Tag Archives: Giáo dục

Đói tình cảm đáng sợ hơn đói cơm

mevacon
Tôi lớn lên ở tỉnh, trong một gia đình đông con và hạnh phúc. Học cấp II và cấp III ở Sài Gòn, các kỳ nghỉ hè ở quê của chị em tôi được mẹ chăm sóc đặc biệt. Không biết mẹ tôi đã làm cách nào mà suốt một tháng các bữa ăn sáng của chúng tôi không bao giờ “đụng hàng”!

Bấy nhiêu cho thấy chúng tôi được thương yêu biết chừng nào. Nhưng có những lúc tôi ước thầm thay vì ngon miệng và no bụng, mình được nói lên biết bao điều ước mơ hay ấm ức trong lòng. Ở tuổi teen thời ấy có lúc tôi cũng muốn “đi bụi” hay “chết quách cho rồi” (nhưng hồi đó chỉ nghĩ vậy thôi chứ không dám liều như một số bạn trẻ bây giờ).

Khi học cấp III ở trường Tây, tôi may mắn gặp được những cô giáo rất quan tâm hỏi han, tư vấn cho chuyện học hành hay những khó khăn riêng tư. Học đại học ở Mỹ tôi càng ngạc nhiên trong sung sướng khi thấy sinh viên chúng tôi được chăm sóc rất kỹ về mặt tình cảm, tâm lý. Từ đó tôi hiểu ra đó là một việc làm không thể thiếu để giúp hình thành những nhân cách sung mãn lành mạnh. Tuổi mới lớn có những khó khăn, nhu cầu đặc biệt mà nổi bật nhất là sự cô đơn và cảm giác không ai hiểu mình.

Tôi không trách cha mẹ mình vì cách đây hơn nửa thế kỷ không thể mong chờ những hiểu biết hiện đại về tâm lý học. Suy dinh dưỡng về mặt cơ thể dẫn tới những bệnh tật khác và để lại những di chứng lâu dài, như còi xương chẳng hạn. Sự thật là không cha mẹ nào có điều kiện mà bỏ đói con mình. Nhưng người ta rất dễ bỏ đói về tình cảm vì nhu cầu này khó phát hiện.
motherandchild
Những cái vỗ để lớn lên

Tâm lý học cho biết trẻ sinh ra cần những cái vỗ (stroke) để lớn lên lành mạnh. Đó là những cử chỉ vuốt ve, bồng ẵm có khả năng tạo những phản ứng hóa học trong cơ thể chúng. Nhờ đó chúng cảm thấy thoải mái, dễ chịu, ăn ngon, ngủ tốt. Cũng vì lý do này mà trẻ ở cô nhi viện không phát triển bình thường vì chúng thiếu sự vỗ về, vuốt ve của người lớn. Những “cái vỗ” dần dần biến thành sự quan tâm trìu mến, sự ước đoán các nhu cầu về tinh thần để đáp ứng kịp thời. Đứa cháu tôi một hôm bỗng dưng ít nói hẳn. Mẹ cháu xem tập thấy con trai có điểm thấp. Hiểu ra lý do, mẹ cháu bắt chuyện hỏi thăm những gì xảy ra với bạn bè trong lớp, rồi từ từ an ủi cháu.

Trẻ thiếu tình thương thường biểu hiện bằng nhiều cách như không nói chuyện, phá phách, đi tìm chỗ dựa nơi khác, đàn đúm với bạn bè… Sự cô đơn cũng có thể dẫn tới xu hướng tự hủy hoại trong rượu chè, ma túy… Người thiếu tình thương khi yêu có thể trở thành độc đoán, đòi hỏi quá mức, dễ ghen tuông…Trẻ phá phách ngoài đường có khi chỉ muốn thu hút sự quan tâm thôi.

Trong những lá thư gửi cho các chuyên viên tư vấn tâm lý, nhiều bạn mới lớn hay nói “cha mẹ thương mà không hiểu chúng cháu thì cũng như không”. Mà hiểu người khác cũng khó, nhất là những lứa tuổi khác. Do đó thời nay ở các nước phụ huynh phải đi học các lớp dạy làm cha mẹ để hiểu con mình. Những “cái vỗ” nho nhỏ như “hôm nay cô giáo nói gì?”, “con hết đau bụng chưa?”, “sao con không rủ bạn về nhà mình chơi?”… rất cần thiết và có thể như là sự bảo đảm với con em rằng cha mẹ luôn quan tâm đến chúng.

Mong sao ngày càng ít trẻ than phiền cha mẹ mình là người thành đạt, chỉ lo… “phấn đấu” nên không có thời giờ nói chuyện với con. Có thể người lớn chúng ta nên làm thử một bài toán để so sánh giữa tiền bạc, quyền cao chức trọng với hạnh phúc thật của gia đình. Đánh mất cái nào là nghiêm trọng hơn?

Th.S NGUYỄN THỊ OANH
Nguồn: Tuổi Trẻ

“Tôi” và “chúng ta”

team work

Một thanh niên chạy xe bạt mạng bất kể người xung quanh, một thị dân xả rác bừa bãi, một bạn trẻ ngồi ung dung trong khi một cụ già đứng mỏi chân trên xe buýt… Làm gì để nét đẹp của lối sống không vị kỷ, vì mọi người, hành xử văn hóa nơi công cộng được phát huy?

Người lớn “vì chúng ta”

Một lần nọ, tôi đi Tiệp Khắc (cũ) với một chị bạn. Chúng tôi vừa bước lên xe điện thì năm sáu thanh niên đứng bật dậy để nhường chỗ. Bước xuống xe đi bộ một lát, chị bạn tôi bỏ miếng giấy gói kẹo vào giỏ rác treo ở thân cây, bất ngờ gió thổi bay miếng giấy, khi chúng tôi quay lại để lượm nó thì một bé gái chừng bảy tám tuổi đã lượm và bỏ vào giỏ.

Người nước ngoài khen người VN thông minh, cần cù, hiếu khách, nhưng các chuyên gia quốc tế nhận xét rằng người VN không biết làm việc chung, thiếu tinh thần êkip.

Giữa một thanh niên chạy xe bạt mạng bất kể người xung quanh, một thị dân xả rác bừa bãi và một ông cán bộ tham ô, tôi thấy có một điểm giống nhau, đó là họ chỉ biết đến bản thân mình và không có một ý thức nào về trách nhiệm của họ đối với tập thể.
congdong

Có lần tôi được mời tham gia một diễn đàn hợp tác phát triển về VN tại Đan Mạch. Một phụ nữ Đan Mạch mời tôi về nhà của chị vì “tôi thường nói cho con tôi về trẻ em VN mà các cháu chưa bao giờ gặp một người VN”. Cuộc gặp gỡ với các cháu thật là vui.

Sáng hôm sau, tôi ngạc nhiên về bữa điểm tâm đạm bạc chỉ với bánh mì bơ và cà phê, không có các món patê, giămbông mà tôi thích. Chị chủ nhà giải thích: “Chúng tôi có chương trình chia sẻ góp tiền gửi các nước đang phát triển, trong đó có VN. Để tập cho trẻ em ý thức chia sẻ, cả gia đình chúng tôi đồng lòng nhịn ăn thịt nguội, mứt… cho bữa điểm tâm suốt 40 ngày”.

Tôi còn nhớ những năm 1950, khi đang du học ở Mỹ, tôi được nhà trường gửi đi dự một cuộc tranh luận liên trường về chủ đề cá nhân và cộng đồng.

Không chỉ có nói mà trường còn đưa chúng tôi tham gia các dịch vụ cộng đồng, sau đó chúng tôi thảo luận về việc làm sao nâng cao tinh thần trách nhiệm hơn nữa. Không chỉ hành động mà còn phải suy nghĩ về hành động của mình. Không có những người lớn hoàn toàn “vì chúng ta” thì bọn trẻ chúng tôi không bao giờ biết dung hòa “cái tôi và cái chúng ta” trong cuộc sống.

teamwork
Lý thuyết suông khó hiệu quả

Theo các nhà nghiên cứu, hiện tượng “dính chùm” hay thiếu “ranh giới” giữa các thành viên gia đình VN (cá nhân không có đời sống riêng và quyền tự quyết) là các nhân tố góp phần tạo ra mâu thuẫn khi con cái thời nay ngày càng muốn sự tự lập và cha mẹ lại càng siết chặt sự kiểm soát của mình. Khi cha mẹ không từ từ đổi mới tư duy và con cái ngày càng muốn tự do, nhiều thanh thiếu niên có thể bứt phá để đi tới một chủ nghĩa cá nhân cực đoan. Có em bỏ nhà ra đi, rơi vào tuyệt vọng hay sa vào tệ nạn xã hội.

Trong thời gian dài, do ngần ngại nói lên suy nghĩ thật của mình, nhất là tuổi trẻ sống khép kín, từ đó nhiều người chỉ sống cho mình, vì mình và ít mở lòng quan tâm đến chuyện xã hội. Không phải chúng ta không có chủ trương giáo dục con người VN có tinh thần vì tập thể hơn, nhưng sự kêu gọi đây đó bằng khẩu hiệu, bằng những bài học lý thuyết suông sẽ khó mang lại hiệu quả.

Ở nhiều nước phát triển, người ta sớm dạy cho trẻ em về tinh thần trách nhiệm. Trẻ em, dù trai hay gái, phải tham gia làm việc nhà, phải giữ gìn giờ giấc và vệ sinh chung, phải công bằng với anh em trong nhà như bạn bè trong lớp học. Trẻ phải học cách đi đường, tôn trọng luật lệ giao thông, kính trên nhường dưới trong tập thể… Những cử chỉ như vậy không thể được học từ một lớp giáo dục công dân mang tính lý thuyết, mà trẻ em từ lúc còn nhỏ phải có cơ hội thực hành với cha mẹ và sau đó với cô thầy giáo qua các bài tập cụ thể. Trên hết, trẻ em phải thấy tấm gương trong đời sống hằng ngày.

NGUYỄN THỊ OANH (giảng viên công tác xã hội và phát triển cộng đồng)

Một lối sống văn minh

simplelife
Nguồn: Tuổi Trẻ

Hội chứng “xài đồ xịn” không chỉ phổ biến trong giới trẻ VN với xe và điện thoại di động đời mới mà còn lan rộng ra nhiều giới. Báo chí nước ngoài đã đề cập tới chuyện xài sang của tầng lớp giàu có mới ở VN.

Hiện tượng này có thể được giải thích bằng nhiều cách. Trước tiên là để “lấy le” với thiên hạ khi ta chưa tự tin lắm về giá trị thật của mình. Kế đó là một hội chứng được gọi là “tâm lý nhà giàu mới”. Khi có tiền và tiếp cận với hàng hóa thì những “nhà giàu mới” không thể nào cưỡng lại nổi. Họ cần phô trương của cải vật chất để tạo cho mình một vị trí mới trong xã hội. “Nhà giàu cũ” lâu đời không cần chuyện đó.

Thế giới hay nhắc đến các nhà hoạt động nổi tiếng, các tỉ phú đôla như là những người sống vô cùng giản dị. Thật vậy “người xịn” không cần “đồ xịn” như một vỏ bọc bên ngoài. Những bậc “siêu xịn” như Bác Hồ hay ông Gandhi thì chỉ bộ bà ba nâu hay bộ áo vải thô năm này qua năm khác cũng được toàn thế giới nể phục.

