là một miếng đất rất tốt để làm nảy nở và nuôi dưỡng một thể loại thơ nhạc đặc biệt như ca trù. Hơn nữa rất cần chú ý gợi ý của tác giả Nguyễn Đức Mậu về sự liên quan giữa dân ca Nghệ Tĩnh và ca trù: Đó là việc dùng “hơi trong” của ca trù với nguyên câm “ư” làm nền (khác với “hơi ngoài” của quan họ và chèo) và tiếng đưa hơi “ư, hư, ni, nị” tạo giọng trầm của hát dặm Nghệ Tĩnh. Ý nghĩ về việc hát ca trù và hát dặm có dùng một quê mẹ văn hóa là rất đáng suy nghĩ.

Những danh nhân tài hoa:

Có lẽ không có thể loại âm nhạc dân gian nào lại gắn bó chặt chẽ với tên tuổi của các văn nhân tài hoa như ca trù. Và chính Cổ Đạm là nơi lui tới hát xướng thường xuyên của các bậc học giả tài hoa, giỏi chữ và đam mê ca hát nổi tiếng như Nguyễn Khản, Nguyễn Công Trứ. Đặc biệt là Nguyễn Công Trứ, người có công hoàn chỉnh hát nói, đưa hát nói thành một thể thơ dân tộc, người mà Nguyễn Văn Ngọc đã đánh giá là “có sở trường về nghề ca trù”, tuy không phải là tổ nghề nhưng con nhà nghề và những người đi hát nên suy tôn và thờ tự cụ. Phải là một cái nôi ca trù mới sản sinh ra được Nguyễn Công Trứ và nhờ có Nguyễn Công Trứ thì ca trù mới có được bộ mặt ngày nay như chúng ta thấy.

danday27

Như vậy, Cổ Đạm vừa chắt lọc được hồn tinh túy của dân ca cổ truyền, vừa chứng kiến được sự phát triển đột biến tự thân của ca trù, vừa tiếp nhận được sự sâu sắc và uyên bác của các bậc thâm nho, sự phóng khoáng ngang tàng của các bậc trượng phu. Những yếu tố đó, cùng với lòng say mê của người dân, Cổ Đạm đã trở thành trung tâm đỉnh cao nghệ thuật đặc sắc, lòng đam mê một ngành nghệ thuật cùng với sự tích vị tổ nghề của mình. Đằng sau lớp vỏ huyền ảo, truyền thuyết tổ ca trù Cổ Đạm đã chứa đựng nhiều lớp trầm tích của văn hóa, lịch sử và xã hội. Sự hình thành truyền thuyết này chắc chắn không phải chỉ một lúc mà được hình thành từ với rất nhiều sự bổ sung cho đến khi nó phát triển đầy đặn như ngày nay ta có. Do đó không phải ngẫu nhiên, rất nhiều nơi trong cả nước thờ tổ cô đầu Cổ Đạm, thừa nhận Cổ Đạm là cái nôi ca trù trong khi lịch sử ca trù đã có tới hàng ngàn năm và các vùng hát ca trù nổi danh thì có khắp hai miền Trung Bắc. Ngày nay, sau rất ngiều năm ngừng hoạt động, sinh hoạt hát ca trù lại được khôi phục ở Cổ Đạm. Theo ông Nguyễn Ban, ở Cổ Đạm bây giờ đã có câu lạc bộ ca trù và ở Nghi Xuân đến năm 1998 đã có ba thế hệ hát ca trù. Đó là những tín hiệu rất đáng mừng đối với việc khôi phục lại một di sản văn hóa truyền thống đang có nguy cơ mai một.

Tuy nhiên, cũng không vì những đoán định này mà quên rằng, việc tìm hiểu nguồn gốc hình thành, thời điểm xuất hiện, nơi phát tích tổ ca trù đã được mở rất rộng về thời gian và không gian với rất nhiều giả thiết. Cho nên ý tưởng ca trù vượt tầm đơn vị làng mà nhiều nhà khoa học đã nêu ra là rất có sức thuyết phục.

