Lưu trữ theo thẻ: trà đàm

Từ Chuyện Cây Bàng Trong Sân Trường

Sân trường tháng muời hai luôn đặc biệt bởi những chiếc lá bàng. Cây bàng không biết từ lúc nào đã tự nhuộm mình thành đỏ ối như một ngọn đuốc khổng lồ, cứ thầm lặng cháy trong trời đông xám lạnh. Mỗi ngày, ngọn đuốc ấy lại hao mòn đi một ít sắc đỏ vì những chiếc lá rụng.

Tháng mười hai Tây Nguyên cũng đã bắt đầu mùa gió, nên vừa rời cành lá bàng đã được gió đón lấy, nâng trên đôi cánh của mình mà đưa đi tít xa. Có những chiếc lá không theo gió, chỉ chao nhẹ đáp xuống rồi nằm thảnh thơi trên mặt đất, làm nên một tấm thảm màu nâu đỏ, đẹp đến ngỡ ngàng.

Cô giáo dạy văn mê đắm lá bàng, cứ ngẩn người xuýt xoa không ngớt trước vẻ xao xác của sân trường mùa lá rụng. Rồi tiếc nuối hụt hẩng khi thấy học trò của mình quét sạch lá rụng…
Không chỉ quét lá rụng, học trò còn leo lên cây tuốt hết những chiếc lá đã chín màu nâu đỏ, tuốt cả những chiếc lá mới chỉ vương chút nâu vàng… Lá bàng bị cưỡng bức rụng ào ào xuống sân trường.
Rồi trong chốc lát, tất cả những chiếc lá như những mảnh màu ấm áp tuyệt đẹp, đã bị dồn hết vào trong bao tải. Học trò mang những bao lá bàng ra để ở một góc đường, xe rác sẽ đến và mang chúng đi…

Thầy giáo phụ trách cơ sở vật chất của trường không thích lá bàng rụng, không thích màu sắc quá chói gắt của lá bàng trong mùa đông, không thích sự bay tung, sự sóng soãi, sự rực cháy của nó trên sân trường. Sân trường đầy lá rụng, trông chẳng giống sân trường một chút nào, trông cứ luộm thuộm như một công viên hay một góc rừng… Thầy muốn sân trường phải thật sạch sẽ thật nghiêm trang như một ông giáo mặc veston trong ngày khai giảng!

Cho học sinh tuốt sạch lá bàng! Không để cho cây bàng tự do sống đời sống của nó!
Không để cho tụi học trò ngớ ngẩn dạo qua dạo lại trong sân trường, nhặt mấy chiếc lá đỏ, lật đi lật lại trên tay mà ngắm nghía, mà xuýt xoa!
Không để cho cô giáo dạy văn đang giảng bài chợt sững người nhìn chiếc lá bàng vừa bay vào lớp. Rồi nhặt chiếc lá mà liên hệ với học trò về sự hữu hạn của mỗi đời sống trong vô hạn của thời gian. Sự cần thiết phải nỗ lực của mỗi con người, để có thể đi qua cuộc đời một cách lương thiện, đoàng hoàng, đẹp đẽ. Như chiếc lá bàng đã sống trọn đời với màu xanh trên cành làm nên bóng mát, rồi chọn một cái chết đẹp, với màu sắc rực lên, cháy đến tận cùng, dâng hiến đến tận cùng cho mùa đông, làm nên một đốm lửa ấm áp sưởi ấm không gian lạnh lẽo trước khi tan biến vào cát bụi đất đai!

Cô giáo dạy văn nhớ bài thơ Mùa lá rụng của Ôn ga Bec gôn với lời đề dẫn: Mùa thu ở Matxcơva người ta treo những tấm biển trên các đại lộ với dòng chữ: Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng… Và tiếc rằng, thầy giáo phụ trách cơ sở vật chất của trường, có thể không biết bài thơ đó. Không biết rằng ở nhiều nơi những chiếc lá vàng óng kia, đang được bảo vệ cẩn trọng như những báu vật.

Những đàn sếu bay qua. Sương mù và khói toả…
Matxcơva, lại đã thu rồi!
Bao khu vườn như lửa chói ngời
Vòm lá sẫm ánh vàng lên rực rỡ
Những tấm biển treo dọc theo đại lộ
Nhắc ai đi ngang dù đầy đủ lứa đôi
Nhắc cả những ai cô độc trên đời
“Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng”



Bảo vệ từng chiếc lá cây trong mùa cây rụng lá, hoặc leo lên cây tuốt sạch hết lá vàng, hoặc bẻ đến kỳ hết những chùm trái bằng lăng khô khốc .. Đó không chỉ là những hành xử của con người với cây cỏ thiên nhiên. Đó còn là biểu hiện quan điểm của mỗi người về cái đẹp. Trong môi trường sư phạm, đó còn là quan điểm về vấn đề giáo dục cái chân, cái thiện, cái mỹ cho mỗi học sinh.

Nhưng làm sao có thể trách được người không biết. Mà vẻ đẹp kỳ diệu trong từng chiếc lá rụng, có phải ai cũng nhận biết hết cả đâu. Đâu phải ai cũng có thể tưởng tượng rằng ngày xưa, cái ngày xưa Thơ Mới đó, Xuân Diệu cũng đã từng choáng ngợp trước cây bàng lá đỏ mà viết:

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

Những cây bàng trong sân trường giờ đã trơ trụi lá, nhưng vẫn đẹp một vẻ rất riêng. Cành nhánh trên thân cây khẳng khiu trông như những cánh tay dang rộng, phả lên bầu trời cái màu khói sương bãng lãng.

Rồi ít lâu sau, bàng sẽ nhú lộc. Những mầm non đỏ tươi đậu chi chít trên cành như minh chứng cho sự trẻ trung, cho sức sống cuồn cuộn rạo rực chảy tuôn sau lớp vỏ dày nứt nẻ.
Rồi lá bàng sẽ to ra dựng đứng như tai thỏ.
Rồi lá bàng sẽ nhanh chóng lớn nữa, xoè rộng, tạo nên một vòm bình yên với tầng tầng lớp lớp lá non xanh như ngọc.
Rồi đến lúc tiếng ve báo hè vang dậy, dưới những tán lá bàng sẽ có những cô cậu học trò ngồi học bài.. Họ hái chiếc lá bàng ghi vài câu thơ vào đó, có khi tặng bạn, có khi ngần ngại ép vào cuốn sách mang về…
.


Xã hội càng hiện đại, những khoảnh khắc xúc cảm lãng mạn như vậy, phải chăng càng cần thiết? Phải chăng nhờ vào đó, bao tâm hồn của thế hệ trẻ sẽ có cơ hội cân bằng trước những xơ cứng của máy móc, của thao tác nhấp chuột tìm bạn bè, tìm trò chơi, tìm thông tin trên net?
Cũng như vò trong tay một lá cỏ hăng hắc, nghe bên tai lảnh lót một tiếng chim, phải chăng là một cách di dưỡng tinh thần, để con người chúng ta bớt cằn cỗi với café uống liền, trà xanh chai nhựa, nước trái cây đóng lon, cùng bao nhiêu sản phẩm đóng hộp khác, nhan nhãn trong xã hội hiện thời?

Vì vậy, hạnh phúc thay cho những ngôi trường có khuôn viên rộng, có nhiều cỏ cây, có bóng mát, mùi hương và tiếng chim. Để thiên nhiên, bậc thầy kỳ diệu, dạy cho những học sinh, những tâm hồn bé bỏng tình yêu cái đẹp, cái thiện…
Học sinh sẽ tự nhận biết trong mỗi cành cây ngọn cỏ, bài học về sự cho đi và nhận được, sự có mặt và khuất lấp, sự mạnh mẽ vươn dậy của những tạo vật mỏng manh.

Học sinh sẽ tự nhận biết thời gian đi qua, bốn mùa đi qua, không chỉ trên những tờ lịch, những con số đếm ngày đếm tháng vô hồn, mà còn trong sự luân chuyển đâm chồi, ra hoa, rụng lá của cây cối..

