Cánh tay vô hình nhiểm mỡ

SGTT.VNTrên báo The New Yorker, cây bút bình luận James Surowiecki vừa có bài về được mất của nạn hối lộ trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. SGTT xin lược dịch và giới thiệu với bạn đọc.

Walmart ở Mexico City, Mexico. Ảnh: ibtimes

Nhà bán lẻ nổi tiếng thế giới Walmart theo viện dẫn là đã lén lút chi hàng triệu USD hối lộ cho các quan chức chính quyền ở Mexico. Một cựu quản lý điều hành của tổ chức tài chính Morgan Stanley bị kết tội chuyển tiền cho một quan chức Trung Quốc liên quan đến các khoản đầu tư địa ốc. Dăm ba xưởng phim ở Hollywood bị nghi ngờ việc đã đưa hối lộ để xâm nhập thị trường phim Trung Quốc. Tin trên các trang báo về thương mại những ngày này khiến người ta nghĩ rằng thương mại quốc tế là nơi cặn bả đầy các khoản hối lộ. Nhưng nhìn lại lịch sử thì thấy rằng, mọi việc chưa bao giờ minh bạch hơn bây giờ. Khác chăng chỉ là các chính phủ hăng hái thế nào trong việc chống hối lộ.

Cho đến những năm 1970, các nước phương Tây ít chú ý đến các vụ tham nhũng ở nước ngoài, và đút lót được xem là một phần khó chịu nhưng cần thiết để hoạt động kinh doanh ở nước ngoài. Ở một số nước châu Âu, các doanh nghiệp thậm chí được phép khấu trừ các khoản đút lót như là một loại chi phí.

Điều này bắt đầu thay đổi với một vài vụ bê bố liên quan đến các quan chức cấp cao: tổng giám đốc của nhà cung cấp thực phẩm khổng lồ United Brands tự tử trong cuộc điều tra liên quan đến việc công ty đã đút lót cho tổng thống Honduras để tránh một loại thuế xuất khẩu; Lockheed Martin, cùng với nhiều công ty tồi khác, đã đút lót cho thủ tướng Nhật, Ý để giành được các hợp đồng. Rồi vào năm 1977, quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật về hành vi hối lộ nước ngoài (FCPA), ngăn cản công chức nước ngoài ăn hối lộ. FCPA có vai trò quan trọng một cách tượng trưng nhưng không có hiệu quả gì nhiều: đạo luật hiếm khi được tuân thủ, và hầu như suốt hai thập niên, Mỹ là quốc gia duy nhất có một luật như thế. Nhưng trong năm 1997, OECD cũng đã có luật cấm việc đưa hối lộ cho quan chức nước ngoài, rồi vào năm 2003 Liên hợp quốc đã kêu gọi các thành viên thực hiện điều tương tự. Trong khi đó, chính quyền của các tổng thống Mỹ như George W. Bush và Barack Obama tăng cường việc mạnh mẽ việc tuân thủ FCPA, đến mức việc bảo đảm thực thi điều luật này trở thành phần không thể tránh né trong các doanh nghiệp đa quốc gia. Trong năm năm qua, các công ty đã phải trả cho chính quyền Mỹ 4 tỉ USD tiền phạt vì các vi phạm trong khuôn khổ FCPA.

Các công ty than phiền rằng những luật này khiến họ khó làm ăn ở nước ngoài, và chỉ ra rằng ở nhiều nước đang phát triển, đút lót là chuyện thường. Nhưng điều quan trọng là những luật này được đặt ra để thay đổi lẽ thường tình đó, và chúng tạo ra sự thay đổi bằng một cách hơi giống với việc đưa ra các cấm vận kinh tế. Với nhiều công ty lo sợ nguy cơ bị khởi tố liên quan đến các hành vi tham nhũng nên đã tăng chi phí thực hiện các thương vụ ở các nước có mức độ tham nhũng cao, ít có vẻ gì là họ muốn làm ăn ở các nước này. Điều này ngược lại tạo ra một sự khích lệ cho các nước phát triển chống tham nhũng. Và các luật thực sự đã có ảnh hưởng. Alvaro Cuervo-Cazurra, một giáo sư ngành thương mại của đại học Northeastern University, đã cho thấy rằng các nhà đầu tư ở các nước thuộc khối OECD cắt giảm khoản đầu tư của họ vào các nước có tham nhũng sau luật cấm ban hành năm 1997.