Các nước giàu phương Tây bắt đầu sự phát triển kinh tế bằng sự tiết kiệm. Tính cách này ăn sâu trong nền văn minh của họ đến độ ngày nay phần lớn các gia đình dù giàu có vẫn tiêu pha rất hợp lý. Trong khi một “bệnh lý” thường thấy ở các nước nghèo lại là xài phung phí. Đáng ngạc nhiên là ở nước ta, một nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặt nặng lý tưởng công bằng xã hội, với một người thầy tầm cỡ thế giới về cần kiệm là Bác Hồ mà hiện nay tình trạng phung phí, xa hoa lại đang rất phổ biến cho dù ta còn đứng trong “top” về nghèo đói.

simplelife1
Một dạo người ta nhấn mạnh tiêu xài để kích cầu nhưng rõ ràng “phong trào” đã đi quá đà. Và rõ ràng là phải có một phong trào lành mạnh đi ngược lại mà không ai khác hơn các bạn trẻ phải gánh lấy trách nhiệm này. Ước gì song song với những phong trào như Mùa hè xanh, tổ chức Đoàn sẽ phát động một phong trào sống cần kiệm với những chương trình hành động cụ thể. Ví dụ ngoài việc bật đèn pha rọi thẳng vào các điểm đen tiêu xài phung phí, suy nghĩ về chuyện xài đồ xịn trong giới trẻ, có thể trở lại phong trào kế hoạch nhỏ, thậm chí phân loại rác… mà chúng ta nói nhưng chưa làm được. Chúng ta có thể làm giàu từ rác đấy. Và còn nhiều chuyện khác có thể làm nữa.

Năm 1974 tôi được mời tham gia một diễn đàn hợp tác phát triển ở Bắc Âu để nói về VN. Một gia đình mời tôi về nhà họ nghỉ một đêm để nói cho con họ về trẻ em VN. Sáng hôm sau tôi vô cùng ngạc nhiên về bữa điểm tâm quá đạm bạc chỉ với bánh mì, bơ và cà phê. Bà chủ nhà giải thích: đó là để tập cho bọn trẻ tiết kiệm; và số tiền thay vì mua thịt nguội, phômai, mứt trong 40 ngày của mùa chay sẽ là phần đóng góp của bọn trẻ vào quĩ “Mùa chay chia sẻ” để hỗ trợ các nước nghèo, trong đó có VN. Thế đấy, bạn trẻ cũng có thể tiết kiệm để chia sẻ như đã thấy trong xã hội ta. Nếu nó thành một phong trào, hẳn sẽ có tác dụng nhắc nhở những người lớn đã quên lời dạy “Cần, kiệm, liêm, chính” của Bác Hồ mà không biết mắc cỡ.

Tôi mong sao từ hàng ngũ của các bạn xuất hiện các cán bộ thật giỏi, hết lòng vì dân mà ăn mặc xuề xòa, đi xe cà tàng để quần chúng mê tít và theo gương.

NGUYỄN THỊ OANH

Bắt đầu từ người thầy

thay
Nguồn: Tuổi Trẻ

Nhắc đến vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy, người ta thường nhắc đến trang thiết bị hiện đại như phòng thí nghiệm, phương tiện nghe nhìn, học cụ… và thường lại quên điều chính yếu nhất. Đó là sự đổi mới trong tư duy và cách dạy của người thầy cùng sự chủ động hưởng ứng của người học. Từ ngàn xưa Lão Tử đã nói: “Cái gì ta nghe ta quên, cái gì ta thấy ta nhớ, cái gì ta làm ta biết”. Phải tự mình làm mới biết.

Gần đây hơn các nhà tâm lý giáo dục đã đúc kết:

Chúng ta nhớ…………….. Những gì ta

10% …………………………..đọc
20% …………………………..nghe
30% …………………………..thấy
50% …………………………..nghe và thấy (các phương tiện nghe nhìn)
80% …………………………..nói (đối thoại với thầy, thảo luận nhóm…)
90% …………………………..nói và làm điều chúng ta suy nghĩ (đóng kịch, sắm vai thực tập trong phòng thí nghiệm hay hiện trường để áp dụng điều đã học…)

Như thế với phương tiện nghe nhìn, người học nhớ được 50% nội dung trình bày, thế cũng đã tốt. Nhưng nếu chính người học chủ động hành động như nói hay làm thì hiệu quả còn cao hơn. Ví dụ phương pháp sắm vai có thể chỉ chiếm 15 phút mà gây được sự “thức tỉnh” nhớ đời.

Thảo luận nhóm, mô phỏng sắm vai… có thể được thực hiện mà không cần máy móc. Dự một lớp học ở Philippines cách đây vài năm, tôi ngạc nhiên thấy ở một lớp cao học người ta ghi kết quả thảo luận trên những tờ giấy dầu vàng khè. Hỏi ra mới biết có sự cố tình dùng các phương tiện rẻ tiền để người học có thể ứng dụng khi trở về các địa phương nghèo mà không viện cớ thiếu phương tiện.

Các nhà giáo dục nhắc rằng các phương tiện máy móc chỉ là trợ cụ. Người học vẫn thụ động tiếp thu nội dung từ trên xuống, từ bên ngoài vào. Vẫn thiếu điều chính yếu là sự tự học bằng cách tham gia vào quá trình học tập. Do đó vấn đề cốt lõi của thay đổi phương pháp giáo dục là con người chứ không phải cái máy.

thay1
Những khó khăn gặp phải từ phía người thầy

Nếu chỉ cần nhập ồ ạt các trang thiết bị thì chỉ cần tiền. Cái khó xuất phát từ sự thay đổi của người thầy. Nếu thầy là sản phẩm của giáo dục từ chương thì khó biến kiến thức thu nhận được thành “của riêng mình”, một thứ kiến thức được thử thách từ thực tế cuộc sống mà mình có thể “xào qua nấu lại” để ứng dụng trong những hoàn cảnh khác nhau.

Kiến thức ấy vừa sâu vừa rộng để có thể theo dõi những tranh luận của người học mà không sợ họ kéo mình ra ngoài đề, lại tự tin đủ để tổng hợp, tóm lược được những gì được phát biểu một cách lộn xộn trong lớp học. Kiến thức ấy vững chắc đủ để ta có thể sáng tạo trong phương pháp truyền đạt từ tình hình cụ thể của lớp học. Ví dụ thay vì giảng bài có thể đặt ra một số câu hỏi thảo luận nhóm. (Theo kinh nghiệm bản thân thì các nhóm nêu lên được hầu hết các khía cạnh của nội dung. Người thầy chỉ cần thêm những gì còn thiếu, nối kết các ý kiến thành một tổng thể logic).

Tuy nhiên, kiểu dạy này rất mệt, đòi hỏi người thầy nhiều sáng tạo để tùy cơ ứng biến. Và nếu dựa vào trình độ và đặc điểm của người học thì không lớp nào giống lớp nào. Người thầy phải tập trung tư tưởng rất cao để theo dõi diễn biến của lớp học và nắm vững phản hồi từ người học. Chính sự tiếp thu phản hồi này khiến người học thích thú vì ý kiến của họ được coi trọng, từ đó họ phấn khởi tham gia hơn nữa.

Cản ngại từ người học coi vậy mà không khó khắc phục

Đối với trẻ cấp I, II dễ đưa vào phương pháp giáo dục chủ động. Đối với sinh viên và nhất là đối với người lớn tuổi thì khó hơn nhiều. Sinh viên quen thói thụ động và nhút nhát. Họ bám vào “cái chữ” như cái phao an toàn. Bước vào lớp là mọi người lấy tập chép. Họ rất bỡ ngỡ khi được yêu cầu đừng ghi chép và phải suy nghĩ. Điều này rất khó vì họ chỉ quen tiếp thu như cái máy nhớ. Họ càng sợ phát biểu vì e bị chê cười, đánh giá, qui kết. Mối lo dai dẳng là điểm thi. Học theo kiểu “lang bang” này biết viết gì trong bài thi? Các buổi họp nhóm chưa hấp dẫn vì thực hiện chưa đúng qui cách.

Nhưng rồi với tuổi trẻ họ cũng khám phá được sự thu hút của tính sáng tạo, của các mối tương tác của những khám phá nhờ cách học vui vui học. Và trên hết sự gần gũi giữa người dạy và người học. Và từ từ họ khám phá là kiến thức thu nhận được là của chính họ. Và họ không còn nói vẹt nữa.

Trở lại người thầy

Nắm vững nội dung không đủ, người thầy cần một số kiến thức và kỹ năng tâm lý xã hội, đặc biệt là “năng động nhóm” để hướng dẫn sinh viên về tâm lý nhóm nhỏ, về cách tổ chức và điều hành thế nào cho mọi người cùng tham gia, về cách tóm lược và trình bày nội dung thảo luận. Người thầy cũng cần một số kỹ năng trong học vui vui học như sắm vai, mô phỏng, thu thập và dạy bằng tình huống.

Quan trọng nhất là cách cho bài thi để đánh giá một cách cụ thể nhất những gì sinh viên đã thu hoạch được. Nghĩa là ngoài việc kiểm tra kiến thức, người thầy còn đánh giá được cách sinh viên liên hệ chúng với thực tế và với bản thân. Một bài thi mà sinh viên không chép ở người khác được vì họ phải nói về chính họ, nhưng họ rất thỏa mãn vì chính sinh viên sẽ đánh giá được sự tiến bộ của bản thân.

Thầy còn phải nắm vững sự tiến bộ của sinh viên bằng những bài tập nhỏ để kiểm tra kết quả học tập ở từng giai đoạn, những lỗ hổng cần khỏa lấp nếu có bằng các bài tập nhỏ, nhật ký buổi học, những thu hoạch bất chợt. Thái độ tiếp nhận ý kiến khác lạ từ sinh viên của thầy rất quan trọng, bởi lẽ nếu thầy vội vã chê bai hay bất đồng ý kiến thì người học mất hứng và không dám phát biểu nữa.

Tài liệu học tập

Nhiều trường bàn về mở rộng thư viện… nhưng chưa chắc gì sinh viên chịu đọc nếu tiếp tục học theo lối cũ vì họ chỉ cần học thuộc lòng bài giảng của thầy để thi đậu. Điều lý thú trong giáo dục chủ động là khi thảo luận và tranh cãi trong nhóm và khi có sự tranh luận giữa các nhóm họ sẽ đi tìm tài liệu để đọc thêm. Nhiều bạn thú nhận là họ chịu khó đọc sách từ khi học theo phương pháp mới. Muốn sinh viên tự học thì phải có đầy đủ tài liệu tham khảo. Tiếc rằng trong một số ngành như các ngành khoa học xã hội hiện đại như tâm lý học, xã hội học thì tài liệu quá cũ, quá thiếu. Đây không phải là cản ngại nhỏ.

NGUYỄN THỊ OANH

Biết mình để truyền thông có hiệu quả

knowthyself2

Nguồn: Tuổi Trẻ
Bài tương ứng trên ĐCN: Biết Mình

Ai trong chúng ta cũng muốn có mối quan hệ sâu sắc với người khác. Ai cũng muốn ảnh hưởng được người khác, mong họ làm theo ý của chúng ta. Ấy vậy mà trong không ít trường hợp, kết quả lại ngược lại. Chúng ta bị xa lánh hay người mà ta muốn ảnh hưởng lại làm ngược ý của chúng ta. Vì sao?