Yêu cái đẹp cái thiện học sinh sẽ biết hành xử hướng tới cái đẹp cái thiện. Nâng niu một chiếc lá, học sinh sẽ biết nâng niu một số phận, Ngắm nhìn một bông hoa, học sinh sẽ biết trân trọng, ngưỡng mộ một tài năng. Đứng trước một chùm quả, học sinh sẽ phải suy ngẫm về việc cần nghiêm túc, cần nỗ lực trong học tập, trong lao động để có được những thành công thực sự trong đời…

Yêu cây cỏ trong sân trường, học sinh sẽ còn thấy gắn bó hơn với thầy cô, bè bạn, những giờ học, giờ chơi, những hồn nhiên của lứa tuổi mình đang sung sướng được sống.
Và từ lòng yêu cây cỏ, gia đình, mái trường, thầy cô bè bạn, những học sinh, những công dân tương lai của đất nước, sẽ ý thức rõ hơn, nuôi dưỡng sâu xa hơn trong lòng họ tình yêu tổ quốc.
Để khi tổ quốc cần, họ biết nỗ lực bảo vệ hoặc dựng xây. Bởi vì, như nhà văn I li a Ê ren bua đã viết: Lòng yêu tổ quốc bắt đầu từ lòng yêu những vật tầm thường nhất, yêu cái cây trồng trước cửa nhà, yêu con đường nhỏ dẫn ra bờ sông, yêu mái nhà tranh, yêu đồng lúa chín…

Đinh Thị Như Thúy

Sóng Lớn

Vào đầu thời Minh Trị Thiên Hoàng có một võ sĩ đánh vật tên là O-nami, tức là Sóng Lớn.

O-nami rất mạnh và giỏi về nghệ thuật đánh vật. Trong những trận đấu riêng, O-nami thắng cả thầy của mình, nhưng khi ra trước đám đông O-nami lại quá rụt rè đến nỗi chính học trò của anh cũng vật anh được.

O-name nghĩ là mình nên tìm một thiền sư giúp đở. Hakuju, một thiền sư lang thang, đang dừng chân tại một chùa gần đó, nên O-nami đến gặp và kể về khó khăn lớn của mình.

“Sóng Lớn là tên của anh,” thiền sư tư vấn, “vậy thì ở lại chùa tối nay. Tưởng tượng anh là những ngọn sóng lớn đó. Anh không còn là võ sĩ đánh vật hay sợ nữa. Anh là những đợt sóng vĩ đại quét sạch tất cả những gì đứng trước mặt, nuốt sạch tất cả những gì sóng đi qua. Tưởng tượng thế và anh sẽ là võ sĩ đánh vật siêu đẳng nhất nước.”

Vị thầy lui về. O-nami ngồi thiền cố gắng tưởng tượng mình là sóng. Anh nghĩ đến rất nhiều chuyện. Rồi dần dần cảm giác là sóng tăng thêm. Càng về đêm những lọn sóng càng lớn hơn. Sóng cuốn trôi những cánh hoa trong các lọ hoa. Ngay cả tượng Phật trên bàn thờ cũng bị ngập nước. Trước khi trời hừng đông, cả ngôi chùa chẳng còn là gì nữa ngoại trừ sóng lên sóng xuống của đại dương.

Sáng ra vị thầy thấy O-nami vẫn còn thiền định, với nét cười thoáng hiện trên mặt. Thiền sư vỗ vai chàng võ sĩ. “Bây giờ chẳng còn điều gì có thể làm phiền anh,” thầy nói. “Anh là những đợt sóng đó. Anh sẽ quét sạch mọi thứ trước mặt anh.”

Ngày đó O-nami thi đấu và thắng. Từ đấy, không còn ai ở Nhật có thể thắng O-nami.

Bình:

• Tất cả các võ sư đều biết rằng, khi đấu, nếu tài và sức chỉ hơn nhau một 8 một 10, thì quyết tâm và bình tĩnh quyết định thắng bại đến 70%, 20% là may rủi, và 10% là tài và sức.

Đa số mọi phấn đấu của ta về mọi vấn đề trên đời cũng đều như thế.

• O-nami ra trước đám đông bị “cái lo” về đám đông làm tư tưởng không tập trung được—Không biết họ có cười mình mập quá không? Hay là họ chê mình đấu dở?

• Thiền sư chỉ O-nami cách tập trung tư tưởng vào MỘT điều duy nhất—hình ảnh các đợt sóng. Đây là bước căn bản đầu tiên của thiền định–tập trung vào MỘT điều duy nhất: hơi thở, hay bước đi, hay các hành động rửa bát, hoặc quét nhà, v.v… Tư tưởng tập trung vào một điều sẽ không chạy tán loạn.

• Dùng hình ảnh Sóng Lớn ở đây để tập trung tư tưởng còn có thêm hai điều lợi. Thứ nhất, đây là tên của O-nami, rất quen thuộc với anh, dễ tập trung tư tưởng. Thư hai, đây là hình ảnh mạnh mẽ chiến thắng. Tốt cho võ sĩ xông trận. Vị thiền sư này đúng là thầy rất giỏi về thiền định, nên cho bài học một công hai ba chuyện.

• Ngồi thiền thường là như thế: Ban đầu cứ “nghĩ đến rất nhiều chuyện”, rồi tư tưởng mới tập trung vào hình ảnh mình đang “quán” từ từ, càng lâu càng mạnh và càng rõ.

• Ảnh hưởng đổi đen thành trắng trong chỉ một đêm như ở đây, thì hơi hiếm. Thông thường ta cần nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm… tùy theo vấn đề, mức độ, và cơ duyên.

• Việc O-nami “quán” mình thành sóng đánh trôi hoa trên bàn thờ và nhận chìm luôn cả tượng Phật là một căn bản triết l‎ý rất quan trọng của Phật học: Phật ở trong ta, không có Phật ở ngoài. Câu của ngài Lâm Tế “phùng Phật sát Phật” (gặp Phật giết Phật) có nghĩa là thế: Không có Phật ngoài ta. (Nếu có vị Phật sống đi ngoài đường thì điều đó cũng chẳng quan trọng và ăn nhập gì tới mình cả).

Phật sống còn không có ngoài ta, huống chi là tượng Phật. Tượng để thờ tự chỉ là tượng gỗ giúp ta tập trung tư tưởng thôi, chẳng nghĩa lý gì cả. Thiền tổ Đơn Hà bảo một vị sư chẻ tượng Phật làm củi sưởi ấm, là để đánh đổ cái “chấp” vào tượng của sư.

Đừng hướng ý ra tượng ảnh hay Phật ở ngoài. Phật là tâm ta. Hướng vào tâm ta để tâm thanh tịnh thành Phật.

• Giác ngộ như là một cơn sóng thần dánh dạt tất cả vướng mắc trong tâm–hoa trên bàn thờ, tượng Phật, chùa chiền, đền đài lăng tẩm, tất cả thế giới, tất cả vũ trụ…

Không một mảy may vướng mắc sót lại. Tâm rỗng lặng hoàn toàn.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Great Waves

In the early days of the Meiji era there lived a well-known wrestler called O-nami, Great Waves.

O-nami was immensly strong and knew the art of wresting. In his private bouts he defeated even his teacher, but in public was so bashful that his own pupils threw him.

O-nami felt he should go to a Zen master for help. Hakuju, a wandering teacher, was stopping in a little temple nearby, so O-nami went to see him and told him of his great trouble.

“Great Waves is your name,” the teacher advised, “so stay in this temple tonight. Imagine that you are those billows. You are no longer a wrestler who is afraid. You are those huge waves sweeping everything before them, swallowing all in their path. Do this and you will be the greatest wrestler in the land.”

The teacher retired. O-nami sat in meditation trying to imagine himself as waves. He thought of many different things. Then gradually he turned more and more to the feeling of waves. As the night advanced the waves became larger and larger. They swept away the flowers in their vases. Even the Buddha in the shrine was inundated. Before dawn the temple was nothing but the ebb and flow of an immense sea.

In the morning the teacher found O-nami meditating, a faint smile on his face. He patted the wrestler’s shoulder. “Now nothing can disturb you,” he said. “You are those waves. lYou will sweep everything before you.”