Tuy nhiên, các nước đang phát triển thường có bộ máy quan lại cồng kềnh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải đối phó với rất nhiều nạn quan liêu. Nhà khoa học chính trị Samuel Huntington có lần từng đưa ra ý kiến tranh luận rằng trong những điều kiện quan liêu như vậy đút lót là cách hiệu quả và hợp lý để cắt giảm thủ tục quan liêu. Như ông đặt ra rằng: “Điều duy nhất tệ hại hơn một xã hội với bộ máy quan lại không lương thiện, tập quyền quá mức, và khe khắt là một xã hội với bộ máy quan lại lương thiện, tập quyền quá mức, và khe khắt”. Các lý lẽ biện luận rằng không có đút lót mọi việc sẽ mất thời gian hơn, và ta kết thúc với những hoạt động kém kinh tế – càng có ít những doanh nghiệp như Walmart thì càng có ít hoạt động thương mại. Nhìn nhận theo cách này, đút lót không chỉ là hối lộ mà còn là chất bôi trơn cho bánh xe thương mại.

Lý lẽ này rõ rằng là khác thường, mà lại sai lầm. Trong khi đút lót có thế làm mọi việc được trôi chảy trong ngắn hạn, nhưng về lâu về dài nó làm tổn thương việc làm ăn của bên đưa hối lộ và nền kinh tế của bên nhận hối lộ. Như nhà kinh tế học Daniel Kaufmann và Shang-Jin Wei đã chứng minh, hối lộ sinh ra thêm nhiều hối lộ: khác xa với việc tránh bị quấy rầy bởi tệ quan liêu, các khoản đút lót tạo lý do cho quan chức tạo ra nhiều nạn quan liêu hơn; mỗi luật lệ tạo ra một cơ hội để nhận đút lót.

Các khoản đút lót ở Mexico có thể cho phép công ty xây dựng các cửa hàng nhanh hơn, nhưng cũng khiến cho các quan chức địa phương hăm hở trong việc làm cho quy trình cấp giấy phép khó khăn và kém minh bạch hơn. Trên hết, sự phổ biến của tham nhũng khuyến khích các quan chức sử dụng sai tiền của chính phủ: mua máy bay chiến đấu mang đến cơ hội nhận tiền đút lót nhiều hơn là đầu tư cho giáo dục. Và với các công ty, đưa hối lộ cũng phải trả giá đắt – không chỉ về mặt tiền bạc, mà cả về mặt thời gian, vì các khoản đút lót đòi hỏi phải thương lượng và định lượng. Kaufmann và Wei chứng minh rằng các doanh nghiệp chi nhiều tiền của hối lộ mấy nhiều thời gian để thương lượng với các quan chức chính phủ hơn, chi phí vốn của họ cao hơn chứ không phải là thấp hơn. Khác xa với việc bôi trơn bánh xe thương mại, hối lộ có khuynh hướng như là ném cát vào quan chức.

Vậy thì, trong một thế giới lý tưởng, hành vi đúng đắn cũng là làm ăn đúng đắn. Nhưng có một cái bẫy. Các luật cấm đút lót chỉ có hiệu quả tốt nhất khi được phổ biến rộng rãi, nếu không các công ty sẽ cảm thấy áp lực phải cạnh tranh để đút lót. Vấn đề ngày này là một số tay chơi lớn nhất trên thị trường toàn cầu, như Ấn Độ, không có luật chống lại nạn đút lót nước ngoài, trong khi các nước khác như Trung Quốc và Nga có luật nhưng ít hay không tuân thủ. Một nghiên cứu mới đây do tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) phát hiện rằng các công ty Trung Quốc và Nga – đã đầu tư 120 tỉ USD ra nước ngoài – là những nước đưa hối lộ nhiều nhất. Không lạ gì khi mới đây có những lời kêu gọi giới hạn hay bãi bỏ đạo luật FCPA. Nhưng làm suy yếu luật này chỉ dẫn đến một cuộc chạy đua đút lót. Chiến lược thông minh hơn là dùng những cái đòn bẩy mà ta có – bao gồm những thứ như tư cách thành viên OECD – để khiến các nước phải áp dụng một chuẩn mực.

Trong cuộc chiến chống tham nhũng, chúng ta rõ ràng đang đi trên con đường ngay thẳng. Chúng ta cần thuyết phục những người khác tham gia cùng chúng ta trên con đường đó.

Trà Sương (The New Yorker)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s