Về mặt chủ quan, chúng ta luôn nghĩ rằng ta muốn điều tốt cho người khác, ví dụ như khi cha mẹ dạy con hay sếp góp ý cho cấp dưới, nhưng thông điệp phát ra không vô thưởng vô phạt. Nó bị tác động bởi những yếu tố chủ quan chi phối người phát ra nó. Ví dụ như những động cơ, nhu cầu, những cảm xúc không làm chủ được khiến cho mục đích truyền thông bị sai lệch.

Ông B ưa “nổ” và trở thành “trung tâm của vũ trụ” trong một tập thể. Ông đùa cũng có duyên nhưng lần lần người ta cũng ngán rồi xa lánh ông. Nhu cầu thầm kín của ông là được coi trọng, nể nang mà ông không có được từ người thân.

Bà C đi đâu cũng khoe con, khoe của vì mặc cảm thua kém. Chị E dạy con rất khắt khe nhưng không hiệu quả vì chị hay nặng lời với chúng khi giận chồng, nghĩa là chị giận cá chém thớt. Anh H toàn báo cáo tích cực với sếp vì muốn lấy điểm và những vấn đề thật của cơ quan không được giải quyết.

knowthyself3

Đối với người phát có hai cơ chế tâm lý cần quan tâm. Đó là khái niệm hay hình ảnh về bản thân và cơ chế tự vệ. Hình ảnh về bản thân là cách chúng ta tự đánh giá mình một cách không ý thức… Nó hình thành từ cách người xung quanh phản ứng, đối xử, đánh giá chúng ta từ lúc nhỏ và hình ảnh này có xu hướng tự khẳng định với thời gian dù nó có thể thay đổi khi hoàn cảnh thay đổi đột ngột và mạnh mẽ. (Khái niệm này được giải thích cặn kẽ trong loạt bài “Ý thức về giá trị bản thân” – TTCN 2003).

Nếu tự đánh giá mình thấp, ta có mặc cảm tự ti, ta có thể khép kín, không dám tự khẳng định mình, không dám bày tỏ nhu cầu, nguyện vọng của mình. Ngược lại, ta có thể che giấu mặc cảm thua thiệt bằng cách “nổ” hay khoe khoang như trường hợp ông B và bà C kể trên. Nếu tự đánh giá mình tích cực thì ta tự tin và người tự tin không cần khoe khoang, màu mè. Họ trung thực, giản dị, dễ hòa đồng. Các mối quan hệ sẽ trong suốt, trôi chảy.

Cơ chế thứ hai ảnh hưởng quá trình truyền thông là cơ chế tự vệ. Những cố gắng để đối phó với những khó khăn, đau khổ, bực dọc, lo âu, mặc cảm tội lỗi… trong cuộc sống có khi rất khó chịu đựng nên ta có xu hướng lờ đi hoặc tránh né bằng những cách như sau:

a) Đè nén: là cố tình gạt ra ngoài ý thức các ý tưởng, cảm xúc mà ta không thích. Ta tự dối mình bằng cách tránh né thực tế không vui thay vì công nhận nó. Bằng cách này, ta tự chôn mình trong một thế giới theo ý muốn và đứng ngoài thực tế.
knowthyself1

b) Tránh né: ta không chối bỏ thực tế đau buồn, nhưng tô hồng nó như bà C tô hồng thực tế bằng cách khoe khoang của cải, con cái.

c) Bù đắp: là cố gắng che đậy một khuyết điểm, khuyết tật bằng cách phát triển một nét tích cực khác. Điều này khá bình thường và không có gì xấu. Ví dụ như người mù có thính giác tốt nên cố học ngoại ngữ, học hát thật hay… Tuy nhiên, nếu làm thái quá có thể mất tác dụng. Ông B tận dụng sự có duyên của mình để vui với bạn bè, để bù đắp cho sự thiếu quan tâm của vợ con. Nhưng khi ông “nổ” quá thì người ta ngán.

d) Phóng chiếu: là gán cho người khác những ý kiến hay lỗi lầm của mình. Không thích một thầy giáo trong lớp, N tuyên bố “đa số” học sinh chống đối thầy. Hoặc ta đổ lỗi cho số phận về những thất bại của ta.

e) Viện lý lẽ: đưa ra những lý lẽ không đúng sự thật để biện minh cho hành động của ta: “tôi đánh con vì tôi thương con”.

f) Giận cá chém thớt: như bà mẹ E giận chồng lại đánh con kể trên.

g) Thoái bộ: là trở lại hành vi thơ ấu để tránh né thử thách, khỏi có trách nhiệm. Đứa bé đã lớn đột nhiên đái dầm, bắt mẹ đút ăn vì mẹ mới có em bé. Nó sợ mất tình thương của mẹ, sợ mất vị trí ưu tiên nên muốn trở thành em bé. Người lớn cũng có những lúc đau ít mà tỏ ra đau nhiều để được chăm sóc…
knowthyself
Trên đây là những phản ứng mà ta có thể quan sát hằng ngày khi con người phải đối phó với những khó khăn thử thách nội tâm và không có sức mạnh để nhìn nhận thực tế. Chúng chi phối thái độ và hành động của ta khiến ta không còn thật với mình và với người khác. Điều này làm cho các mối quan hệ thêm khó khăn, nội dung truyền thông bị rối nhiễu.

Do đó, để truyền thông có hiệu quả, cần biết mình, biết các động cơ và cảm xúc chi phối mình. Làm chủ chúng, điều chỉnh chúng để phát ra những thông điệp càng khách quan càng tốt. Khi truyền thông, ta muốn điều tốt cho người kia nhưng lắm khi ta lại làm tổn thương họ, gây mất tin tưởng, làm cho đôi bên khó gần nhau. Ta tưởng ta giúp họ nhưng thực tế ta đang giải tỏa nhu cầu của chính ta.

NGUYỄN THỊ OANH

Trụ đá Asoka (Ấn độ) — Xuất xứ và ý nghĩa

asoka
Vua Asoka (304-232 trước tây lịch), một vị vua Ấn Độ, vốn hung tàn bạo ngược thống lãnh một vùng lãnh thổ lớn nhờ vào các cuộc chinh phạt mở mang bờ cõi liên tiếp thành công. Sau khi lên ngôi được 8 năm, vua Asoka mở cuộc chiến ở Kalinga (nay thuộc bang Orissa, Ấn Độ). Sau trận chiến Kalinga, phần thắng thuộc về vua Asoka, nhưng con số 100 000 người bị giết và 150 000 người bị bắt làm tù binh đã đánh thức vị vua này về sự tàn bạo và vô lý của chiến tranh. Mốc lịch sử này đánh dấu sự quay về với Đạo Phật của vua Asoka.

Từ khi quy y Tam Bảo, nhà vua trở nên người nhân từ, hiền lành và đem tâm ôn hòa nhân từ cai trị quần dân, dùng chính sách hòa bình và thành tín trong bang giao với các nước láng giềng theo tinh thần Phật pháp. Nhà vua thay tiếng trống trận bằng tiếng trống Pháp, coi việc chinh phục lòng dân bằng đạo đức là chiến thắng tối hậu. Nhờ thực hành chánh pháp, từ một bạo chúa, vua Asoka từ bỏ chính sách đàn áp xâm lăng và theo đuổi đường lối hòa bình đức trị. Nhà vua cho lập các bia đá và ghi vào đó những chủ trương của nhà vua, cùng những lời hay ý đẹp nhắc nhở về lối sống đạo đức, làm thiện, tránh ác cho dân chúng rồi cho đặt ở các nơi công cộng dễ thấy. Ví dụ ở bia ký số VI ghi rằng:

“Thiên tử, Vua Piyadasi phán rằng: Trong quá khứ, những việc khẩn trương hoặc các chứng từ không hề được đệ trình hoàng thượng thường xuyên. Nhưng nay trẫm ra lệnh này, với các việc như vậy, các quan có thể đến gặp trẫm bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu, dù trẫm đang ăn, đang ở trong hậu cung, trong cấm cung, trên long xa, trong ngự giá, trong thượng uyển hay đang cầu nguyện. Và khi một ban bố hay tuyên dương bằng khẩu lệnh, hoặc vì quốc sự khẩn cấp trẫm ủy quyền cho các quan đại thần, mà gây nên sự bất đồng hay bàn cãi trong triều thì phải báo cho trẫm biết ngay, dù đang ở nơi đâu. Đó là mệnh lệnh của trẫm.

Trẫm không bao giờ bằng lòng với mình về những việc Trẫm làm. Trẫm cho rằng việc làm cho thần dân sống an ổn là nhiệm vụ cao cả nhất của trẫm, và cốt lõi của việc này là phải chính mình tận lực. Đối với trẫm, không có điều gì quan trọng hơn là đời sống an ổn của thần dân, và tất cả những nỗ lực của trẫm chỉ là trả nợ chúng sinh để mưu cầu hạnh phúc cho họ trong đời này và đạt đến thiên giới trong kiếp sau.

Vì vậy trẫm lệnh cho Pháp Dụ này được khắc ra. Mong pháp dụ này trường tồn và các con, cháu và chắt của trẫm noi theo vì sự an sinh cho mọi người. Tuy nhiên đây là một việc khó nếu không nhiệt tâm và tận lực.”

King Asoka's rock edict
King Asoka's rock edict

(Thus speaks the Beloved of the Gods, the king Piyadassi. In the past the quick dispatch of business and the receipt of reports did not take place at all times. But 1 have now arranged it thus. At all times, whether I am eating, or am in the women’s apartments, or in my inner apartments, or at the cattle-shed, or in my carriage, or in my gardens – wherever I may be, my informants should keep me in touch with public business. Thus everywhere I transact public business. And whatever I may order by word of mouth, whether it concerns a donation or a proclamation or whatever urgent matter is entrusted to my officers, if there is any dispute or deliberation about it in the Council, it is to be reported to me immediately, at all places and at all times.
This I have commanded. In hard work and the dispatch of business alone, I find no satisfaction. For I consider that I must promote the welfare of the whole world, and hard work and the dispatch of business are the means of doing so. Indeed there is no better work than promoting the welfare of the whole world. And whatever may be my great deeds, I have done them in order to discharge my debt to all beings. I work for their happiness in this life, that in the next they may gain heaven. For this purpose has this inscription of Dhamma been engraved. May it endure long. May my sons, grandsons, and great grandsons strive for the welfare of the whole world. But this is difficult without great effort.)

Hầu như tất cả 33 pháp dụ hiện có của vua Asoka đều có nội dung tích cực như vậy. Ngoài việc lập các pháp dụ ở nhiều nơi trên khắp lãnh thổ, một điều đặc biệt nữa là, sau khi quy y Phật giáo, vua Asoka đến chiêm bái Tứ Động Tâm – bốn di tích lịch sử gắn liền với các sự kiện chính trong cuộc đời Đức Phật. Đến đâu, nhà vua ra lệnh khắc bia đá để làm tưởng niệm đến đó. Các trụ đá, bia ký và pháp dụ Asoka còn lưu giữ tại các viện bảo tàng ngày nay là những dấu ấn ghi lại sự tôn kính, ngưỡng mộ Đức Phật và Đạo Phật của một vị vua thuần thành, một vị vua chủ trương cai quản quốc gia bằng tinh thần từ bi và hài hòa của Phật pháp.