The same day O-nami entered the wrestling contests and won. After that, no one in Japan was able to defeat him.

#8

Lời nguyện Giáng Sinh

Chào các bạn,

Còn một tuần nữa là Giáng Sinh, nhưng mùa Giáng Sinh đã bắt đầu từ hôm Lễ Tạ Ơn ngày 26 tháng 11.

Để không khí mùa tình yêu thấm đượm Vườn Chuối, hôm nay chúng ta hãy cũng chia sẻ hai lời nguyện Giáng Sinh, một của thi sĩ lớn của thế giới người Scotland, Robert Louis Stevenson, và bài kia là của Martin Luther, vị linh mục ly khai, khởi xướng luồng tư tưởng mới trong Thiên chúa giáo ở thế kỷ 16, lập nên nhánh Thiên chúa giáo mới, gọi là Tin Lành ngày nay. Nhánh Tin Lành trực tiếp đến từ Martin Luther là Lutheran. Mình đã dịch hai bài này sang tiếng Việt.

Chúc các bạn và gia đình một mùa Giáng Sinh an hòa.

Mến,

Hoành

.

Lời Nguyện Giáng Sinh của Robert  Louis Stevenson

Hỡi chúa từ nhân, giúp chúng con nhớ ngày sinh của Chúa Giêsu
để chúng con có thể cùng hát ca với các thiên thần,
cùng mừng vui với những mục đồng,
và cùng thờ phụng với các hiền triết.
Hãy đóng cánh cửa thù hận
và mở cánh cửa tình yêu khắp thế giới.
Hãy cho nhân ái đến với mỗi món quà và thiện tâm đến với mỗi lời chúc tụng.
Hãy cứu chúng con khỏi sự dữ bằng hồng ân Chúa Kitô mang đến,
và dạy chúng con biết sướng vui với quả tim tinh khiết.
Xin buổi sáng Giáng Sinh sẽ làm chúng con mừng vui được là con của Chúa,
và đêm Giáng Sinh đưa chúng con vào giường với tâm ý tạ ơn,
thứ tha, và được tha thứ,
vì danh chúa Giêsu.
Amen

(Trần Đình Hoành dịch)

A Christmas Prayer by Robert Louis Stevenson

Loving God, Help us remember the birth of Jesus,
that we may share in the song of the angels,
the gladness of the shepherds,
and worship of the wise men.
Close the door of hate
and open the door of love all over the world.
Let kindness come with every gift and good desires with every greeting.
Deliver us from evil by the blessing which Christ brings,
and teach us to be merry with clear hearts.
May the Christmas morning make us happy to be thy children,
and Christmas evening bring us to our beds with grateful thoughts,
forgiving and forgiven, for Jesus’ sake. Amen.

Robert Louis Stevenson

Lời Nguyện Giáng Sinh của Martin Luther

Ô Giêsu dấu yêu, con thánh,
Hãy làm giường ngài sạch và êm
Trong tim con để tim trở thành
Phòng tĩnh lặng cho ngài ngày đêm

Tim con nhảy với từng niềm vui
Môi con không còn yên được nữa
Con phải hát với lời vui sướng
Bài hay nhất từ thuở nghìn xưa

Vinh danh Chúa trên các tầng trời
Giao hài nhi cho người trần trế
Thiên thần ca thánh hạnh muôn nơi
Năm mới vui cho toàn thế giới

(Trần Đình Hoành dịch)

Christmas Dinner prayer by Martin Luther

Ah, dearest Jesus, holy Child,
Make thee a bed, soft, undefiled,
Within my heart, that it may be
A quiet chamber kept for Thee.

My heart for very joy doth leap,
My lips no more can silence keep,
I too must sing, with joyful tongue,
That sweetest ancient song,

Glory to God in highest heaven,
Who unto man His Son hath given
While angels sing with pious mirth.
A glad new year to all the earth!

Nghệ sĩ mù vẽ tranh – John Bramblitt

Khoảng 17 học sinh lớp 3 của trường tiểu học Lee ngồi bịt mắt xung quanh bàn trong lớp học vẽ ngày thứ 5. Trước mặt các là những tờ giấy trắng với 4 cốc sơn – đỏ, vàng, xanh da trời, và trắng. Mỗi mầu có tính chất riêng nên học sinh có thể cảm nhận được sự khác biệt khi chúng vẽ.

Trước khi bị bịt mắt, các học sinh chọn một tờ giấy trắng hoặc một bức tranh đã có vài đường phác họa. Chúng bắt đầu cười rúc rích khi bắt tay vào vẽ:

Tớ thấy cái này kì cục quá”

“Cái này như cát ý”

“Tớ đang dùng màu gì thế này?”

“Cái này cứng quá”

“Dừng lại”, cô giáo của lớp, Ann Mehr nói. Nhưng cô không mắng. Cô chỉ muốn chúng sử dụng các giác quan của mình. “Các em có nghe thấy tiếng vòi nước chảy không?”, cô hỏi, “Các màu khác nhau thì cảm nhận thế nào?”.

Các học sinh của cô Mehr đang học cách cảm nhận màu sắc mà không cần nhìn, giống như nghệ sĩ John Bramblitt làm mỗi ngày. Sau khi bị mù vì chứng epilepsy, Bramblitt, 37 tuổi, đã chính thức mù vĩnh viễn từ năm 2001. Kể từ đó, nghệ sĩ từ Denton, Texas này đã phát triển một thị lực khác. Các bức tranh của anh đã giúp anh có được sự chú ý trên cả nước, và anh đến thăm Columbia tuần này để phát biểu trong hội thảo và nói chuyện với các nghệ sĩ khuyết tật.

“Vẽ tranh đang giúp tôi nhìn”, Bramblitt nói sau khi làm việc với các học sinh của cô Mehr. “Thế giới này có nhiều màu sắc [hơn thế], và khi thời gian trôi đi, chúng càng sáng lên dần dần”.

Trong buổi hội thảo với các lớp của cô Mehr, Bramblit giải thích cho các sinh viên vì sao anh bị mù và điều đó đã thay đổi cuộc đời anh và nghệ thuật như thế nào.

“Tất cả các bạn dùng mắt để nhìn”, anh nói với lũ trẻ, “Tôi cũng làm như vậy, nhưng tôi làm với đôi bàn tay”.
Để vẽ được một tranh, Bramblitt bắt đầu phác thảo bằng việc dùng loại sơn cứng dành cho vải vẽ. Khi sơn này khô đi, anh có thể cảm nhận được các đường hoạc của bức tranh với các ngón tay. Anh nói rằng vì các loại sơn dầu mầu khác nhau sẽ có các kết cấu khác nhau và tính dính khác nhau. Anh có thể xác định được các màu sơn chỉ bằng cách sờ lên chúng. Trong buổi họp báo ngày thứ 4 với các giáo viên, Bramblitt nói màu anh thích dùng nhất khi vẽ là màu xanh da trời sáng, là hỗn hợp của màu trắng và xanh đậm.

“Nó như kem vậy”, anh nói, “cảm giác mềm như da người, mượt và thật thú vị”

Vào ngày thứ 5, sau khi nghe về các phương pháp, học sinh bị bịt mắt lại và yêu cầu dùng các giác quan của mình để vẽ tranh. Mỗi màu tranh có một chất phụ gia, như là cát hay là bột, vì để học sinh có thể phân biệt được.

Praise Tyler, một học sinh lớp 3 thiết kế một hệ thống khác để phân chia các màu của mình thành 4 điểm của chiếc la bàn.

“Màu đỏ là ở phía bắc, nên em biết nó ở đâu”, Praise nói, “và màu xanh bên cạnh nó”

Sau khi Praise đã vẽ xong tranh của mình, em nói “Em rất vui vì anh ấy đã dạy chúng em cái này. Em muốn vẽ một bức nữa”.

Bramblitt là một trong số những người đã làm thay đổi lịch sử nước Mỹ và các học sinh đã được biết đến những người làm thay đổi lịch sử là người khuyết tật.