Theo dòng truyền thuyết, ngược với thời gian, chúng ta thấy rằng, ca trù luôn gắn bó số phận mình với lịch sử dân tộc. Bỏ qua một cách nhìn tính đếm về số lượng chiến công mà các đào nương lập được hay số lượng các phi tần vừa giỏi hát ca vừa giàu lòng yêu nước, hơn hết thảy mọi điều, ca trù là tiếng nói đích thực của đời sống tinh thần của người dân. Là một sinh hoạt âm nhạc gắn với lễ nghi long trọng ở đền miếu, ca trù là niềm thành kính thiêng liêng của quần chúng. Là một thú chơi tao nhã, ca trù là tiếng nói cao sang khoáng đạt của đời sống tâm hồn con người trước chiều sâu thẳm khôn cùng của đời sống. (“ Dù thế nào văn hát nói cũng chỉ là một lối văn chơi mà chỉ là văn chơi cũng đã đủ lắm rồi”- Nguyễn Văn Ngọc). Bởi vậy, phục hồi và phát huy ca trù là một việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa trong các sinh hoạt lễ hội truyền thống, trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, trong việc làm phong phú đời sống tinh thần của con người trong xã hội công nghiệp hôm nay.

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Văn Ngọc- Đào nương ca, Vĩnh Hưng Long thư quán, Hà Nội, 1932.
2. Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề- Việt Nam ca trù biên khảo. Sài Gòn, 1962.
3. Phạm Duy- Đặc khảo về dân nhạc ở Việt Nam. Nxb Hiện Đại, Sài Gòn, 1972.
4. Chu Hà – Hát Cửa đình Lỗ Khê. Sở văn hóa thông tin Hà Nội, 1980.
5. Ngô Linh Ngọc và Ngô Văn Phú – Tuyển tập thơ ca trù. Nxb Văn học Hà Nội. 1987.
6. Nguyễn Đức Mậu – Vấn đề tổ quê ca trù. Tạp chí văn học số 2/1998.
7. Nguyễn Ban – Hát ca trù ở Cổ Đạm. Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 172, tháng 10 năm 1998.

 

Đàn Đáy.
Đàn Đáy.

Đàn Đáy chỉ có trên đất nước Việt Nam

(GS Trần Văn Khê)

Đàn đáy chỉ có trên đất nước Việt nam

Đàn đáy cũng là một nhạc khí độc dáo. Thùng đàn hình chữ nhựt hay hình thang. Mặt đàn băng cây ngô đồng, Mà đàn mặc dầu mang tên là đàn đáy mà không có đáy. Vì thế ngày xưa cũng có tên là “vô để cầm” (đàn không đáy). Vì thế, khi cố thi sĩ Nguyễn Hải Phương làm mấy câu thơ vịnh đàn đáy đã viết:

Tên em như có mà không
Ba dây dẫn sóng trăm sông về nguồn.
Ca trù đổ hột phách giòn
Tuổi phai xanh, chạm tiéng đàn lại xanh.

Đàn có ba dây tơ, cần thật dài, 10 hay 11 phím thật cao. Phím đầu đặt trên cần giữa chỗ mắc dây và trục. Đầu đàn không có cầu đàn. Nhờ vậy mà nhạc công có thể “nhấn chùn” tức là nhấn trên phím cao hơn mà chữ đàn không cao hơn. Không cao hơn mà màu âm khác, nên cùng một độ cao mà một chữ gọi là Tinh, còn chữ kia gọi la Tang, cho thấy trong truyền thống âm nhạc Việt Nam, màu âm được để ý một cách đặc biệt. Phím đàn lại gắn theo cách đặc biệt làm cho những chữ đàn không theo thang âm bình quân của piano đã đành, mà cũng không theo thang âm ngũ cung trong ca nhạc Huế hay đờn ca tài tử. Khi đàn, nhạc công phải nắn dây, và tay mât khi vê, khi vẫy, lúc lia lúc đánh hợp âm ra tiếng “Dinh” Nhờ dây dài mà chỉ dùng phân nửa dây phía gần thùng đàn, khi nhấn thường hay nhấn chùn, tiếng đàn đều nhờ độ rung nhẹ của dây làm cho ta nghe như tiếng dàn “mượn chữ”, lung linh, động mà không tịnh.