Trị vì một lãnh thổ rộng hơn diện tích Ấn Độ bây giờ, đảm bảo đời sống thái bình thịnh vượng cho người dân, cai trị đất nước bằng đạo đức có thể nói là thành công vĩ đại nhất của vị vua Phật tử anh minh này. Hình ảnh vua Asoka trở thành biểu tượng lý tưởng cho những nhà lãnh đạo chân chính.

Trụ đá Asoka
Trụ đá Asoka
Chính vì chính sách quản lý và điều hành quốc gia của vua Asoka quá lý tưởng như vậy, ngay sau khi độc lập, biểu tượng đầu trụ đá bốn sư tử do vua Asoka dựng ở Sarnath được chọn làm quốc huy của Ấn Độ và một phần biểu tượng này được chọn làm một phần của lá cờ tổ quốc như một sự tri ân người xưa và khuyến khích người nay.

Trụ đá bốn đầu sư tử của vua Asoka

Trụ đá có bốn đầu sư tử được vua Asoka cho khắc dựng tại thánh địa ở Sarnath, khi nhà vua đến chiêm bái thánh tích này. Nơi đây, Đức Phật thuyết bài pháp đầu tiên và chính nơi đây, tăng đoàn đầu tiên được thành lập, Trụ đá này cao 50 feet (15.24 mét). Trên trụ đá có khắc chỉ dụ của vua Asoka rằng “không ai được gây chia rẽ trong tăng đoàn”. Nét đặc biệt của trụ đá Asoka ở Sarnath là đầu trụ được khắc bốn sư tử (các trụ đá ở nơi khác chỉ có một sư tử hoặc một con vật khác), dựa lưng vào nhau, đặt trên một trụ ngắn tròn. Trên bề mặt của trụ ngắn này có bốn bánh xe Pháp gồm 24 căm xen kẽ với bốn con vật xung quanh: một con voi, một con bò đực, một con ngựa và một con sư tử. Tiếp nối với đoạn hình trụ là đế bán cầu hình hoa sen dốc ngược.

banhxe Bốn đầu sư tử quay về bốn hướng chỉ cho chánh pháp của Đức Phật, từ vườn Lộc Uyển, nơi Ngài thuyết bài pháp đầu tiên và là nơi tạo dựng trụ đá này, được truyền bá khắp bốn phương. Bánh xe tượng trưng cho Phật pháp luân chuyển khắp mọi nơi mọi chốn. Sau này, các tổ chức Phật giáo chọn hình ảnh bánh xe pháp để trang trí, làm logo và biểu tượng cho tổ chức mình với ý nghĩa tương tự.

Bốn con vật trên trụ đá bốn đầu sư tử ở Sarnath được các nhà nghiên cứu giải thích là tượng trưng cho bốn giai đoạn trong cuộc đời của Đức Phật. Voi tượng trưng cho ý niệm về giấc mơ của hoàng hậu Maya, mẹ của thái tử Sĩ Đạt Ta (sau này là Đức Phật), Bà nằm mộng thấy coi voi trắng chui vào bên hông phải, rồi Bà thọ thai thái tử.

4 con vật và 4 bánh xe
4 con vật và 4 bánh xe
Con bò đực là tượng trưng cho sự sung mãn hạnh phúc trần gian khi Đức Phật còn là một thái tử sống trong hoàng cung. Con ngựa tượng trưng cho sự ra đi tìm đường giải thoát khỏi khổ đau cho nhân loại. Đêm vượt thành xuất gia, thái tử ra đi trên một con ngựa. Con sư tử tượng trưng cho cuộc đời hành đạo viên mãn của Đức Phật. Pháp Ngài truyền giảng như tiếng rống của sư tử đánh thức bao con người lìa bến mê sang bờ giác. Bốn đầu sư tử là biểu tượng cho những nền tảng căn bản của Phật pháp là chân lý, hoà bình, lòng khoan dung và lòng từ bi.

Bên cạnh cách giải thích có tính tôn giáo, một số người giải thích trụ đá bốn đầu sư tử của Asoka tại Sarnath theo cách phi tôn giáo. Theo cách giải thích này thì bốn đầu sư tử tượng trưng cho sự thống lãnh khắp bốn phương của vua Asoka. Bánh xe pháp tượng trưng cho cho sự lãnh đạo sáng suốt của vua Asoka và bốn con vật tượng trưng cho các lãnh địa của Ấn Độ thời bấy giờ dưới sự thống lãnh của vua Asoka. Dù giải thích bằng cách nào đi nữa, không ai phủ nhận một sự thật là vua Asoka, sau khi quay về quy y Tam Bảo và thực hành Phật pháp, đã áp dụng tinh thần Phật pháp để trị quốc an dân.

Hình ảnh trụ đá bốn đầu sư tử của Asoka tại Sarnath ngày nay được tìm thấy ở đâu?

Trụ đá nguyên thủy ở Sarnath và viện bảo tàng Sarnath

Trụ đá nguyên thủy
Trụ đá nguyên thủy

Trụ đá vua Asoka cho khắc dựng tại Sarnath được xác định là khoảng năm 250 trước tây lịch. Trụ đá ấy, qua năm tháng thời gian, đã bị gãy đổ. Phần thân trụ, còn bốn đoạn gãy và các mảnh vỡ, được lưu giữ ngay trên thánh địa nơi đánh dấu Đức Phật thuyết bài pháp đầu tiên, bắt đầu vận chuyển bánh xe chánh pháp. Các đoạn trụ này được bao bọc trong một rào chắn, có mái che, cùng trong khuôn viên thánh tích, cách tháp Dhamek (tháp do vua Asoka xây đồng thời với trụ đá) không xa. Đầu trụ là bốn đầu sư tử như đã mô tả ở trên, được lưu giữ tại viện bảo tàng Sarnath ngay gần khu thánh tích.

Quốc huy Ấn độ
Trên quốc huy Ấn Độ

Biểu tượng bốn đầu sư tử của trụ đá Asoka tại Sarnath được chọn làm quốc huy của đất nước Ấn Độ vào ngày Ấn Độ tuyên bố dân chủ, ngày 26 tháng 1 năm 1950. Phần đế nửa hoa sen dốc xuống được cắt đi, thay vào đó là hàng chữ văn tự Devanagari “Satyameva Jayate” nghĩa là “chỉ có chân lý là chiến thắng” (Truth Alone Triumphs). Trên quốc huy, hình chụp trụ đá thấy được ba đầu sư tử dựa vào nhau, đầu sư tử thứ tư bị khuất. Ba trong bốn bánh xe được nhìn thấy, một bánh xe ngay chính giữa và hai bánh xe hai bên. Bốn con vật trên trụ đá chỉ thấy được con ngựa bên trái và con bò đực bên phải. Voi và sư tử khuất đằng sau.

.

Trên tiền: Vì được chọn làm quốc huy, nên hình ảnh trụ đá sư tử Asoka bốn đầu này xuất hiện trên tiền giấy cũng như tiền cắc Ấn Độ. Ở tiền giấy, biểu tượng quốc huy xuất hiện ở góc dưới bên trái. Ở tiền cắc, biểu tượng này lớn hơn, nằm trên một mặt của đồng tiền.

Tiền Ấn độ
Tiền Ấn độ
Tiền cắc Ấn độ
Tiền cắc Ấn độ

Trên tem: biểu tượng quốc huy này cũng được chọn in trên tem thư.

Tem Ấn độ
Tem Ấn độ

Trên đầu giấy viết thư của các cơ quan nhà nước: Biểu tượng quốc huy xuất hiện trên tựa đề các đơn, thư của các cơ quan nhà nước.

Đầu thư chính phủ
Đầu thư chính phủ

Trên cơ sở của tổ chức chính quyền và các cơ sở ngoại giao của Ấn Độ ở nước ngoài

IndiaNationallogo

Trên hộ chiếu: như hộ chiếu của bao quốc gia khác, trang bìa hộ chiếu công dân Ấn Độ có biểu tượng quốc huy.

Hộ chiếu Ấn độ
Hộ chiếu Ấn độ

India flag
Trên cờ tổ quốc: Bánh xe Pháp Asoka trên đế trụ đá Sarnath được chọn đặt vào vị trí trung tâm của lá cờ tổ quốc từ năm 1947, khi Ấn Độ giành được độc lập. Cờ Ấn Độ có ba sọc ngang với ba màu vàng sậm, trắng và xanh biển, ở giữa là bánh xe 24 căm. Bánh xe Pháp này được đặt ở vị trí trung tâm lá cờ, chiếm ba phần tư (3/4) chiều cao phần màu trắng.

Rõ ràng, khi chọn đầu trụ đá bốn sư tử của Asoka, một vị vua Phật tử làm quốc huy của đất nước, các nhà lãnh đạo Ấn Độ muốn biểu dương và noi gương tinh thần trị quốc an dân bằng đạo đức của vị vua anh minh này nhằm hướng đến một xã hội thái bình, thịnh vượng. Ngày nay, trên bề mặt, Đạo Phật không còn hưng thịnh trên đất Ấn. Thế nhưng sâu thẳm trong triết lý sống, văn hóa, sinh hoạt và thơ nhạc, người Ấn thể hiện tinh thần, tính chất và nội hàm của Đạo Phật rất nhiều. Biểu tượng trụ đá bốn đầu sư tử của Asoka tại Sarnath và ảnh hưởng của biểu tượng này đến đất nước và con người Ấn Độ cho đến ngày nay là một điển hình.

Hằng Như

Chào mừng Ngày Quốc tế Lao động

1.5.1913 (Nguồn: Thư Viện Quốc Hội Mỹ)
1.5.1913 (Nguồn: Thư Viện Quốc Hội Mỹ)

Chào các bạn,

Ngày 1/5 là Ngày Quốc tế Lao Động, còn gọi là “Ngày Tháng Năm” (May Day). Đây là ngày lễ tại nhiều quốc gia trên thế giới, dành để tôn vinh lao động và gây dựng đoàn kết lao động trên thế giới.

Tại Mỹ và Canada, Ngày Lao Động là ngày Thứ hai đầu tiên của tháng 9. Cho năm nay (2009), Ngày Lao Động ở Mỹ và Canada là ngày 7 tháng 9. Ngày Lao Động tháng 9 này có nguồn gốc từ Canada. Ngày 3 tháng 9 năm 1872, một số nghiệp đoàn ở Canada biểu tình chống việc chính phủ bắt một số nhân công tuần hành “đòi tuần làm việc 58 giờ” trong một cuộc biểu tình trước đó vài tháng. Cuộc biểu tình tháng 9 thành công. Ngày 23.7.1894, thủ tướng Canada John Thompson ký sắc lệnh ấn định Ngày Lao Động trong tháng 9.