“Điều đó cho thấy rằng tất cả chúng ta đều có thể tạo nên sự khác biệt, dù là khuyết tật như thế nào”, cô Mehr nói sau lớp học ngày thứ 5. “Chắc chắn là có anh John ở đây là một kinh nghiệm thực tế cho các em học sinh thây rằng mỗi người đều có thể tạo nên một sự khác biệt”.

Sau đây mời các bạn xem một clip ngắn về anh John Bramblitt xem anh đã dùng tay để cảm nhận và vẽ như thế nào nhé.

Chúc các bạn một ngày thật sáng,

Hoàng Khánh Hòa, dịch từ Bramblitt.net

Thông báo

Vào ngày cuối cùng của đời mình, thiền sư Tanzan viết 60 bưu thiếp, nhờ một người trợ lý gởi đi. Rồi thiền sư qua đời.

Các tờ bưu thiếp viết:

Tôi đang rời xa thế giới này.
Đây là thông báo cuối cùng của tôi.

    Tanzan
    27 tháng 7 năm 1892

Bình:

• Theo truyền thống Phật gia, con người có thể chủ động về sự chết của mình. Chọn ngày giờ đi và cách đi. Hai cách thường dùng nhất là thiền định nhịn ăn, và tự thiêu… và theo truyền thuyết có thể có những cách ít người biết được.

Chủ động về cái chết của chính mình được xem như là một sự kiện lớn đánh dấu tự do của con người. Ta không chủ động được sanh, nhưng ít ra ta cũng chủ động tử.

Trong các truyền thống khác, như Thiên chúa giáo chẳng hạn, con người không có quyền tự kết liễu đời mình—sinh và tử là quyền của thượng đế.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

Announcement

Tanzan wrote sixty postal cards on the last day of his life, and asked an attendant to mail them. Then he passed away.

The cards read:

I am departing from this world.
This is my last announcement.

    Tanzan
    July 27, 1892

Phúc cho người nghèo khó trong tâm linh…

Chào các bạn,

Người thấy mình nghèo khó trong tâm linh (poor in spirit) là người thấy mình thiếu thốn và yếu đuối về tinh thần, thấy mình không đứng vững trước khó khăn thử thách cám dỗ, thấy mình không hoàn thiện. Đây là một thái độ khác với thái độ của những người tự xem là mình đạo đức (self righteous), tự đầy đủ (self sufficient), và không cần ai giúp đở.

Nghèo khó trong tâm linh là khiêm tốn và nhìn nhận yếu kém của mình. Câu mở đầu của Bài Giảng Trên Đồi nổi tiếng của Chúa Giêsu là “Phúc cho người nghèo khó trong tâm linh, vì Nước Thiên Đàng là của họ.”

Nhiều người thường nghĩ Niết Bàn hay Thiên Đàng là một nơi đâu đó rất sung sướng, ta đi thang máy đến :-). Nhưng đương nhiên là chúng ta đều có thể thấy được Niết Bàn hay Thiên Đàng ở trong tâm ta—tâm an lạc thường hằng.

Muốn có được Thiên Đàng, muốn có tâm an lạc, ta phải “nghèo khó trong tâm linh”, tức là nhìn nhận cái tôi yếu đuối, dễ trượt chân, dễ ngã, dễ sai của mình… Khi chúng ta đủ khiêm tốn để nhận thấy điều đó thì “Nước Thiên Đàng là của ta”—đã đến Thiên Đàng chưa thì chưa biết, nhưng chắc chắn là đã sở hữu được Thiên Đàng. Và đương nhiên là khi ta đã thấy được ta nghèo khó trong tâm linh, ta sẽ hướng lòng đến Thượng đế xin sức mạnh tâm linh từ Thượng đế, nguồn lực vô tận.

Điều này rất giống với câu mở đầu Bát Nhã Tâm Kinh của Phật gia: Khi Bồ tát Quán-tự-tại thấy được “ngũ uẩn”, tức là “tôi”, là Không, ngài liền vượt mọi khổ nạn. Khi “cái tôi”, “cái ngã”, tiêu tan, con sóng nhỏ “tôi” trở về với đại dương Sự Thật, và sức mạnh của con sóng nhảy nhót phù du giờ đây là sức mạnh của cả đại dương tĩnh lặng.

Tất cả mọi truyền thống tâm linh trên thế giới đều đặt tất cả tập trung vào việc giảm cái tôi, xóa bỏ cái tôi, và xem đó là điều kiện cực kỳ chính yếu để có được hạnh phúc an lạc trong tâm.

Đằng khác, cả một đời ta, ta đã được giáo dục và đã cố gắng từng phút từng giờ để tăng cái tôi của mình lên: học cố được hạng nhất, thi cố vào trường nổi tiếng, cố giật giải này giải kia thường xuyên, giải càng lớn càng tốt, có báo chí nhắc tên càng nhiều càng tốt, càng nổi tiếng càng làm cho bố mẹ nở mày nở mặt, họ hàng thơm lây, bằng cấp càng cao càng tốt, nhà càng to xe càng xịn càng tốt, sống là phải có danh gì vói núi sông…

Chúng ta lớn lên với những khái niệm đó cho nên chúng ta quen cạnh tranh, tranh giành, ganh tị, đố kỵ, ghen ghét…

Đúng là con người không sinh ra như thế–nhân chi sơ tính bản thiện– nhưng chúng ta được giáo dục cả đời để trở thành như thế…

Hèn chi mà Chúa Giêsu nói: Muốn vào nước Thiên Đàng thì phải như trẻ em. Tức là, phải “xóa bỏ” tất cả những gì mình đã học được mấy mươi năm trong khi trở thành người lớn, để trở lại quả tim giản đơn và tinh tuyền lúc mới sinh ra. Và bước đầu tiên của tiến trình “trở lại tâm thơ ấu” đó là phải nhận ra rằng mình “nghèo khó trong tâm linh.”

Đây cũng là tiến trình đi ngược về nguyên thủy mà nhà Phật gọi là “vô chấp”, xả bỏ tất cả các ‎thứ và các ý niệm ta đã giành giật và ôm chặt cả đời, để trở về bản tính tinh tuyền nguyên thủy.

Thật là thú vị! Các vị thầy lớn của thế giới về những vấn đề sâu thẳm của quả tim con người, ở những thời đại khác nhau, tại những vùng khác nhau trên thế giới, đều đồng ‎ý về điều kiện căn bản nhất để mang lại an lạc cho quả tim con người: ‎ Khiêm tốn. Dẹp bỏ cái tôi.

Và cũng rất thú vị là mọi nền giáo dục của thế giới đều đi ngược lại các vị thầy lớn và dạy chúng ta xây dựng cái tôi vĩ đại!

Có lẽ là chỉ sau khi đã tốn cả đời xây dựng cái tôi cho lớn, chúng ta mới thực sự trải nghiệm rằng cái tôi không mang lại an lạc, và cái tôi càng lớn ta càng đau khổ. Lúc hiểu được như vậy, ta mới hiểu được tại sao phải xóa bỏ cái tôi. Cũng như tất cả mọi loại nghệ thuật ở đời—vẽ, nhạc, viết, võ…–lúc mới học thầy dạy đủ mọi qui luật phải tuân theo từ tí, đến lúc bắt đầu trở thành sư phụ mới được thầy dạy thêm: Bỏ hết tất cả qui luật đã học đi, cứ tự nhiên mà viết, mà vẽ, mà hát…

Muốn vào Nước Thiên Đàng thì phải như trẻ em.

Phúc cho người nghèo khó trong tâm linh, vì Nước Thiên Đàng là của họ.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Hãy là người phụ nữ như thế

Chào các bạn,

Hôm nay mình xin giới thiệu với các bạn một clip ngắn gọi là “Be That Woman” nhấn mạnh vai trò quan trọng của người phụ nữ trong xã hội. Clip này được xây dựng dựa trên hai “tiền đề” được biết đến rộng rãi:

Nếu bạn đầu tư vào một người phụ nữ hay một cô gái, khoản đầu tư đó đem lại lợi ích cho tất cả.
~If you invest in a woman or girl, the investment benefits all.

Nếu bạn đầu tư vào một cô gái, cô ấy sẽ làm những điều còn lại.
~If you invest in a girl, she will do the rest.