danday1

Đàn lại có một truyền thuyết. Tuy chưa được thống nhứt, nhưng theo tương truyền thì dưới triều Lê, trong gia đình của Đinh Lễ, theo sách của hai tác giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề, Đinh Dự theo các nghệ nhân ở Lỗ Khê, được tiên trao cho gỗ và mẫu cây đàn, nói rằng cây đàn nầy ở trên thượng giới có phép mầu, làm cho người nghe đàn, đang buồn thấy vơi sầu muộn, đang bịnh thấy người khoẻ ra. Nhờ nghe tiếng đàn mà Bạch Hoa tiểu thư đang bị bịnh câm, nói lại được để khen tiếng đàn hay. Bạch Công cho hai trẻ vầy duyên cầm sắt và đôi vợ chồng họ Đinh sau khi truyền lại cho môn sinh nghệ thuật của Ca trù, theo Thầy về Trời và còn được Vua nhà Lê phong cho chồng tước Thanh Xà Đại vương, và cho cờ tuớc Mãn Đà Hoa công chúa. Hai vị được thờ phụng tại Lỗ Khê như hai vị tổ trong truyền thống ca trù, một cây đàn chỉ có trên đất nước Việt Nam mà không có trên bất cứ nước nào trên thế giới, ba dây mà khác hẳn San xian của Trung quốc, Shamisen của Nhựt bổn, San dze của Mông cổ. Có cách gắn phím, cách đàn, kỹ thuật, nghệ thuật độc đáo, được tạo ra trên đất Việt Nam theo một truyền thuyết Việt Nam, tiềng đàn nghe trầm ấm, gân guốc, chững chạc, trang nghiêm, sâu sắc. Tiếng đàn không theo tiếng ca từng chữ từng hơi, mà thuờng thì mở đường dẫn lối cho tiếng ca. Có lúc đi rất gần tiếng ca để hỗ trợ, có khi vượt ra xa tiếng ca để gây sự chờ đợi đàn ca gặp lại ở cuối câu thơ. Có khi từng chữ, từng câu chân phương trang trọng, có khi hoa lá , bay bướm, phóng túng, trong đoạn lưu không để cho đào nương nghỉ hơi, cho người nghe thích chí.

Thang âm điệu thức rất đặc biệt: Thang âm, điệu thức, tiết tấu cũng khác hẳn các bộ môn nhạc cổ Viêt Nam.

Đàn đáy gắn phím theo thang âm rất lạ: quảng 8 chia ra 7 cung đồng đều. Thang âm nầy chỉ gặp trong thang âm lý thuyết của hai dân tộc Thai và Khmer, tại Thái lan và Kampuchea ngày xưa. Ngày nay các mộc cầm Ranad Tháilan và Roneat Khmer đã bị các nhạc sĩ nước ngoài hay những nhạc sĩ trẻ vọng ngoại làm sai đi vì muốn cho các nhạc khí đó có thể dùng đề đàn được những bản phương Tây. Thang âm đó có trong điệu Hò mái nhì, nhưng cách rung nhấn khác hẳn.

danday2

Cấu trúc thang âm rất lạ: người học đàn đáy phải biết nét nhạc căn bản: Tính Tinh Tang Tình Tính Tinh Tang. Cách chép nhạc, và xướng âm cũng đặc biệt, không dùng Đô Rê Mi, không dùng Cung Thương Giốc Chủy Vũ, không dùng Hò Xự Xang Xê Cống. Ngày xưa trong sách Vũ Trung tùy bút của Phạm đình Hổ còn ghi lại mấy chữ đàn đáy:

Tính Tĩnh, Tình Tinh, Tung Tàng Tang.

Từ chữ Tính đến chữ Tinh hay Tang có một Quảng ba trung bình, giữa Quảng ba trưởngthứ. Quảng ba đó trên thế giới chỉ có Ba tư, và các nước thuộc truyền thống nhạc Á rập là có dùng thôi. Nhưng khác với truyền thống Á rập là người Việt miền Bắc nhấn vào bực dưới của Quảng 3 trung bình trong khi nhạc sĩ Á rập nhấn bực trên của Quảng 3 trung bình. Khi lời ca kết vào chữ Tang thì tiếng ca phải vuốt từ Tính xuống Tang.

Điệu thức có Hai Cung: Cung Bắc, Cung Nam. Nhưng khác hẳn Điệu Bắc Điệu Nam trong ca nhạc Huế, hay đờn ca tài tử. Cấu trúc âm thanh, cách thể hiện hai Cung rất tế nhị.