Tại Mỹ, kể tử ngày 5 tháng 9 năm 1882, nghiệp đoàn cũng đã bắt đầu tuần hành hàng năm vào đầu tháng 9 như ở Canada. Và năm 1894, năm Canada chính thức nhận Ngày Lao Động tháng 9, thống thống Mỹ Grover Celveland cũng chấp nhận Ngày Lao Động tháng 9 như Canada, để cạnh tranh với Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5, là ngày Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản đã chọn là Ngày Quốc Tế Lao Động và được cả thế giới đồng ý.

Nhưng, lịch sử có nhiều chuyện buồn cười, và lãnh đạo thế giới đôi khi hành động như trẻ con :-), vì Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5 có nguồn gốc từ Mỹ !!

Truyền đơn kêu gọi biểu tình ở Quảng trường Haymarket 4.5.1886
Truyền đơn kêu gọi biểu tình ở Quảng trường Haymarket 4.5.1886

Khởi đầu với biến cố Haymarket, ngày Thứ ba, 4.5.1886, tại Quảng trường Haymarket ở Chicago. Ba ngày trước đó, 1.5.1886, hàng chục nghìn nhân công ở Chicago và các thành phố khác đã biểu tình đòi “Ngày làm việc 8 tiếng.” Ngày 4/5, cảnh sát đàn áp, một trái nổ không biết ai ném, giết chết một nhân viên cảnh sát. 8 lãnh đạo nghiệp đoàn bị bắt. 7 người bị tuyên án tử hình và 1 người án tù 15 năm, dù là không có bằng chứng gì nối cuộc ném bom với các lãnh đạo nghiệp đoàn, và cho đến ngày nay người ta vẫn không xác minh được là ai đã ném bom. Hai người án tử hình sau đó được thống đốc bang Illinois giảm xuống thành án chung thân. Trước ngày tử hình, một người tự tử trong tù, 4 người bị đưa ra pháp trường.

Quảng trường Haymarket 4.5.1886
Quảng trường Haymarket 4.5.1886

Vụ án này làm giới lao động và báo chí nước Mỹ phẩn nộ, đưa đến nhiều đấu tranh của lao động ở Mỹ cũng như tại các nơi khác trên thế giới. Năm 1888, Hiệp Hội Lao Động Mỹ (AFL — American Federation of Labor) quyết đinh chọn ngày 1.5.1890 (kỷ niệm biến cố Haymarket) để biểu tình tranh đấu đòi “Ngày làm việc 8 tiếng.” Năm 1889, chủ tịch AFL, Samuel Gompers, gửi một lá thư đến hội nghị đầu tiên của Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản đang họp ở Paris, đề nghi một cuộc đấu tranh quốc tế cho “Ngày làm việc 8 tiếng.” Đệ Nhị Quốc Tế liền quyết định gọi một “cuộc biểu tình quốc tế vĩ đại” cùng một ngày trên khắp thế giới, vào ngày 1 tháng 5.

Bảng Di Tích Lịch Sử tại Haymarket ngày nay
Bảng Di Tích Lịch Sử tại Haymarket ngày nay

Chúng ta có thể đọc bài sau đây trên VietNamNet, viết ngày 1.5.2007.


Lịch sử ngày Quốc tế Lao động 1/5

(VietNamNet) – Hằng năm, người lao động trên toàn thế giới lại cùng nhau kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5. Tại Việt Nam, đây là một ngày mà mọi người dân ai ai cũng được nghỉ ngơi, vui chơi không phải làm việc. Tuy vậy, không phải ai cũng biết được lịch sử cũng như ý nghĩa trọng đại của ngày Quốc tế Lao động, nhất là các bạn trẻ thế hệ 8X, 9X.

Trong cuộc đấu tranh giữa tư bản và lao động, vấn đề thời gian lao động có ý nghĩa quan trọng. Ngay sau khi thành lập Quốc tế I năm 1864, Mác coi việc rút ngắn thời gian lao động là nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp vô sản. Tại Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản I họp tại Gieneve (Thụy Sĩ) tháng 9/1866, vấn đề đấu tranh cho ngày làm việc 8 giờ được coi là nhiệm vụ quan trọng. Khẩu hiệu ngày làm 8 giờ sớm xuất hiện trong một số nơi của nước Anh, nước có nền công nghiệp phát triển sớm nhất. Yêu sách này dần lan sang các nước khác.

Chuẩn bị cho 1/5, Senaatintori square, Helsinki, Finland
Chuẩn bị cho 1/5, Senaatintori square, Helsinki, Finland

Do sự kiện giới công nhân viên chức Anh di cư sang Mỹ, phong trào đòi làm việc 8 giờ phát triển mạnh ở nước Mỹ từ năm 1827, đi đôi với nó là sự nảy nở và phát triển phong trào Công đoàn. Năm 1868, giới cầm quyền Mỹ buộc phải thông qua đạo luật ấn định ngày làm 8 giờ trong các cơ quan, xí nghiệp thuộc Chính phủ. Nhưng các xí nghiệp tư nhân vẫn giữ ngày làm việc từ 11 đến 12 giờ.

Năm 1884, tại thành phố công nghiệp lớn Chicago, Đại hội Liên đoàn Lao động Mỹ thông qua nghị quyết nêu rõ: “…Từ ngày 1/5/1886, ngày lao động của tất cả các công nhân sẽ là 8 giờ”. Sở dĩ ngày 1/5 được chọn bởi đây là ngày bắt đầu một năm kế toán tại hầu hết các nhà máy, xí nghiệp ở Mỹ. Vào ngày này, hợp đồng mới giữa thợ và chủ sẽ được ký. Giới chủ tư bản có thể biết trước quyết định của công nhân mà không kiếm cớ chối từ.

1.5.1948 New York City
1.5.1948 New York City

Ngày 1/5/1886, do yêu cầu của công nhân không được đáp ứng một cách đầy đủ, giới công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago. Khoảng 40 nghìn người không đến nhà máy. Họ tổ chức mit-tinh, biểu tình trên thành phố với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!” Cuộc đấu tranh lôi cuốn ngày càng đông người tham gia. Cũng trong ngày hôm đó, tại các trung tâm công nghiệp khác trên nước Mỹ đã nổ ra 5.000 cuộc bãi công với 340 nghìn công nhân tham gia. Ở Washington, New York, Baltimore, Boston… hơn 125.000 công nhân giành được quyền ngày chỉ làm 8 giờ.

Những cuộc biểu tình tại Chicago diễn ra ngày càng quyết liệt. Giới chủ đuổi những công nhân bãi công, thuê người làm ở các thành phố bên cạnh, thuê bọn khiêu khích và cảnh sát đàn áp, phá hoại cuộc đấu tranh của công nhân. Các xung đột xảy ra dữ dội khiến hàng trăm công nhân chết và bị thương, nhiều thủ lĩnh công đoàn bị bắt… Báo cáo của Liên đoàn Lao động Mỹ xác nhận: “Chưa bao giờ trong lịch sử nước Mỹ lại có một cuộc nổi dậy mạnh mẽ, toàn diện trong quần chúng công nghiệp đến như vậy”.

1.5.2008 New York City
1.5.2008 New York City

Ngày 20/6/1889, ba năm sau “thảm kịch” tại thành phố Chicago, Quốc tế cộng sản lần II nhóm họp tại Paris (Pháp). Dưới sự lãnh đạo của Frederic Engels, Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản II đã quyết định lấy ngày 1/5 hàng năm làm ngày biểu dương lực lượng và đấu tranh chung của tầng lớp vô sản các nước.

Từ đó, ngày 1/5 trở thành Ngày Quốc tế Lao động, ngày đấu tranh của giai cấp công nhân, ngày nghỉ ngơi và biểu dương lực lượng, ngày hội của công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới.

Năm 1920, dưới sự phê chuẩn của Lê Nin, Liên Xô (cũ) là nước đầu tiên cho phép người dân được nghỉ làm vào ngày Quốc tế Lao động 1/5. Sáng kiến này dần dần được nhiều nước khác trên thế giới tán thành.

Tại Việt Nam, sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời (1930), giai cấp công nhân Việt Nam đã lấy ngày l/5 hàng năm làm ngày đỉnh cao của phong trào đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập – tự do – dân chủ, giành những quyền lợi kinh tế – xã hội. Trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, việc kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5 phần nhiều phải tổ chức bí mật bằng hình thức treo cờ, rải truyền đơn. Năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận bình dân Pháp và Mặt trận dân chủ Đông Dương, ngày Quốc tế Lao động lần đầu tiên được tổ chức công khai tại Hà Nội, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Đặc biệt, ngày 1/5/1938, một cuộc biểu tình lớn gồm hàng chục ngàn người đã diễn ra ở khu Đấu xảo Hà Nội với sự tham gia của 25 ngành, giới: thợ hoả xa, thợ in, nông dân, phụ nữ, người cao tuổi, nhà văn, nhà báo… Đây là cuộc mit-tinh lớn nhất trong thời kỳ vận động dân chủ (1936 – 1939), một cuộc biểu dương sức mạnh đoàn kết của nhân dân lao động do Đảng lãnh đạo. Nó đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật tổ chức và lãnh đạo của Đảng ta.

Ngày nay, ngày Quốc tế Lao động đã trở thành ngày hội lớn của hai giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Đây cũng là ngày biểu thị tình đoàn kết hữu nghị với giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, cùng đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội.

L.A (dịch từ Internet)

Chúc các bạn một Ngày Quốc Tế Lao Động vui vẻ thoải mái, không lao động !

Mến,

Hoành

Giảng dạy

lop-hoc_thay-khoa
Giảng dạy

Rồi một thầy giáo nói: “Giảng cho chúng tôi về Giảng dạy.”
Và [Tiên tri] nói:

Không ai có thể khai mở điều gì cho bạn, ngoại trừ những điều đã nằm lim dim trong hừng đông kiến thức của chúng ta.

Người thầy đi trong bóng thánh đường, giữa các tín đồ, không trao tặng trí tuệ nhưng trao tặng lòng tin và tình yêu của ông.

Nếu thầy thật sự khôn ngoan, ông sẽ không mời bạn đi vào căn nhà trí tuệ, nhưng sẽ dẫn bạn đến ngưỡng cửa của tâm trí của chính bạn.

Nhà thiên văn có thể nói với bạn về hiểu biết của ông về không gian, nhưng ông không thể cho bạn hiểu biết của ông.

Người nhạc sĩ có thể hát cho bạn nhịp điệu có trong mọi không gian, nhưng ông không thể cho bạn đôi tai có thể bắt được nhịp điệu hoặc giọng hát dội vang nhịp điệu.

Và người rành khoa toán số có thể nói về các lãnh vực của trọng lượng và đo lường, nhưng ông không thể đưa bạn vào các lãnh vực đó.

Bởi vì tầm nhìn của một người không cho người khác mượn đôi cánh của nó.

Và như mỗi người các bạn đứng một mình trong tri kiến của Thượng đế, mỗi người các bạn phải một mình trong kiến thức của mình về Thượng đế và trong hiểu biết của mình về quả đất.

Trần Đình Hoành dịch
© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

.

cogiao
Teaching

Then said a teacher, “Speak to us of Teaching.”
And he said:

No man can reveal to you aught but that which already lies half asleep in the dawning of our knowledge.

The teacher who walks in the shadow of the temple, among his followers, gives not of his wisdom but rather of his faith and his lovingness.