Clip này thuộc chương trình vận động của tổ chức Washington Area Women’s Foundation nhằm tăng cường trao quyền và giúp đỡ cho hơn 300,000 phụ nữ ở khu vực thủ đô Washington, Mỹ.

Các hoạt động chính của tổ chức này bao gồm:

– mở rộng hoạt động từ thiện do phụ nữ đảm trách
– tăng cường các hoạt động từ thiện giúp thay đổi cộng đồng
– cung cấp các khoản trợ cấp, các nguồn hỗ trợ hoạt động và kĩ thuật cho cộng đồng trong vùng, nhất là các phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập hoặc thất nghiệp
– đại diện cho tiếng nói của phụ nữ trong vùng

Ở Mỹ các tổ chức như thế này hoạt động rất mạnh, và các chương trình vận động của họ cũng bài bản. Ngoài liên tục cập nhật thông tin trên website, mỗi dịp vận động họ có thể in tờ rơi, các bumper sticker (miếng dán) để mọi người có thể dán lên xe ô tô hay bất cứ thứ gì mà mọi người đều nhìn thấy, các tranh ảnh, áp phích to vv…Các video clip là một cách để vận động qua mạng rất tốt.

Chúc các bạn một ngày vì phụ nữ 🙂

Hoàng Khánh Hòa

Lời nguyện cho trẻ em

Chúa ơi,

Hãy giúp đỡ trẻ em
của thế giới này.

Chúng bị tổn thương và đang tổn thương

Và bị đè nát bên dưới sức nặng

của sự điên rồ của chúng con.

Hãy ban phước cho các em,

và đánh thức chúng con

trước khi quá muộn.

AMEN

~Marianne Williamson

Nguyễn Minh Hiển dịch

.

Dear God,

Please help the children

of this world.

They are hurt and hurting

And are crushed beneath the weight

of our insanity.

Please bless the children,

and awaken us

before it is too late.

AMEN

Không có từ tâm

Một người phụ nữ ở Trung Quốc đã cấp dưỡng một vị sư hơn 20 năm. Bà đã làm một chòi nhỏ cho sư và lo việc ăn uống khi sư thiền định. Cuối cùng bà thắc mắc là không biết vị sư đã tiến bộ được gì trong suốt bao nhiêu năm.

Để tìm câu trả lời, bà nhờ một cô gái đầy ham muốn giúp một tay. “Vào ôm ông,” bà bảo cô gái, “rồi hỏi đột ngột: ‘Làm gì bây giờ?’ ”

Cô gái vào gặp sư và, chẳng nề hà gì, đến vuốt ve sư, hỏi sư phải làm thế nào về việc đó.

“Một cây mọc trên tảng đá trong mùa đông,” vị sư trả lời đầy thi vị. “Chẳng nơi đâu có hơi ấm.”

Cô gái trở về và báo cáo lại điều sư nói.

“Nghĩ đến việc tôi nuôi ông này cả 20 năm!” bà than một cách giận dữ. “Ông ta chẳng tỏ vẻ gì quan tâm đến nhu cầu của cô, chẳng hề muốn giải thích tình trạng của cô. Ông ta không cần phải đáp lại ham muốn, nhưng ít ra ông ta cũng phải tỏ lộ được một tí từ tâm.”

Bà liền đi ngay đến chòi của vị sư và đốt nó.

Bình:

* Đoạn nhà sư nói thế này:

Cô gái vào gặp sư và, chẳng nề hà gì, đến vuốt ve sư, hỏi sư phải làm thế nào về việc đó.

“Một cây mọc trên tảng đá trong mùa đông,” vị sư trả lời đầy thi vị. “Chẳng nơi đâu có hơi ấm.”

Ý nhà sư nói, Tôi như là một cây mọc trên đá trong mùa đông, rất lạnh lùng, chẳng có hơi ấm nào nơi tôi, chẳng có xúc cảm nào nơi tôi, cô đừng mất công vô ích.

Đây là thái độ mà ta gọi là “con tim chai đá” chẳng còn một tí cảm xúc nào hết. Và đây là lầm lỗi rất nhiều người có về Thiền, kể cả một số thiền sư. Tức là họ tập “thiền” để chỉ làm cho con tim không còn bị xúc động bởi tất cả mọi điều trên đời.

Nhưng nếu thế thì “tâm từ bi” của Bồ tát làm sao mà có được?

Bồ tát có tâm từ bi, cảm xúc được từng nỗi đau rất nhỏ của con người. Vì vậy mà Bồ tát luôn luôn hộ trì, độ người qua khổ nạn.

Tâm Thiền là tâm cực kỳ nhậy cảm, nhậy cảm với những nỗi đau nỗi khổ dù là rất nhỏ của sinh linh.

Ở đây ta có một cô gái muốn một nhà sư (dù là bên ngoài). Trong bài có nói đây là một cô gái “đầy ham muốn”. Đó là một cái khổ. Thích một nhà sư là một điều rất khổ cho một cô gái. Nhà sư không thích cô gái theo kiểu nam nữ, nhưng ít ra phải cảm xúc được cái khổ của cô, để mà có một tí từ tâm. Biểu lộ từ tâm đó với cô ta bằng cách nào thì tùy theo trường hợp, nhưng có lẽ không phải là cách kiêu kỳ, chẳng nói một chữ về cô ta, mà chỉ tự ví mình là cây mọc trên tảng đá giữa mùa đông. Một lối trả lời rất nhắm vào “cái tôi” thay vì lo lắng cho người kia.

Ở đây ta thấy sự liên hệ giữa tâm chai đá và cái tôi (ngã mạn). Người có tâm chai đá chỉ quan tâm đến họ và chẳng quan tâm đến ai khác.

Bồ tát không quan tâm đến mình, mà quan tâm đến người khác. Đó là Thiền thật sự.

* Người ta thường nhầm lẫn tâm tĩnh lặng của Thiền và tâm chai đá. Tâm tĩnh lặng là mặt nước hồ thu tĩnh lặng, không phải là một tảng đá chết lặng.

Một viên sỏi rất nhỏ cũng làm mặt hồ gợn sóng. Tâm tĩnh lặng rất nhậy cảm với mọi cảm xúc ở đời, nhậy cảm hơn tâm trung bình rất nhiều. Nhưng Tâm tĩnh lặng có thể tự kiểm soát mình rất tốt, cho nên dùng các xúc cảm đó để làm điều thiện, làm thăng hoa cuộc đời.

Mặt khác, chạy ồ ạt theo xúc cảm buồn vui giận ghét của mình không phải là nhậy cảm, mà là không chỉ huy được cảm xúc và là nô lệ cho cảm xúc.

* Bà lão nổi giận vì tốn công nuôi ông sư này 20 năm mà ông ta chẳng hiểu gì về Thiền, về tĩnh lặng, và từ tâm cả. Sự nổi giận của bà lão và con số 20 năm là để nhấn mạnh điều là có rất nhiều vị sư bị lạc về điểm này cả đời họ.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

No Loving – Kindness

There was an old woman in China who had supported a monk for over twenty years. She had built a little hut for him and fed him while he was meditating. Finally she wondered just what progress he had made in all this time.

To find out, she obtained the help of a girl rich in desire. “Go and embrace him,” she told her, “and then ask him suddenly: ‘What now?'”

The girl called upon the monk and without much ado caressed him, asking him what he was going to do about it.

“An old tree grows on a cold rock in winter,” replied the monk somewhat poetically. “Nowhere is there any warmth.”

The girl returned and related what he had said.

“To think I fed that fellow for twenty years!” exclaimed the old woman in anger. “He showed no consideration for your need, no disposition to explain your condition. He need not have responded to passion, but at least he could have evidenced some compassion.”

She at once went to the hut of the monk and burned it down.

Lệ thuộc hỗ tương

Chào các bạn,

Dù chúng ta có bao giờ nghĩ đến hay nói đến cụm từ “lệ thuộc hỗ tương” (interdependence) thì chúng ta vẫn đang sống trong một thế giới lệ thuộc hỗ tương, tức là mọi người, mọi quốc gia lệ thuộc lẫn nhau.