Trong bài “Thỏng Tỳ bà”, đàn và hát phải theo 5 cung: Cung Bắc, Cung Nam, Cung Pha, Cung Nao, Cung Huỳnh.

danday26

Đàn Đáy

(Tạ Thâm)

Đàn Đáy ngày xưa tên là Vô đề cầm (nghĩa là đàn không có đáy), đàn Đáy còn có tên là Đới cầm. Đàn Đáy có dọc đàn (cần đàn) rất dài, có phím cao, có thể tháo ráp để di chuyển được vì cần đàn Đáy rời ra với thùng đàn, thùng đàn có 1 lỗ để cắm cần đàn vào trong thùng với một miếng tre để nêm chặt giữa cần đàn và thùng đàn. Đàn Đáy là một nhạc khí dây gảy độc đáo của dân tộc Việt, ở miền Bắc đàn Đáy xuất hiện từ đời nhà Lê (thế kỷ XV- XVIII). Đàn Đáy có 3 dây khác hẳn đàn Tam là mặt đàn làm bằng gỗ chứ không bịt da trăn, đàn Đáy có đủ khả năng của đàn Nguyệt, đàn Tam và đàn Tỳ Bà.

Để các bạn hiểu rõ hơn về cây đàn Đáy đặc biệt do người Việt ta sáng tạo, Tạ Thâm xin giới thiệu với các bạn về cây đàn Đáy cũng như các kỹ thuật chơi.

Đàn Đáy là một loại đàn đặc biệt do người Việt Nam sáng tạo, là loại nhạc khí chỉ có ở Việt Nam, trên thế giới không có một cây đàn nào giống cây đàn Đáy về hình dáng, cách lắp phím và cách đánh. Đàn Đáy có đặc tính dân tộc rõ rệt với đặc điểm độc đáo là: ở ngón nhấn ở mọi cây đàn khác âm thanh sẽ nghe cao lên trong lúc ở đàn Đáy thì với ngonsnhaans trong khi bấm lên dây, miết về phía bầu vang làm cho đoạn dây từ cung phím đến bộ phận mắc dây chùng xuống âm thanh sẽ nghe thấp đi cách đàn có tiếng lia, tiếng vẫy, tiếng mượn…

Hình thức cấu tạo:

1- Thùng đàn
2- Dọc đàn (cần đàn)
3- Dây đàn
4- Bộ phận lên dây
5- Phím gảy đàn

Thùng đàn: hình thang cân, đáy lớn ở trên rộng khoảng 24cm, đáy bé ở dưới rộng khoản 20cm, cạnh huyền khoảng 35cm. Mặt đàn làm bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc, thành đàn cao khoảng 9cm bằng gỗ cứng. Đáy đàn khoét một khoảng trống hình chữ nhật dài 20cm, rộng 9cm ở sau lung. Trên mặt đàn có gắn một bộ phận để mắc dây gọi là ngựa đàn.

Dọc đàn (cần đàn): rất dài, khoảng 1m18 bằng gỗ cứng, đặc biệt từ đầu đến 3/5 cần đàn không gắn phím, 2/5 phần còn lại gắn 8 phím và 2 phím gắn trên mặt đàn (có gắn đến 11 hoặc 12 phím). Các phím đều cao và bằng tre được gắn dựa theo thang âm 7 cung chia đều của dân tộc.

danday_dd1

Dây đàn: có 3 dây đàn bằng tơ se, được lên cách nhau quãng 4 đúng, đàn Đáy có truyền thống koong bao giờ đánh âm dây buông.

Ví dụ (132-1)

danday_dd2

Bộ phận lên dây (cái thú): đầu đàn Đáy hình lá đề, có 3 trục gỗ để lên dây, ở phía cuối thân đàn có ngựa đàn để mắc dây. Bộ phận lên dây được cải tiến để dây không bị chùng xuống.