If he is indeed wise he does not bid you enter the house of wisdom, but rather leads you to the threshold of your own mind.

The astronomer may speak to you of his understanding of space, but he cannot give you his understanding.

The musician may sing to you of the rhythm which is in all space, but he cannot give you the ear which arrests the rhythm nor the voice that echoes it.

And he who is versed in the science of numbers can tell of the regions of weight and measure, but he cannot conduct you thither.

For the vision of one man lends not its wings to another man.

And even as each one of you stands alone in God’s knowledge, so must each one of you be alone in his knowledge of God and in his understanding of the earth.

The prophet
Kahlil Gibran

Các chương trong The Prophet đã dịch:

Giving
Love
Reason and Passion

Giành nhiều thời gian hơn để lắng nghe

listenattentively

Các luật sư có câu nói này về tranh luận giữa những luật sư là đối thủ của nhau. “Bên cứ nói hoài là bên đang thua”.

Trong suốt một khoảng thời gian rất dài, tôi cứ nghĩ rằng điều thẩm định giá trị của tôi là những điều tôi nói. Khi không nói, tôi cũng có nghe người khác, nhưng một nửa đầu óc luôn luôn suy tính câu gì tôi sẽ nói tiếp. Cứ như là tôi nghe nhạc nhưng chỉ nhập được vào đầu âm điệu bản nhạc, nhưng không nghe thấy hòa âm, các nhạc cụ, và sự tinh tế trong từng đoạn nhạc.

Để thực sự lắng nghe, ta cần tích cực chú tâm. Lắng nghe và tiếp thu toàn bộ thông điệp, với tất cả ý tứ bên trong, những bóng dáng nghĩa lý thầm lặng và có lẽ không chủ tâm, sẽ giúp bạn khi bạn nói, bạn sẽ đóng góp được nhiều hơn, với ít từ ngữ hơn.

Để chuyện lắng nghe này không giống kiểu một thủ thuật, tôi nói là bạn không chỉ chú ý lắng nghe những người khác đâu. Thử với chính mình xem. Chú ý không chỉ tới giọng nói của bạn, mà còn những rung động không lời, sự vui thích, sự giận dữ, sự bồn chồn, cảm giác thực sự–dù không nói ra–về mọi chuyện.

Phải tốn rất nhiều năm để tôi học được việc chú ý tới các phản ứng phức tạp của tôi đối với các tình huống–các phản ứng đó thường rất khác những thái độ thân thiện và xây dựng mà tôi nghĩ tôi nên có và giả đò rằng tôi có. Tôi học được rằng, nếu tôi không thật sự để tâm tới trạng thái tâm trí của tôi, tôi không thể lưu tâm thật sự tới những người khác. Tôi không thể giúp đỡ người khác thật lòng; tôi cũng không thể nhận được giúp đỡ thật lòng.

Vậy hãy giành nhiều thời gian hơn để lắng nghe chính mình cũng như người khác.

John Walsh Trích từ bài phát biểu lễ tốt nghiệp của trường Wheaton College.

listenattentively1
Spend more time listening

Lawyers have a saying about conferences between legal opponents: “The side doing the talking is losing.”

For the longest time I thought that the test of my value was what I had to say. When I wasn’t talking, I did listen to others, but with half my mind figuring out what I’d say next. It’s as though I had been listening to music and just registering the melody but not hearing the harmony, the instruments, the subtleties of phrasing.

To really listen takes active attention. To have listened and absorbed the whole message, with all its connotations, its unspoken and maybe unintended shadings, makes it likelier that when you do speak, you will contribute more, and do so with fewer words.

Lest this sound like a lesson in tactics, let me say that it’s not just other people to whom you might listen more attentively, Try it on yourself. Pay attention not just to your voice, but also to your unvoiced sensations, your pleasure, your anger, your unease, your unspoken but genuine sense of things.

It took me years to learn to pay attention to my complex reactions to situations, which were often so different from the friendly, constructive attitudes I thought I should have, and pretended to have. I’ve learned that if I didn’t attend honestly to my own state of mind, I couldn’t pay honest attention to others. I couldn’t give empathetic help to others, or get it, either.

So spend more time listening to yourself as well as others.

COMMENCEMENT ADDRESS BY JOHN WALSH, Wheaton College
Norton, MA
2000

Cộng hưởng tích cực

synergy
Chào các bạn,

Synergy là “Năng lực cộng hưởng”, năng lực tạo ra do làm việc hòa hợp với nhau. Synergy có gốc chữ Hy Lạp là “làm việc với nhau.” Năng lực cộng hưởng nói đến một hiện tượng quan trọng: Năng lực tạo ra do một nhóm người làm việc chung với nhau thì cao hơn là tổng số năng lực của tất cả các cá nhân trong nhóm cộng lại. Ví dụ: Một người làm riêng rẽ có thể cày xong 1 hecta đất một ngày, nhưng nếu 20 người làm chung với nhau thì có thể làm xong 25 hecta một ngày. Số gia tăng năng suất 5 hecta là hậu quả của cộng hưởng.

Cộng hưởng là từ của âm học. Khi một âm thanh với một tần số nào đó gặp một vật nào đó có thể dao động cùng một tần số, như tiếng của dây đàn gặp thùng đàn, cộng hưởng sẽ xảy ra và tăng cường độ âm thanh rất nhiều. Từ vật lý đến quan hệ con người, hoạt động chung với nhau cùng “tần số” sẽ làm cho cường độ của năng suất gia tăng vượt bực. Vì vậy, trong quản lý, từ synergy được nhắc nhở đến hầu như hằng ngày.

Trong quản lý thì chúng ta có thể hiểu synergy rất dễ–nếu một đội bóng thân thiết nhau, mọi người ai cũng làm đúng phận sự mình, chia sẻ với đồng đội, hiểu ý nhau rất nhanh, không ghen tị nhau, cùng một lòng quyết thắng, thì đội bóng đó có synergy rất cao và rất hay thắng. Tuy nhiên, nếu đội bóng hay cãi vã nhau, ganh tị nhau, một người nói 10 thì người các người kia hiểu được có 5, đội bóng như vậy thiếu synergy và sẽ khó thắng.

Tạo ra được synergy hay không, phần lớn là do người lãnh đạo. Khi tuyển cầu thủ mới vào đội bóng, kỹ thuật chơi bóng chỉ là một phần, tâm tính người cầu thủ có phù hợp với tâm tính của các cầu thủ khác trong đội, và tinh thần teamwork (tinh thần đồng đội) của người đó cao không, mới là yếu tố quyết định. Việc tuyển đúng người là quyết định rất quan trọng của lãnh đạo. Một con sâu làm rầu nồi canh. Một cầu thủ không có tinh thần đồng đội làm hỏng cả đội bóng.

Và trong tiến trình quản lý đội bóng, dĩ nhiên là lãnh đạo phải đặt lên mức hàng đầu việc duy trì và phát triển thiết thân và tinh thần đồng đội. Nếu có thiết thân và tinh thần đồng đội cao, tự nhiên các kỹ năng làm việc đồng đội sẽ có, như kỹ năng truyền thông—nói với nhau, ra hiệu cho nhau, và thấu hiểu nhau; kỹ năng phối hợp trên sân cỏ; kỹ năng chuyển động toàn đội đúng chiến thuật và chiến lược trên sân cỏ.

Đó là quản lý; khó nhưng vẫn còn dễ, bởi vì người lãnh đạo có một đội và kỷ luật của đội để làm việc. Cái khó là trong những sinh hoạt xã hội, khi chúng ta ai cũng là phó thường dân nhưng lại quan tâm đến việc thành phố, việc quốc gia (Nói chung là làm lính nhưng hay quan tâm đến việc quan 🙂 ), làm thế nào để chúng ta có thể tạo ra synergy cho việc gì?
synergy1

Nếu quan sát các phong trào xã hội, ta thấy tiến trình phát triển của synergy xảy ra thế này. Hãy dùng việc vệ sinh thành phố làm ví dụ.

1. Một phó thường dân viết bài trên Internet nói về vệ sinh thành phố–ngưng xả rác, thêm thùng rác, giáo dục làm đẹp thành phố, đầu tư làm đẹp thành phố, v.v…

2. Vài phó thường dân khác đồng ý và viết bài tương tự. Thế là ta bắt đầu có synergy. Càng nhiều người nói, “Đúng rồi, các bạn nói phải lắm” là ta càng có nhiều synergy. Một lúc nào đó, khi có nhiều người lên tiếng, synergy có thể mạnh đến nỗi ta cảm như có thể sờ nó được trên không.

3. Một nhóm phó thường dân nào đó quyết định đi một bước xa hơn, làm điều gì đó ngay trên đường phố–ví dụ, tổ chức với các doanh nghiệp địa phương đặt một dãy thùng rác đẹp mắt ngay trên một khúc phố. Ta sẽ thấy synergy tăng lên rất cao.

4. Tại các địa phương khác, nhiều nhóm phó thường dân, theo gương, cũng lập ra những dự án làm sạch và đẹp đường phố. Bây giờ ta đã có một phong trào, và synergy cứ tuôn lên ngùn ngụt.

Các phong trào cách mạng xã hội từ cổ chí kim phát triển theo mô hình này, ít có ngoại lệ, bởi vì tất cả đều được chi phối bởi một quy luật tự nhiên: Một năng lực tích cực từ một người có khả năng kích động năng lực tích cực từ một người khác. Và năng lực tích cực của từ hai người trở lên có tác động cộng hưởng và thành mạnh hơn rất nhiều và sẽ kích thích nhiều năng lực tích cực từ nhiều người khác. Rồi lại tăng cộng hưởng, tăng kích động, tăng tham gia, rồi tăng cộng hưởng, tăng kích động, tăng tham gia… cứ vậy mà phát triển như là quả cầu tuyết bằng nắm tay lăn từ trên núi xuống, càng lăn thì càng dính tuyết, càng lớn, lại càng lăn mạnh hơn, dính nhiều tuyết hơn, lớn hơn, lăn mạnh hơn… đến lúc lớn như trái núi lăn.

Năng lực đó thật là kinh khủng, phải không các bạn? Nhưng mình sẽ nói cho các bạn nghe một bí mật ngọt ngào khác. Cho đến lúc này, có thể là một số bạn đọc bài này như đọc tiểu thuyết nói đến những phong trào cách mạng xã hội của những huyền thoại nào đó, chẳng ăn nhập gì đến “con người nhỏ nhoi tầm thường của mình.”
synergy2

À, bạn đừng đo lường mình quá thấp như thế. Năng lực tích cực của bạn có sức mạnh không thấp hơn năng lực của người mạnh nhất trên thế giới như là Gandhi and Abraham Lincohn là bao nhiêu đâu. Nếu bạn cử tạ được bao nhiêu kg, các vị thánh nhân số một thế giới, cho là tập tạ cả đời, thì cũng chỉ có thể cử tạ bằng 3, bằng 4, hay cùng lắm là bằng 5 bạn. Không thể hơn thế được. Thế thì không lý do gì mà ta có thể nói năng lực tinh thần của các vị ấy khá hơn năng lực của ta quá 5 lần, dù là các vị ấy có thiền định hay tu cách nào cả đời. Có khác chăng là các vị ấy sử dụng tất cả mọi năng lượng tích cực của mình vào việc tích cực để đẻ ra nhiều thành quả tích cực, còn chúng ta thì không tập trung năng lực như thế mà thôi.