Trên phương diện kinh tế chính trị quốc tế, chúng ta đã quen với từ “toàn cầu hóa”. Người ở Mỹ, dùng chén bát từ Trung Quốc, máy chụp ảnh của Nhật, computers chỉ với Intel chip may ra là của Mỹ còn tất cả các cơ phận khác đều sản xuất từ Á Châu… Cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu vừa qua cho thấy khủng hoảng bắt đầu từ Mỹ đã lập tức lan ra khắp thế giới. Nói chung là vận mệnh các quốc gia ngày nay lệ thuộc vào nhau rất nhiều. Mô hình một hai quốc gia lớn đi chinh phục và thôn tính các nước nhỏ khắp nơi của ngày xưa, ngày nay không còn đứng vững nữa.

Bên cạnh thương mại và kinh tế xuyên quốc gia, AIDS, cúm gia cầm, cúm lợn, và có lẽ là tất cả mọi loại bệnh hay lây khác, cũng là vấn đề xuyên quốc gia. Khủng bố cũng là vấn đề xuyên quốc gia. Nguy cơ chiến tranh nguyên tử là vấn đề xuyên quốc gia. Sự tăng địa nhiệt và thay đổi khí hậu là vấn đề xuyên quốc gia.

Ngày nay, chẳng có vấn đề gì của một quốc gia mà lại không ảnh hưởng đến các quốc iga khác không ít thì nhiều. Vì vậy, “lệ thuộc hỗ tương” trở thành khái niệm quản lý căn bản trong chính trị cũng như kinh tế.

Và, trong đời sống của mỗi cá nhân.

Cách đây không lâu lắm, trong thập niên 60, 70 và 80, người ta chỉ nói đến “độc lập” và “tôi”– “Tôi, của tôi, và cho tôi” là trung tâm của vũ trụ. Ngày nay, sau 3 thập niên “tôi”, người ta khám phá ra rằng đó là cách sống ích kỷ, không thực tế, và không hiệu lực. Thế hệ “tôi” hippy của thập niên 60, ngày nay đã lớn tuổi và học được rất nhanh là họ không thể sống một mình mà phải lệ thuộc vào con cháu, viện dưỡng lão, hay ai đó. Và thế hệ “tôi” thay đổi tư tưởng thành thế hệ “lệ thuộc hỗ tương.”

Nhưng đây không phải là điều gì mới lạ. Người đông phương, cho đến ngày nay vẫn sống lệ thuộc hỗ tương giữa các thành viên trong gia đình, và văn hóa “tôi” chưa bao giờ thực sự mạnh ở đông phương. Trong vòng mấy ngàn năm nay, lệ thuộc hỗ tương là một phần đương nhiên của văn hóa Phật giáo, trong đó tất cả mọi loài mọi thứ mọi điều trong vũ trụ là Một, liên hệ cực kỳ chặt chẻ với nhau—một tiếng gảy móng tay có thể rung động đến vô lượng thế giới.

Điều này, trên phương diện luận ‎lý, chẳng có gì là khó hiểu. Trong một hồ nước vĩ đại, một con cá chết đầu này hồ có thể ảnh hưởng đến mọi con cá khác trong hồ, cho đến tận đầu kia của hồ, nếu con cá vừa chết đã chết vì một bệnh dịch nào đó. Trong Thái dương hệ, nếu một hành tinh nào đó, Mars chẳng hạn, nổ tung thì đương nhiên là mọi hành tinh khác đều bị hỗn loạn đường bay, có khi văng luôn ra khỏi Thái dương hệ không biết chừng. Một thiên hà nào đó gần Ngân Hà nổ tung, chắc là Ngân Hà và trái đất sẽ bị hỗn loạn cực kỳ, nổ tung theo không biết chừng…

“Lệ thuộc hỗ tương” là lẽ tất nhiên của vũ trụ và đời sống. Nhưng trong đời sống của chúng ta, chúng ta có hiểu rõ lý lẽ này, và có dùng nó như là nguyên lý sống hay không?

• Lệ thuộc hỗ tương có nghĩa là cho người khác lệ thuộc ta, cộng tác với người khác, giúp đở người khác, lo lắng và săn sóc người khác, quan tâm đến an nguy và thành công của người khác, đưa vai cho người mệt mỏi tựa vào mình…

• Nhưng quan trọng hơn nữa, lệ thuộc hỗ tương là nhận sự cộng tác, sự giúp đở, của người khác. Gõ cửa người khác nhờ giúp sức khi cần. Khiêm tốn nhờ người khác giúp đở. Hỏi sự giúp đở của người khác là một hành động khiêm tốn. Người nhiều kiêu hãnh và tự ái vặt sẽ nói, “Tôi giúp người khác thì được, nhưng tôi không muốn nhận sự giúp đở của người khác.” Sự thật thì, đối với đa số chúng ta, giúp đở người khác dễ hơn nhờ người khác giúp đở mình, vì… cái tôi luôn luôn đứng đó cản đường.

• Lệ thuộc hỗ tương còn có nghĩa là teamwork, làm việc nhóm. Lệ thuộc hỗ tương là biết hỗ trợ người khác trong team và lệ thuộc vào người khác trong team. Trong các kỹ năng làm việc, thì teamwork có lẽ là kỹ năng yếu nhất của người Việt. Rất nhiều chuyên gia Việt khi làm việc chỉ thích cắm đầu cắm cổ làm một mình, không thích bàn luận thường xuyên với người khác, sợ người ta cho là mình dốt cần vay mượn ý của họ. Khi làm việc, họ không muốn cho thủ lĩnh hay các bạn trong team biết mình đang làm gì, sợ người khác xía vào ‎ý của mình. Các vị đó, không biết rằng người giỏi teamwork thường cầu mong người khác “xía” thêm ý‎ kiến vào việc của mình. Muốn được thêm ý‎ kiến thì khó, chứ khư khư bịt tai không muốn nghe ai là chuyện rất dễ.

Người ta thường nói làm việc nhóm là một kỹ năng. Đúng thế. Nhưng trước khi là một kỹ năng, nó phải là một thái độ–thái độ khiêm tốn, luôn luôn muốn chia sẻ suy nghĩ và kế hoạch của mình với mọi người, luôn luôn muốn được có thêm ‎ý kiến của mọi người để làm giàu cho tư duy của mình, luôn luôn muốn biết các người khác trong nhóm đang làm gì, và muốn cả nhóm biết mình đang làm gì… Đó là thái độ của một cầu thủ trên sân bóng, chỉ thấy đội, đội và đội–không còn thấy cái tôi biệt lập của mình nữa, mà chỉ thấy mình cùng đồng đội hoạt động cực kỳ ăn ý cho chiến thắng.

Chúc các bạn môt ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Nếu yêu, hãy yêu công khai

Hai mươi nhà sư và một ni cô tên Eshun học thiền với một thiền sư.

Eshun rất đẹp dù là đầu của ni cô đã cạo và áo chùng rất thường. Vài vị sư thầm yêu nàng. Một vị viết cho nàng một lá thư tỏ tình, xin được gặp riêng nàng.

Eshun không trả lời. Ngày hôm sau thiền sư giảng bài cho cả lớp, và khi thầy giảng xong, Eshun đứng dậy. Nhìn người đã viết thơ tỏ tình cho mình, Eshun nói: “Nếu thực sự anh yêu tôi rất nhiều, hãy đến đây và ôm tôi.”

Bình:

• Không phải chỉ là tình yêu mà là tất cả những chuyện khác. Thường là, nếu không có gì sai trái thì chẳng có lý do gì phải giấu giếm. Nếu có giấu giếm, thường là có chuyện không tốt. Mỗi bí mật là một chấn song tù hãm. Nếu ta có nhiều bí mật trong đời quá, ta ở tù vĩnh viễn.

• Có lẽ ni cô đã nói chuyện với thầy và thầy ra lệnh ni cô phải làm thế. Vì nếu ni cô tự ‎ý làm, thì một là làm mất trật tự lớp học và hai là bất nhẫn. Dù không yêu, cũng cần có từ tâm.

Nhưng thầy ra lệnh thì được.