Phím gảy đàn: nghệ nhân gảy đàn bằng miếng gảy tre hoặc nhựa với những ngón gảy, hất, rung mổ…

Màu âm, tầm âm

Màu âm đàn Đáy hơi đục, ấm, có chiều sâu, thích hợp cho những tình cảm lắng. Tầm âm đàn Đáy có thể hơn hai quãng 8. Từ Rê đến Đô3 (từ d đến c3). Ví dụ: (132-2). Khoảng âm dưới: tiếng đàn ấm nhưng hơi mờ đục, khoảng âm giữa: tiếng đàn thanh thoát, khoảng âm cao: tiếng đàn trong sang gắn như đàn Nguyệt.

danday_dd3

Kỹ thuật diễn tấu

Tư thế biểu diễn: Ngồi xếp chân trên chiếu.

Kỹ thuật tay trái: Đàn Đáy do dọc (cần đàn) rất dài, phím đàn rất cao nên kỹ thuật tay trái có những ngón độc đáo như ngón nhấn, ngón láy, ngón chùng, tiếng đàn ngón luyến nghe mềm mại, độc đáo.

Ngón nhấn: (nhấn bằng gân tay: nhấn và miết dây đàn cho chùng lại). Ngón nấn tạo cho hai âm nối liền nhau, nghe mềm mại.

Ngón chùng: dùng dầu ngón tay (thường là 2 ngón) trong khi bấm lên dây, miết về phía bầu vang làm cho đoạn dây từ cung phím ấy đến bộ phận mắc dây (cái thú) chùng lại, âm thanh trở nên thấp hơn âm thanh thường đánh, đây là ngón độc đáo chỉ riêng đàn Đáy mới có.

Ví dụ (135-5)

danday_dd4

danday_dd5

Ngón rung: là ngón tạo độ ngân dài của tiếng đàn và làm tiếng đàn mềm đi ở những âm cao, âm thanh đỡ khô khan, tình cảm hơn. Dây buông cũng rung được bằng cách nhấn nhẹ ở đoạn dây sát dưới trục dây.

Ngón mổ: tay trái ngón 1 bấm vò một cung phím, tay phải gảy dây, khi âm thanh vừa phát ra, ngón 2 hoặc 3 bấm mạnh vào cung phím khác (thường là liền bậc cao hoặc thấp) âm thanh từ cung phím nầy vang ;lên mà khong phải gảy đàn. Âm luyến nghe được do một phần của dây đàn còn chấn động, mộ phần do ngón tay mổ vào cung phím tạo them chấn động.

Ví dụ (137-4)

danday_dd6

Đàn Đáy thường được sử dụng để đệm cho hát Ả Đào, cùng với phách (do người hát gõ), cùng với Trống Chầu (người thưởng thức đánh) và đôi khi đệm hát cho ngâm thơ. Gần đây có độc tấu đàn Đáy, đàn Đáy được đưa vào dàn nhạc Dân tộc Tổng hợp là nhạc khí mang tính màu sắc.

Ở khu vực Đông Nam Á và trên khắp thế giới không có đàn nào có hình dáng, kích thước, cách đàn giống như đàn Đáy Việt Nam, đàn Đáy mang tính dân tộc rất rõ rệt.

NSND Xuân Hoạch trong một lần đi diễn.
NSND Xuân Hoạch trong một lần đi diễn.

Độc đáo cây đàn đáy cổ tuổi đời gần 1 thế kỷ

(Phạm Hạnh)

Điểm quý báu của cây đàn không chỉ nằm ở âm thanh, chất liệu mà nó còn ở giá trị vô hình về thời gian và những cống hiến không mệt mỏi cho nghệ thuật ca trù nước nhà của nhiều đời nghệ nhân, nghệ sĩ.

Trường cổ đại thanh

Sau rất nhiều lần hẹn gặp, cuối cùng tôi cũng có may mắn được đến tư gia của NSND Nguyễn Xuân Hoạch để có cơ hội tận mắt chiêm ngưỡng cây đàn đáy vốn được người trong giới âm nhạc dân tộc mệnh danh là cây đàn đáy cổ nhất Long Thành.

Đến với ca trù như một sự tình cờ, bởi trước đó NSND Xuân Hoạch theo học đàn nguyệt. Ông là một trong những người đầu tiên được trường âm nhạc Việt Nam nay là Học viện âm nhạc Việt Nam được cử đi học đàn đáy để hiểu về môn ca trù và phục vụ cho đoàn ca múa nhạc dân tộc. Lại thêm một sự tình cờ tưởng chừng như duyên tiền định.