Có một câu nói mà hồi nhỏ mình cứ nghĩ đó là câu nói thần thoại, cho đến những năm sau nầy mình mới trải nghiệm và hiểu nó sâu xa. Đó là, “Một tiếng gảy móng tay có thể rung động đến vô lượng thế giới.” Bất kỳ một cái gì rất nhỏ ta làm cũng có ảnh hưởng lây lan từ tâm thức người này đến tâm thức người kia, vô cùng vô tận, dù là ta chẳng biết rõ ràng con đường lây lan đó đi như thế nào, từ đâu đến đâu.

Ví dụ thực tế. Nếu bạn đến Đọt Chuối Non và đọc, và chẳng làm gì thêm hết, bạn đã đương nhiên tạo ra một năng lượng tích cực cho bạn và cho Đọt Chuối Non.

Nếu bạn tích cực hơn một tí, chỉ ở mức tối thiểu, và viết một comment chỉ có hai chữ “cám ơn” (tốn tổng cộng dưới 10 giây đồng hồ để viết), bạn đã cho tác giả bài viết một viên vitamin sống được ít nhất cũng phải một tuần. Đây là mình nói rất thật, không màu mè, không phóng đại. Mình đã viết liên tục 20 năm trên Internet và các tờ báo ở Việt Nam, kể cả Nhân Dân, Tuổi Trẻ hay Đài Tiếng Nói Việt Nam, cho nên đây là kinh nghiệm sống thực. Chỉ hai chữ “cám ơn” của một người đọc có thể tạo ra một năng lượng cực kỳ lớn cho người viết, dù là anh ta đã viết mấy chục năm và đã nghe cám ơn vài nghìn lần. “Cám ơn” là vitamin, là thực phẩm. Nếu ngày nào ta cũng phải ăn ba bữa cơm, ăn cả đời không chán, không no, thì người ta cũng có thể nhận tiếng cám ơn cả đời, không chán, không no. “Cám ơn” không phải là nuôi dưỡng cái tôi của người nhận, mà là báo tin, “Ờ, việc anh làm, anh không có hoài công đâu.” Đó là synergy.

Đó là chỉ nói đến hai chữ cám ơn nhỏ xíu, các bạn đã có thể thấy năng lượng cực kỳ dũng mãnh của bạn. Nếu các bạn lại tích cực hơn, lâu lâu viết một vài câu, một vài bài, về việc làm đẹp làm sạch thành phố, các bạn có tưởng tượng được năng lượng của bạn tạo ra mạnh đến mức nào không? Những vấn đề tâm lý và siêu tâm lý thường là vô hình, không sờ mó được. Nhưng những năng lượng vô hình này cực kỳ mạnh, không thể xem thường. Dòng điện 1000 volt rất vô hình, nhưng sờ vào là biết ngay.

Và thay vì viết lách, bạn lại thực sự làm gì đó trên đường phố cho sạch thành phố, thì năng lượng tích cực đó lại càng mạnh mẽ hơn rất nhiều.

Điểm chính ta muốn nói ở đây là mỗi người chúng ta đã có những năng lượng tích cực rất mạnh. Kể cả khi bạn tin rằng bạn là người tiêu cực, thì năng lượng tích cực đó vẫn còn nguyên đó. Bạn chỉ cần dùng nó, bằng cách đọc một cái gì tích cực, hay suy nghĩ về một cái gì tích cực, hay nói một hai chữ tích cực, hay nói một hai bài tích cực, hay làm một hai hành động tích cực nào khác, năng lượng tích cực đó sẽ “đụng” người khác và sẽ sinh ra synergy, dù là bạn có thể không thấy synergy đó đâu hết.

Đừng coi thường năng lượng có sẵn trong mình. Người mạnh nhất thế giới thì cũng không hơn mình được 5 lần. “Một tiếng gảy móng tay có thể làm rung động vô lượng thế giới.” Nếu hiện nay bạn chưa hiểu hết câu này, một ngày nào đó bạn sẽ hiểu, bằng trải nghiệm thực sự.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

© Copyright 2009, TDH
www.dotchuoinon.com
Licensed for non-commercial use

Giành giây lát (Take a moment)

noivoitre
Take a moment — Giành giây lát

Take a moment to listen today
to what your children are trying to say,
Listen to them, whatever you do
or they won’t be there to listen to you.

.

.
Dành giây lát để lắng nghe hôm nay
Về điều chi con trẻ định giãi bày.
Lắng nghe chúng, dù bạn đang làm gì
Nếu không, chúng chẳng ở đó để nghe lời bạn đâu

    * * *

Listen to their problems, listen to their needs
Praise their smallest triumphs, praise their littlest deeds;
Tolerate their chatter, amplify their laughter,
Find out what’s the matter, find out what they’re after.

Lắng nghe vấn đề của chúng, lắng nghe nhu cầu của chúng
Khen ngợi cả chiến thắng bé nhất, khen ngợi cả hành động đẹp nhỏ nhất;
Dễ dãi với chuyện trò của chúng, làm rộng vang tiếng cười của chúng,
Tìm ra đâu là vấn đề, tìm ra chúng đang tìm gì.

    * * *

If we tell our children all the bad in them we see,
They’ll grow up exactly how we hoped they’d never be;
But if we tell our children we’re so proud to wear their name,
They’ll grow up believing that they’re winners in the game.

Nếu ta nói với con trẻ toàn thứ xấu ta thấy nơi chúng
Chúng sẽ lớn lên giống y điều ta không bao giờ muốn chúng trở thành
Nhưng nếu ta nói với con trẻ chúng ta rất tự hào mang tên chúng
Chúng sẽ lớn lên tin rằng chúng là người chiến thắng trong cuộc chơi

    * * *

So tell them that you love them every single night;
And though you scold them make sure you hold them
and tell them they’re all right, “Good night, happy dreams,
Tomorrow’s looking bright.”

Vậy mỗi đêm nói với chúng rằng bạn yêu chúng;
Và dẫu bạn mắng chúng, chắc chắn là bạn bạn ôm chúng nhé
Và nói rằng con ổn thôi, “Chúc con ngủ ngon, mơ đẹp nhé,
Ngày may trời sáng lắm.”

    * * *

Take a moment to listen today to what
your children are trying to say
Listen to them whatever you do, and
They’ll be there to listen to you.

Giành giây lát để lắng nghe hôm nay
Về điều chi con trẻ định giãi bày
Hãy lắng nghe, dù bạn đang làm gì, và
Chúng sẽ có đó để lắng nghe bạn.

Dr. Denis Waitley
Nguyễn Minh Hiển dịch

9 qui luật thành công

mountainclimber
Chào các bạn,

Leo núi là một môn thể thao nguy hiểm, đòi hỏi thể lực, trí lực, và khả năng chiến đấu cao để khắc phục những bất trắc xảy ra thường xuyên trong khi leo. Matthew Childs đã leo núi 25 năm và đã dạy rất nhiều người leo núi. Anh đã lập ra 9 quy luật để dạy học trò. Trong môn thể thao này, những quy luật này có tính cách sống chết với người leo núi. Mỗi lỗi lầm đều có thể gây thương tích nặng hay tử thương cho chính mình và đồng đội. Điểm thú vị ở đây là những quy luật leo núi này cũng là những quy luật thành công trên đường đời, trong đời sống nghề nghiệp và đời sống cá nhân của mỗi chúng ta. Continue reading 9 qui luật thành công

Ánh sáng và bóng tối

lightanddarkness
Chào các bạn,

Đời sống thường được xem là bãi chiến trường giữa thiện và ác, giữa ánh sáng và bóng tối. Các truyền thống tâm linh nhân cách hóa hai thế lực này thành thánh và quỷ, Christ và anti-Christ, God và Satan v.v… Và lịch sử nhân loại xem như là lịch sử của cuộc đấu tranh triền miên giữa hai thế lực đó.

Lịch sử con người cũng cho thấy con người thường có ảo tưởng là “chúng ta” là bên của ánh sáng và “chúng nó” là bên của bóng tối. Trong các cuộc chiến khi con người giết nhau như những con thú dã man nhất, thì chiến sĩ của mỗi bên vẫn cầu nguyện bền bỉ với Thượng đế của mình. Thượng đế hẳn nhiên rất nhức đầu với lời cầu nguyện của hàng trăm đoàn quân điên khùng giết nhau tại nhiều nơi trên thế giới hằng ngày, đoàn nào cũng tự nhận là con ngoan của Thượng đế, cũng xin Thượng đế cho mình thắng.

Nhưng chỉ cần một tí thành thật là ai trong chúng ta cũng biết trong lòng mỗi người chúng ta có cả thiện lẫn ác, và lằn ranh thiện ác không nằm trên mảnh đất nào cả, mà là trong tâm thức của mỗi con người. Alexander Solzhenitsyn nói, “Ước chi chỉ có những người gian ác đâu đó quỷ quyệt làm những việc gian ác, và ta chỉ cần lặt họ ra khỏi đám chúng ta và tiêu diệt họ. Tiếc thay, lằn ranh phân chia thiện ác cắt ngang mỗi trái tim con người, và ai là người sẵn sàng tiêu diệt con tim của chính mình?”

Nhưng mà thiện ác từ đâu mà đến? Làm sao ta có thể tăng cái thiện và diệt cái ác trong tâm thức của ta, tâm thức của đất nước ta, và tâm thức của thế giới?

Để trả lời, trước hết hãy khảo sát rất nhanh, theo cách nhìn hiện tại của con người chúng ta, thiện là gì và ác là gì. Hãy dùng một ví dụ về giết người. Mọi hệ thống luật pháp và truyền thống tâm linh đều xác định là giết người là có tội, ngoại trừ vài trường hợp rất đặc biệt như tự bảo vệ mình (self-defense), bảo vệ người khác, và chiến sĩ trong chiến tranh với kẻ thù. Nếu chúng ta phạm luật giết người trên đây, thì chúng ta có tội, hay chúng ta đã làm điều ác.

lightanddarkness1

Nếu hai con chó sói cắn nhau và một con giết con kia, thì đó là đời sống tự nhiên của chó sói, chẳng có tội tình gì hết. Vậy thì, cái làm cho hành động giết người của con người thành tội chính là luật cấm giết người.

Như vậy, luật là tiêu chuẩn, thiện là “giữ tiêu chuẩn” và ác là “không giữ được tiêu chuẩn.” Khi ta giữ được tiêu chuẩn thì ta thiện, khi không giữ được thì ta ác. Thiện hay ác không phải là hai đặc tính hiện diện trong con người chúng ta, mà là khả năng giữ tiêu chuẩn của ta, như người thể thao viên—ngày nào cử được bao nhiêu kilogram là ngày đạt tiêu chuẩn; ngày nào vì mệt mỏi, cử không nổi, là thiếu tiêu chuẩn.

Nhận xét rằng thiện và ác là khả năng của ta để giữ tiêu chuẩn, đưa đến một vài hệ luận sau đây:

• Khi ta lỡ yếu ớt không giữ được tiêu chuẩn, đó là vì ta yếu ớt lúc đó, chứ không phải bản tính của ta là ác. Và khi ai đó lỡ phạm tiêu chuẩn thì đó là vì họ yếu ớt giây phút đó, chứ không phải bản tính của họ là ác.