• Các thiền sư nổi tiếng là dịu dàng, nhưng đối với thiền sinh, tức là những người sẽ thành thầy dạy Thiền sau này, các thầy đôi khi có cách giáo dục rất khắc nghiệt.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

If You Love, Love Openly

Twenty monks and one nun, who was named Eshun, were practicing meditation with a certain Zen master.

Eshun was very pretty even though her head was shaved and her dress plain. Several monks secretly fell in love with her. One of them wrote her a love letter, insisting upon a private meeting.

Eshun did not reply. The following day the master gave a lecture to the group, and when it was over, Eshun arose. Addressing the one who had written her, she said: “If you really love me so much, come and embrace me now.”

#5

“Thuộc về” thế giới

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta tiếp tục triển khai ‎ý niệm “thuộc về”, đặt cá nhân của ta trong thế giới chúng ta đang sống.

“Thế giới” đây là thế giới rộng lớn, là cả quả địa cầu, là tất cả mọi quốc gia trên thế giới.

Chúng ta hay nói “tôi sống trong thế giới này”, nhưng ta có thực sự quan tâm đến thế giới này không?

Hãy lấy ví dụ về “lục địa bị quên lãng” là Phi Châu. Phi Châu nghèo đói, bệnh hoạn, bất công, chiến tranh, chết chóc tràn ngập… Bạn đã từng làm gì cho Phi Châu? Chúng ta không cần nói đến đóng góp tiền bạc công sức cho Phi Châu, vì Phi Châu hơi xa, hơn nữa các hoạt động xã hội phục vụ Phi Châu không có tại Việt Nam, và chúng ta lo cho Việt Nam đã không xuể rồi.

Nhưng ít ra hãy tự hỏi lòng là, “Tôi có bao giờ quan tâm đến Phi Châu không?” Nếu có, thì bạn đã “hành động” với quan tâm đó thế nào? Ta đi chùa, đi nhà thờ, cầu nguyện trong đời cả trăm nghìn lần rồi, vậy đã có một lần nào ta dành ra một phút cầu nguyện cho Phi Châu, hay cho một quốc gia nào, hay cho một người nào, ở đó? Ta đã bỏ bao nhiêu thời gian để tìm hiểu về hoàn cảnh kinh tế xã hội của một quốc gia Phi Châu? Ngay cả chỉ 30 phút?

Đọc báo chí hàng ngày, bao nhiêu lần ta thấy có một thông tin gì về một quốc gia Phi Châu?

Nếu bàn chân của ta đang bị ung nhọt mà ta không bao giờ nghĩ đến nó, không bao giờ quan tâm đến nó, liệu rằng cơ thể ta khỏe mạnh được đến đâu?

Đó là vấn đề lớn của thế giới. Toàn thế giới chỉ chú trọng đến những anh nhà giàu. Một tài tử Mỹ hạng C cũng chiếm nhiều diện tích báo ở các nước, như Việt Nam, hơn là mấy triệu dân một quốc gia Phi Châu nào đó đang bị nạn đói đe dọa.

Trong một thế giới bất quân bình và bất công như thế, nếu chúng ta không mở rộng đầu óc, để tối thiểu tạo sự quân bình trong tư tưởng của chính mình, thì bất quân bình và bất công của thế giới này còn sống thoải mái nhiều niên đại nữa.

Nhưng tại sao chúng ta lại phải nói đến các vấn đề xa thế, hầu như chẳng ăn nhập gì đến đời sống của chúng ta cả?

Thưa vì:

1. Mọi sự trên thế giới này đều liên hệ khắng khít với nhau; chẳng có gì đứng rời rạc một mình. Ví dụ: Các bất công và loạn lạc ở Phi Châu là ổ cho các lực lượng khủng bố thế giới phát triển, và không biết lúc nào khủng bố đụng đến một chiếc máy bay Việt Nam.

2. Dù không làm gì cụ thể, nhưng nếu chúng ta quan tâm đến vấn đề, tư tưởng quan tâm đó có ảnh hưởng đến vấn đề. Tư tưởng tích cực luôn luôn có cách mầu nhiệm của nó để ảnh hưởng đến thế giới. Vì vậy, các tôn giáo, với kinh nghiệm của tư duy sâu thẳm của con người nhiều nghìn năm, luôn luôn dùng cầu nguyện như là giải pháp chính để ảnh hưởng đến môi trường xã hội.

3. Nếu ta quan tâm đến Phi Châu xa lắc, đương nhiên là ta sẽ quan tâm 100 lần hơn thế với nghèo đói, bệnh hoạn, bất công và áp bức ngay trong đất nước ta, ngay trong thành phố ta, ngay trong làng xã ta. Tức là lo xa, nhưng ảnh hưởng gần.

Tư tưởng của ta ảnh hưởng mầu nhiệm lên trên tâm trí của chính ta và lên trên môi trường chúng ta sống. Cho nên ta phải giải phóng tư tưởng khỏi những tù ngục tư duy xưa nay. Cất cánh bay cao, nhìn xa, trông rộng, con tim rộng mở bao trùm thế giới. Tư tưởng hoàn toàn tự do. Tư tưởng bay bỗng tự do cũng chính là suối nguồn vô biên của năng lượng tích cực vô tận cho mỗi người chúng ta vậy.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: “Thuộc về” nhóm nào?, Tư duy tích cực – “Thuộc về” cuộc đời

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Lời nguyện cuối ngày

Chúa ơi,

Con phó thác cho Chúa ngày hôm nay vừa hết.

Mong sao chỉ có tình yêu còn lại.

Hãy đem tất cả mọi thứ khác vào ngọn lửa của quyền năng thay đổi của Chúa.

Giải phóng con, giải phóng những người khác, khỏi bất kỳ hậu quả nào của trí óc sai lầm hay việc làm sai lầm của con.

Chúa ơi,

Trả con về với ánh sáng của Chúa.

Bây giờ con gửi cho Chúa chính con, những điều con làm, những người con đã yêu, những người con đã thất bại trong tình yêu,

hãy làm tất cả mọi thứ thành đúng.

Hãy nhận tất cả.

Mong con tiếp tục lớn lên trong ánh sáng và tình yêu của Chúa.

Ngày mai, mong sao con tốt hơn.

Amen.

~Marianne Williamson

Nguyễn Minh Hiển dịch

Dear God,

I surrender to You the day now over.

May only the love remain.

Take all else into the fire of Your transformative power.

Release me, release others, from any effects of my wrongmindedness or wrongdoing.

Dear God,

Return me to Your light.

As I now give to You who I am, what I do, who I loved, who I failed to love,

please make all things right.

Take all things.

May I continue to grow in Your light and love.

Tomorrow, may I be better

Amen.

Vâng lời

Các buổi thuyết giảng của thiền sư Bankei thu hút không chỉ thiền sinh mà đủ mọi hạng người của mọi giáo phái. Thiền sư chẳng bao giờ nhắc đến kinh kệ hay dùng các lý luận khoa bảng, mà chỉ nói trực tiếp từ quả tim đến thẳng quả tim của người nghe.

Một nhà sư của giáo phái Nichiren bực tức vì đám đông đến nghe thiền sư Bankei và vì một số tín đồ của nhà sư đã bỏ sư mà đi nghe Bankei giảng. Vị sư Nichiren tự ái, đi đến chùa, nhất định phải tranh luận với Bankei.

“Ê, thiền sư!” vị sư Nichiren gọi. “Đợi một tí. Ai kính trọng ông sẽ vâng theo lởi ông, nhưng người như tôi không kính trọng ông. Ông có thể làm tôi vâng lời ông không?”

“Đến bên cạnh tôi và tôi sẽ chỉ cho ông,” Bankei nói.

Nhà sư Nichiren hãnh diện bước qua đám đông đến cạnh thiền sư.

Bankei smiled. “Qua bên trái tôi.”

Vị sư làm theo.

“Không,” Bankei nói, “chúng ta nói chuyện dễ hơn nếu anh đứng bên phải. Bước qua đây.”

Nhà sư hãnh diện bước sang bên phải.

“Anh thấy không” Bankei nhận xét, “anh đang vâng lời tôi và tôi nghĩ rằng anh là một người rất hiền dịu. Bây giờ, anh ngồi xuống đây và nghe.”