Năm 1982, sau khi tốt nghiệp, ông về công tác tại Đoàn Ca múa Trung ương (Nhà hát Ca múa nhạc Quốc gia Việt Nam hiện nay) và được nhà hát tin tưởng giao cho một cây đàn đáy. Trước đó, vào năm 1972, hướng tới phát triển các loại hình nghệ thuật dân gian, Đoàn Ca múa Trung ương quyết định chi 4.200 đồng (tương đương khoảng 2 cây vàng) để mua cây đàn này. Thời điểm ấy, lương của các nghệ sĩ còn rất thấp chỉ khoảng 50-80 đồng, nhưng Đoàn vẫn dành số tiền khổng lồ ấy để mua lại cây đàn.

Sau khi đánh mấy điệu cơ bản, NSND Xuân Hoạch tỉ mỉ giới thiệu cho tôi nghe về cây đàn. Lúc nhận cây đàn từ thầy Đinh Khắc Ban, ông đã được nghe kể về sự kỳ công khi vị thân sinh ra cụ Ban chế tác cây đàn này cách đây gần trăm năm. Khi làm đàn, nguyên liệu phải được chuẩn bị chừng 3-4 năm trước. Cần đàn dài khoảng 1,5m được đẽo từ gỗ lim nguyên khối. Thành đàn làm bằng gỗ trắc mật, mặt hộp đàn làm từ gỗ vàng tâm. Đây đều là những loại gỗ quý và rất khó để tìm kiếm được. Bộ phím của cây đàn này được làm từ thân cây tre đực, phơi sương phơi nắng qua nhiều năm liền nên rất chắc chắn. Ở giữa các phím có chế tạo một rãnh nhỏ để đặt các suốt tre.

NSND Xuân Hoạch bên cây đàn cổ.
NSND Xuân Hoạch bên cây đàn cổ.

Dây đàn được làm bằng dây tơ rất tỉ mỉ, kỳ công. Chính từ những nguyên liệu đặc biệt ấy mà âm thanh của cây đàn cũng rất đặc trưng, vừa trầm đục nhưng lại chắc nịch và rất vang. Có lẽ lý do khiến cụ thân sinh của nghệ nhân Đinh Khắc Ban kỳ công chế tác cây đàn này không chỉ vì cụ muốn con trai mình có được tiếng đàn hay nhất mà còn như gửi gắm vào đó cả tâm huyết một đời với nghệ thuật ca trù.

Theo tục lệ gia đình, cụ Đinh Khắc Ban còn được làm lễ đóng đàn trước tổ tiên. Với niềm đam mê với môn nghệ thuật truyền thống được cha truyền dạy lại, cụ Đinh Khắc Ban không ngừng học hỏi để trở thành một kép đàn nổi danh. Sau này, nhắc đến ca trù thế kỷ 20 người ta không thể không nhắc đến những cái tên như ca nương Đinh Thị Bản và kép đàn Đinh Khắc Ban. Không chỉ sinh sống và tham gia vào các giáo phường ca trù ở Khâm Thiên (Hà Nội), cụ Ban còn cùng cây đàn bôn ba khắp nơi để diễn hát ca trù. Cụ thường đem theo cây đàn, lọc cọc đạp xe sang các vùng Lỗ Khê, Sơn Tây (Hà Tây cũ) hoặc xuống những vùng liên quan đến ca trù để đàn hát, đem ca trù đến với công chúng.

Lại nói về cây đàn, ngày nay do sự khó khăn của nguyên liệu nên người ta hay dùng dây nilon để thay thế dây đàn. Tuy nhiên, theo NS Xuân Hoạch, để đàn đáy có được âm sắc cổ kính và giống với tiếng người nhất thì dây đàn phải làm từ dây tơ. Để có được những cuộn dây ấy, ông đã phải xuống tận làng lụa Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Nội) để tìm mua những sợi tơ vừa được tằm nhả ra. Có tơ rồi, NS Xuân Hoạch kỳ công xe đi xe lại. Chập hai sợi tơ thành một, rồi từ những sợi to ấy lại xe thành một dây đàn. Để dây tơ bền và dùng được lâu, ông đã tham khảo cách làm dây của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc.