• Khi ta tự xem mình là tốt và ai đó là xấu, thì ta rất kiêu căng và thiếu thông minh. Tương tự như vậy, chỉ những người lớ ngớ mới tự cho là “phe ta tốt” còn “chúng nó” là gian ác. Chỉ những dân tộc lớ ngớ mới nói là dân ta tốt và dân tộc khác là xấu.

lightanddarkness3
• Vì thiện và ác là khả năng giữ tiêu chuẩn, chúng ta phải trau dồi luyện tập hằng ngày, bởi vì nói đến khả năng là nói đến luyện tập trau dồi. Các bạn không thể đọc sách học làm người và trở thành người tốt, không thể đọc sách đắc nhân tâm và thắng được quả tim của người khác, không thể đọc tư duy tích cực và có được tích cực tư duy. Tất cả đòi hỏi luyện tập, luyện tập, và luyện tập. Hằng ngày. Đọc mà không cố gắng thực hành hằng ngày thì, dù là vẫn tốt hơn không thèm đọc, nhưng cũng không thể đưa đến kết quả gì tốt.

• Bởi vì ác là thiếu khả năng giữ tiêu chuẩn, nên không có “cái ác” ở đâu mà chống. Chỉ có tình trạng yếu ớt, thiếu khả năng. Và cách duy nhất để tăng khả năng là thực hành “giữ tiêu chuẩn”–thực hành và luyện tập hằng ngày, và khuyến khích người khác thực hành luyện tập hằng ngày. Tức là “Chống cái ác” là (1) thực hành giữ tiêu chuẩn và (2) khuyến khích người khác giữ tiêu chuẩn. Nếu đủ khả năng thì là thiện, thiếu khả năng thì là ác. Giản dị vậy thôi.

• Nếu ta không dùng từ thiện ác, nhưng dùng các từ ánh sáng và bóng tối thì cũng thế. Ánh sáng thì có, nhưng thực sự là không có bóng tối. Có tia sáng, nhưng không có tia tối. Bóng tối chỉ có nghĩa là thiếu ánh sáng. Trong một phòng kín, nếu ta mở đèn, ta có ánh sáng. Nếu ta tắt đèn, không còn ánh sáng nữa, và căn phòng tối đen, chỉ vì thiếu ánh sáng.

Thế nghĩa là, cái ác không có thật, “cái ác” mà ta thấy chỉ là do “thiếu cái thiện” hay “thiếu khả năng làm việc thiện.” Cho nên không có “cái ác” đâu để mà chống. Muốn “chống cái ác” ta phải làm việc thiện và khuyến khích mọi người làm việc thiện. Khi mở đèn thì bóng tối biến mất. Khi ta làm việc thiện thì điều ác biến mất.

Cho nên chúng ta không thể giải quyết các vấn đề trong tâm thức ta cũng như các vấn đề xã hội bằng cách phàn nàn, kêu la, xỉ vả, chửi rủa. Muốn hết bất công, ta phải làm việc công chính. Muốn hết tham nhũng, ta phải ngưng trả tiền và nhận tiền dưới gầm bàn. Muốn hết nghèo đói ta phải làm ra tiền và dạy người khác làm ra tiền. Muốn hết ngu dốt ta phải học và dạy người khác học. Muốn hết kỳ thị giới tính ta phải tôn trọng người khác giới và dạy người khác tôn trọng người khác giới. Muốn hết kỳ thị chủng tộc ta phải tôn trọng các chủng tộc, các dân tộc khác như anh em, và dạy người khác tôn trọng các dân tộc khác như anh em.

Muốn hết bóng tối thì xin vui lòng đứng dậy thắp đèn. Đừng ngồi đó nguyền rủa bóng tối.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

© Copyright 2009, TDH
www.dotchuoinon.com
Licensed for non-commercial use

Lãnh đạo: Lòng tin

believeinyourself
Chào các bạn,

Trong bài Thành tố của tuyệt vời chúng ta nói “LÒNG TIN, Xa hơn hy vọng, lòng tin tuyệt đối vào chính mình, vào mục tiêu của mình, vào kết quả.”

“Lòng tin” chính là ngọn lửa, là đầu máy, là động lực khiến người lãnh đạo tiến bước và cuốn hút những người khác đi theo. Có lòng tin là có tất cả, không có lòng tin là không có gì cả. Ta có thể có tầm nhìn, có mục tiêu, có chiến lược; nhưng tất cả những điều đó vẫn chỉ là con đường. Đầu máy đưa ta đi trên con đường đó là lòng tin. Nếu không có tầm nhìn, đầu máy vẫn chạy được, mặc dù là có thể chạy vòng vòng một chỗ muôn năm. Nhưng nếu không có lòng tin, tức là không có đầu máy, thì chẳng có gì chuyển động—tầm nhìn, mục tiêu, chiến lược đều vô ích. Vì vậy chúng ta thường nghe những câu nói như, “Với lòng tin, mọi sự đều có thể. Không lòng tin, mọi sự đều không thể,” hay “Nếu bạn có lòng tin nhỏ chỉ bằng hạt cải, bạn có thể bảo ngọn núi dời đi nơi khác và nó sẽ làm theo lời bạn.”

Lòng tin cho ta quyết tâm và kiên nhẫn, vì ta tin là ta sẽ thắng. Lòng tin cho ta can đảm, vì ta tin là ta sẽ thắng. Lòng tin làm ta chiến thắng mỏi mệt, vì ta tin là ta sẽ thắng. Lòng tin làm ta không sợ hiểm nguy, vì ta tin là ta sẽ thắng. Lòng tin làm ta không sợ cười nhạo, vì ta tin là ta sẽ thắng. Lòng tin làm ta không chấp nhận “không thể được,” vì ta tin là ta sẽ thắng.

Lòng tin sinh ra hy vọng, nhưng lòng tin không phải là hy vọng. “Tôi hy vọng là ngày mai trời mưa” thì khác với “Tôi tin là ngày mai trời mưa.” Bạn không thể bắt đầu một dự án, môt công việc làm ăn, một cuộc khảo thí, với thái độ, “Tôi hy vọng là tôi sẽ thành công,” mà là “Tôi tin là tôi sẽ thành công”—tôi sẽ thành công, không cần biết điều gì sẽ xảy ra. Bạn có thể vấp ngã, bạn có thể sưng mày mặt, cuộc hành trình của bạn có thể gian nan hơn và dài ngày hơn bạn muốn, nhưng cuối cùng bạn sẽ thắng. Lòng tin là một khẳng định về một kết quả sẽ đến, một chiến thắng trong tương lai. Và đó không phải là tiên đoán, mà là khẳng định.

Một khẳng định tuyệt đối, không có gì lay chuyển được. Nhưng anh thiếu kinh nghiệm—tôi sẽ có kinh nghiệm, tôi sẽ thắng. Nhưng anh thiếu tiền—tôi sẽ có đủ tiền, tôi sẽ thắng. Nhưng anh không có liên hệ–tôi sẽ có liên hệ, tôi sẽ thắng. Nhưng nếu trời làm anh thất bại—tôi sẽ tiếp tục cho đến lúc thời thất bại của tôi chấm dứt và tôi sẽ thắng.

believeinyourself1

Lòng tin mang lại cho ta tất cả những gì ta cần để thành công. Ta cần chiến lược, lòng tin sẽ cho ta chiến lược–nếu ta không có chiến lược tốt, một lúc nào đó ta sẽ gặp quân sư. Lòng tin cho ta vốn liếng–cứ tiếp tục một lúc nào đó bạn bè hay ngân hàng sẽ cho vay vốn. Lòng tin ta cho kiến thức—cứ tiếp tục, đi một ngày đàng học một sàng khôn, cho đến khi ta thành đại sư phụ. Lòng tin cho ta bạn đồng hành—ta khởi đầu một mình, nhưng cứ tiếp tục đi mãi và ta sẽ có nhiều bạn đồng hành.

Lòng tin không đặt vào điều gì ngoài mình, như là vào tình trạng kinh tế thế giới, vào tình trạnh chính trị thế giới, vào sự ủng hộ của mọi người, vào vận may… dù rằng tất cả những gì thuận lợi cũng đều tốt.

Lòng tin đây là lòng tin (1) vào chính mình, (2) vào mục đích của mình, và (3) vào kết quả tối hậu. Và cả 3 điều này thực ra quy vào một điểm: chính mình. Tin vào mục đích của mình, tức là tin vào quyết tâm của mình không bỏ cuộc, không rời mục đích nửa chừng. Tin vào kết quả tối hậu tức là tin vào mình không bỏ cuộc cho đến lúc chiến thắng.

Những người không nắm vững vấn đề có thể cho rằng lòng tin tuyệt đối như thế không thực tế, vì ta không thể biết được thực tế tương lai. Tuy nhiên, người tư duy tích cực biết rằng đây là lòng tin vào một thực tế chắc nịch như đá tảng. Nếu ta ném một quả cam lên trời, nhắm mắt ta cũng biết là trái cam sẽ rơi xuống đất. Ngày mai ném nó cũng rơi xuống đất. Năm tới ném nó cũng rơi xuống đất. Nếu ta vững tin vào ta, thì nhất quyết ta sẽ thành công, không cần biết chuyện gì sẽ xảy ra. Vấn đề chỉ là thời gian, không hôm nay thì ngày mai, không năm này thì năm khác.

Lịch sử Việt Nam là minh chứng hùng hồn, qua mấy ngàn năm, rằng mọi chênh lệch về sức mạnh, mọi yếu kém về thể chất và khoa học, mọi sai biệt về văn mình, đều không thể thay đổi một quy luật tối hậu—nếu ta có lòng tin vào ta, ta không bỏ cuộc, cuối cùng ta sẽ chiến thắng, dù đối thủ có là người khổng lồ số một trên hành tinh này.

Nhưng làm thế nào để ta có thể có được lòng tin tuyệt đối như thế?

Thưa, lòng tin có nhiều cấp độ. Ở cấp độ bình thường, đó chỉ là là sự quan sát cuộc đời bình thường—kiến tha lâu đầy tổ. Đi hoài không bỏ cuộc, dù là đi bộ, thì bất kỳ nơi nào trên quả đất ta cũng có thể đi đến được, chỉ là vấn đề thời gian.

Tuy nhiên, ở một mức sâu thẳm hơn, ở mức mà ta có lòng tin vô tận, thì quả tim ta phải lấy được sức mạnh vô tận từ cuộc đời. Nếu ta biết rất rõ là quả tim của ta thanh tịnh, lòng ta không có cái tôi, ta yêu đời và yêu người, ta làm việc vì tình yêu, để phục vụ đời sống, để làm cuộc đời tốt đẹp hơn, để anh chị em của ta vui vẻ hạnh phúc hơn, và công việc của ta làm đẹp lòng cuộc đời, đẹp lòng trời đất thiên địa, thì quả tim của ta sẽ nối kết được với quả tim của cuộc đời, và mạch sống của ta hòa quyện vào mạch sống của cuộc đời. Từ đó ta có thể lấy ra năng lượng cho một lòng tin vô tận.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© Copyright 2009, TDH
http://www.dotchuoinon.com
Licensed for non-commercial use