Bình:

• Sân hận và kiêu căng làm vị sư Nichiren mù mắt, đầu óc hết nhậy bén và không thấy những gì đang xảy đến cho mình.

• Ở mức độ cao hơn: Khi tâm mình chấp vào một điều gì đó—như vị sư Nichiren quyết tâm chứng minh trước đám đông là thiền sư Bankei không điều khiển được ông– mình dễ bị mù mắt. Chấp trước làm ta thành si mê.

• Một tâm tĩnh và một tâm động. Tĩnh chỉ huy động, chứ động không chỉ huy tĩnh. Tướng ngồi trong trướng, quân chạy bên ngoài. Tướng chỉ huy quân, quân không chỉ huy tướng.

• Thời Đông Châu Liệt Quốc, Quỷ Cốc Tử, thầy binh pháp của Tôn Tẩn và Bàng Quyên, cũng bị Tôn Tẩn thắng bằng trí. Quỷ Cốc Tử ngồi trên ghế và hỏi hai đệ tử làm cách nào cho ông rời ghế mà không đụng vào người ông. Bàng Quyên nói sẽ đốt lửa dưới ghế. Thầy cho là kế được. Tôn Tẩn nói, “Con không làm cho thầy rời ghế được, nhưng nếu thầy đứng dậy con sẽ có cách làm thầy phải ngồi xuống ghế.” Quỷ Cốc Tử đứng dậy, và trúng kế học trò. (Hai học trò, mỗi người một tâm ý).

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Obedience

The master Bankei’s talks were attended not only by Zen students but by persons of all ranks and sects. He never quoted sutras nor indulged in scholastic dissertations. Instead, his words were spoken directly from his heart to the hearts of his listeners.

His large audiences angered a priest of the Nichiren sect because the adherents had left to hear about Zen. The self-centered Nichiren priest came to the temple, determined to debate with Bankei.

“Hey, Zen teacher!” he called out. “Wait a minute. Whoever respects you will obey what you say, but a man like myself does not respect you. Can you make me obey you?”

“Come up beside me and I will show you,” said Bankei.

Proudly the priest pushed his way through the crowd to the teacher.

Bankei smiled. “Come over to my left side.”

The priest obeyed.

“No,” said Bankei, “we may talk better if you are on the right side. Step over here.”

The priest proudly stepped over to the right

“You see,” observed Bankei, “you are obeying me and I think you are a very gentle person. Now sit down and listen.”

#4

“Thuộc về” nhóm nào?

Chào các bạn,

Trước đây mình đã viết bài Tư duy tích cực – “Thuộc về” cuộc đời, tựu trung nói rằng nếu chúng ta muốn vui vẻ tích cực sống đời này thì ta phải cảm thấy “thuộc về” cuộc đời. Nếu ta luôn cảm thấy lạc lỏng, “sai chuồng” hay, nói như các triết gia, “vong thân” (alienation), ngay trong cuộc đời này, thì rất khó cho ta tích cực được với đời.

Hôm nay chúng ta đi sâu hơn một tí với khái niệm “thuộc về” (sense of belonging), đặt cá nhân vào cơ cấu xã hội cụ thể để khảo sát ý niệm “thuộc về” của mỗi cá nhân trong xã hội.

Mỗi chúng ta có thể “thuộc về” nhiều nhóm khác nhau—gia đình ta, công ty ta, nhà thờ ta, các hội đoàn ta gia nhập, các nhóm bạn ta hay bù khú với.

Mỗi “nhóm” người như vậy là một “môi trường”, cho phép ta ra khỏi cái vỏ nhỏ bé của mình, để dung hòa vào môi trường rộng hơn với mọi người chung quanh.

Nhưng như ta thường thấy, các “nhóm môi trường” này, trong khi cho chúng ta cơ hội để phát triển cá nhân rộng ra, cũng có thể là những hàng rào tù ngục kiên cố nhốt ta lại bên trong và ngăn cách ta với thế giới bên ngoài. Ví dụ: Vài người Hồi giáo có thể cho rằng Thiên chúa giáo là quỷ dữ và tội lỗi, người Hải Phòng thì cho là dân Hà Nội không thành thật, người Bắc thì cho rằng dân Nam thô lỗ, người Việt thì cho rằng người Trung quốc không tin được, người Kinh thì cho là người dân tộc thiểu số kém thông minh…

Đây là vấn nạn của thế giới. Những vườn chơi dấu ái của thế giới thật nhiều tình yêu cho các người trong vườn, cùng một lúc cũng là nhà tù ngăn cách mọi người với cả một vũ trụ rộng lớn bên ngoài.

Tại sao vậy?

Thưa, tại vì chúng ta quen thói quen suy tư phân cách hơn là suy tư hòa hợp. Không những “quen” thói quen, chúng ta còn “ép” nhau suy tư một kiểu.

Cho nên, nếu người Việt mà nói là Trung quốc đúng ta sai là phản quốc, công giáo mà nói Đức Giáo Hoàng sai và Tiên Tri Mohammed đúng là phản đạo, đảng viên mà nói Đảng sai là phản quốc (oops, phản đảng hay phản quốc? :-))

Chúng ta đã thấy được các phi lý và u mê của suy tư thường tình của con người chưa?

Nếu tôi học lớp 10B thì chẳng lý do gì tôi không yêu các lớp khác trong trường, dù rằng nếu lớp tôi đá bóng với các lớp khác tôi sẽ hò reo ủng hộ lớp tôi. Nếu tôi yêu gia đình tôi thì chẳng lý do gì tôi không thể yêu các gia đình khác. Nếu tôi yêu nước tôi thì chẳng lý do gì tôi chẳng yêu các nước khác. Nếu tôi yêu dân tôi thì chẳng lý do gì tôi không thể yêu các dân tộc khác.

Trong dòng tiến hòa của con người, những đầu óc si mê đã và đang tiếp tục dùng những nhóm “tương trợ của các cá nhân” (supporting groups) như những nhà tù giam cầm chính những cá nhân đó. Nhiều bộ lạc man dã khi xưa cũng sống theo cách đó—thấy người khác bộ lạc là tấn công và bắt về, quay làm bữa ăn tối. 🙂 Ngày nay ta không còn ăn tối bằng “chiến binh rô ti” nữa, nhưng tư tưởng phân cách và kỳ thị thì chắc cũng chỉ cải tiến hơn các bộ tộc man dã thời cổ đại khoảng 1cm.

Vì vậy chúng ta cần tự hỏi lòng mình và thay đổi cái nhìn mới mẻ hơn, mới cở 3500 năm trước. Sách Cựu Ước nói rằng tất cả loài người là anh em do Thượng đế tạo ra, với bố mẹ là Adam và Eva. Một ngàn năm sau đó, Phật Thích Ca dạy, tất cả chúng ta là Một, là những làn sóng phù du của đại dương Sự Thật gọi là “Không”. Và vài ngàn năm trước đây, tổ tiên chúng ta cũng đã dạy tất cả người Việt đều là anh em từ một mẹ trăm con.

Thánh nhân đã luôn luôn muốn mở rộng đầu óc chúng ta, muốn đưa ta ra khỏi tù ngục của chính chúng ta xây dựng, cho ta chấp cánh bay cao, như những quả tim tự do trong bầu trời Sự Thật. Nhưng vài ngàn năm sau, chúng ta đã theo tiền nhân được đến đâu? Con hơn cha là nhà có phước, con vẫn thua cha sau vài ngàn năm là…?

Cho nên, nếu yêu mình và yêu gia đình, thì vẫn yêu được các gia đình khác, yêu được làng xóm, yêu được các làng xóm khác, yêu được thành phố, yêu được các thành phố khác, yêu được đất nước, yêu được các đất nước khác, yêu được dân tộc, yêu được các dân tộc khác, yêu được loài người, yêu được các chủng loại khác, yêu được thú vật, yêu được cây cỏ núi rừng, yêu được các thiên hà xa thẳm…

Tâm ta rộng mở được đến đâu?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: “Thuộc về” thế giới, Tư duy tích cực – “Thuộc về” cuộc đời.

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com