Giữ cho âm sắc mãi ngân vang

NS Xuân Hoạch năm nay đã ngoài 60 tuổi. Năm 1982 ông được nhận cây đàn từ Đoàn ca múa nhạc Trung ương. Nhẩm tính, cây đàn cũng đã bên ông nửa đời người. Ông hiểu được, đó không chỉ là một nhạc cụ bình thường mà còn là một chứng nhân cho một thời kỳ dài lắm “truân chuyên” của nghệ thuật ca trù và tình yêu của các nghệ nhân, nghệ sĩ. Do vậy, từ thời khắc nhận đàn, NS Xuân Hoạch đặc biệt coi trọng việc lưu giữ và phát triển loại hình nghệ thuật đặc sắc này.

Thời đó, để tìm được đào nương cho mình đệm đàn không phải dễ, nên ông đành luyện chay cả ngày. Sau này, khi được đi diễn, được sự ủng hộ của các NS trong đoàn ca múa nhạc mà đặc biệt là NSND Thanh Hoài, NSƯT Đoàn Thanh Bình thì ông mới có nhiều cơ hội đệm đàn hơn. Ông đã cùng cây đàn tham gia nhiều hội diễn, cuộc thi và đạt được những thành công vang dội.

Bộ phím bằng tre chắc chắn và chưa khi nào phải thay.
Bộ phím bằng tre chắc chắn và chưa khi nào phải thay.

Hai năm gần đây, ông được nghệ nhân, NSƯT Phó Thị Kim Đức (đào nương cuối cùng của giáo phường Khâm Thiên xưa) truyền dạy cho những khuôn khổ, lòng bản của nghệ thuật đệm hát lối đàn hát khuôn (lối hát theo khuôn bậc, nắn nót từng tiếng; luyến láy công phu, tròn vành rõ chữ). Nghệ nhân Kim Đức vốn am hiểu ca trù và ngấm tiếng đàn, tiếng thơ từ bé đã hết lời khen ông. Nhiều người nghe tiếng đàn ông còn ngỡ như được trở về không gian cổ kính, tinh hoa ngày xưa.

Những lời khen giản dị ấy khiến NS Xuân Hoạch có thêm động lực chơi đàn và ngày đêm truyền dạy học trò tiếp bước mình. Hiện nay, một số học trò của ông cũng rất say mê với nghề. Tuy nhiên, người nghệ sĩ già vẫn trăn trở ngày đêm tìm cho mình một người học trò xứng đáng để một ngày nào đó yên tâm trao lại cây đàn và giữ lấy tiếng đàn.

Chưa tìm được trò để gửi gắm cây đàn

Những năm gần đây, biết được giá trị của cây đàn, không ít người đã tìm đến hỏi mua với ước mong có thể sở hữu được cây đàn quý gần 1 thế kỷ ấy. NS Xuân Hoạch chia sẻ: Đến giờ phút này, không dám khẳng định rằng mình đã làm tròn tâm nguyện của người thầy, nhưng tôi cũng có thể tự hào rằng mình đã tiếp nối người đi trước để tiếng đàn đã và đang ngân vang. Cây đàn là một báu vật và báu vật không tồn tại ở dạng tĩnh tại mà nó đang được lan tỏa trong cuộc sống. Giờ đây, tôi chỉ có một mong ước là sớm tìm được một học trò xuất sắc trao lại cây đàn để tiếng đàn ấy tiếp tục đồng hành cùng nền nghệ thuật dân gian nước nhà.

oOo

Ca Trù: Tây Hồ hoài cổ – ca nương Kiều Anh và bác, NSƯT Nguyễn Văn Khuê, đàn đáy

 

Tỳ Bà Hành – Bạch Cư Dị – NSND Thanh Hoài:

 

Ca Trù Hát Ả Đào:

 

Ca nương Kiều Anh và bác, NSƯT Nguyễn Văn Khuê, đàn đáy

 

Ca Trù Thái Hà – Ca nương Thúy Hòa & TỲ BÀ HÀNH:

 

Ca Trù: Tỳ Bà Hành – Nghệ Nhân Phó Thị Kim Đức:

 

Ca Trù Thăng Long – Ca nương Đặng Thị Hương:

 

Mời các bạn vào link dưới đây để thưởng thức hai NSND Xuân Hoạch và Lê Cường độc tấu Đàn Đáy:

Độc tấu Đàn Đáy

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s