Mười năm trước chúng ta là những người con,
Mười năm sau chúng ta là những người cha, người mẹ.
Mười năm trước tôi không hiểu thế nào là mái ấm gia đình,
Mười năm sau tôi mới nhận thức được thế nào là một gia đình hạnh phúc.
Mười năm trước tôi khao khát được rời nhà đến một nơi thật xa,
Mười năm sau tôi lại khao khát được từ nơi xa quay trở về nhà.
Mười năm trước tôi thường hay tranh cãi với ba mẹ,
Mười năm sau tôi lại thèm được nghe ba mẹ mắng một lần biết nhường nào.
Mười năm trước tôi cứ nghĩ mình là một cái cây lớn,
Mười năm sau tôi mới hiểu mình chỉ là một ngọn cỏ bé nhỏ.
Mười năm trước tôi chỉ có thể lãng phí duy nhất một thứ là thời gian,
Mười năm sau tôi có thể lãng phí bất cứ thứ gì trừ thời gian.
Mười năm trước chúng ta có thể nói tuổi thanh xuân là vô hối,
Mười năm sau chúng ta chỉ có thể nói tuổi thanh xuân đã không còn.
Mười năm trước chúng ta có thể đùa cợt với cuộc đời,
Mười năm sau chúng ta lại bị cuộc đời đùa cợt lại.
Mình mới làm xong slideshow này có 32 ảnh bonsai, 30 bài thơ thiền Hán Việt của hai đời Lý Trần (năm 900 đến 1400 sau công nguyên), và 30 bài thơ dịch tiếng Việt của các anh Nguyễn Duy, Nguyễn Bá Chung và Trần Đình Hoành. Bản nhạc nền Rejuvenation cũng rất thiền. Post đây để chia sẻ với các bạn.
Chúc các bạn một ngày tĩnh lặng !
Túy-Phượng
Click vào ảnh dưới đây để xem và download slideshow
Học đại học luôn luôn là một khó khăn cho người nghèo–học phí, sách vở, không thể đi làm để kiếm tiền. Và nếu trường học ở xa nhà, phải ở trọ nơi xa, thì chi phí luôn luôn quá sức một gia đình nghèo có thể lo lắng.
Tại thành phố nhỏ Kalamazoo ở tiểu bang Michigan, Mỹ, 25% gia đình thuộc dạng nhèo đói, học đại học xem như là một giấc mơ không tưởng cho nhiều con em.
Nhưng, một giáo chức tận tâm, chị Janice Brown, giám đốc giáo dục Kalamazoo cố tìm cách cho tất cả con em trong vùng Kalamazoo đều có cơ hội học đại học. Janice Brown (bên trái) người tạo ra Kalamazoo Promise
Chị bỏ ra 5 năm trường, nói chuyện không ngừng với nhiều người trong vùng. Cuối cùng chị thuyết phục được một nhóm công dân nặc danh trong vùng đồng ý bỏ ra 10 triệu đôla một năm để làm học bổng cho tất cả mọi em trong vùng. Người đi học chỉ cần học đủ điểm trung bình để lên lớp, và tùy theo đã ở vùng Kalamazoo và học các trường công lập Kalamazoo bao lâu, các em sẽ có một số tiền học bổng tương ứng, trả học phí và các khoản tốn phí bắt buộc cho trường, như sách giáo khoa v.v…. theo các bậc thang dưới đây.
Thời gian đã học
ở Kalamazoo——————Học bổng đại học
Vưởn trẻ-12——————————–100%
1-12——————————————-95%
2-12——————————————-95%
3-12——————————————-95%
4-12——————————————-90%
5-12——————————————-85%
6-12——————————————-80%
7-12——————————————-75%
8-12——————————————-70%
9-12——————————————-65%
10-12—————————————–None
11-12—————————————–None
12-12—————————————–None
Sau khi sở giáo dục Kalamazoo công bố “Lời Hứa Kalamazoo” ngày 10 tháng 11 năm 2005, người ta thấy ngay ảnh hưởng. Kalamazoo là một thành phố đang chết bỗng nhiên nhà cửa lên giá, nhiều gia đình từ các nơi khác chuyển về để con cái được hưởng lợi ích của lời hứa, có gia đình đến từ nước Nga, số học sinh trong vùng gia tăng, và số học sinh tốt nghiệp trung học theo học đại học tăng vọt. Người ta nhẩm tính là tổng số tiền tặng cho chương trình này lên đến 250 hay 300 triệu đô la.
Nhiều nơi khác trên đất Mỹ mở những chương trình “Lời hứa” tương tự, tại El Dorado tiểu bang Arizona), Denver (tiểu bang CO) và Pittsburgh (tiểu bang Pennsylvania).
Balwin, một vùng rất nghèo ở của tiểu bang Michigan, nơi 90% gia đình ở vào dạng nghèo, cũng vừa mới có Lời hứa sẽ cho mỗi một em tốt nghiệp trung học 5 nghìn đô la một năm để học đại học. Đây là thành phố đầu tiên của bang Michigan theo gương Kalamazoo (cũng của Michigan).
Các “Lời Hứa” này là các chương trình thiện nguyện hoàn toàn do dân chúng đóng góp. Một quốc gia chỉ có thể mạnh khi nhân dân góp tay vào việc giải quyết các vấn đề của quốc gia như thế. Không thể dồn tất cả mọi việc vào tay nhân viên nhà nước. Nhân viên nhà nước sẽ có hiệu lực gấp nhiều lần, bằng cách khuyến khích và hỗ trợ nhân dân tự nguyện.
Để làm được như thế chúng ta cần có hai điều kiện phát triển song hành:
1. Mỗi người dân phải thấy vai trò quan trọng của mình trong việc phát triển đất nước.
2. Chính sách nhà nước phải khuyến khích phát triển xã hội nhân sự, phát triển các tổ chức thiện nguyện của nhân dân. Dùng luật để khuyến khích, thay vì dùng luật để cản trở. Và dùng luật để kiểm soát và chận đứng các lạm dụng lường gạt, để môi trường thiện nguyện của nhân dân được trong sạch và phấn chấn, kích thích được nhân dân đứng ra tự tổ chức các đoàn nhóm thiện nguyện.
Nếu nhân dân cùng bắt tay nhau làm việc và nhà nước hỗ trợ, thì có lẽ là hiệu năng phát triển sẽ 10 lần hơn là hiệu năng khi nhà nước làm mọi thứ một mình.
Có rất nhiều vấn đề đất nước cần giải quyết, những người dân chúng ta nên tìm cách đóng góp vào cách giải quyết, được tí nào hay tí nấy. Nhất là trong vấn đề trọng đại nhất của tương lai đất nước–giáo dục.
Maya Angelou có lẽ mà thi sĩ Mỹ còn sống nổi tiếng nhất ngày nay. Trước đây chúng ta có dịch bài thơ On the Pulse of Morning (Trên Nhịp Đập Buổi Sáng) sang tiếng Việt. Đây là bài thơ chị sáng tác đặc biệt cho, và đọc tại, lễ nhậm chức tổng thống của Bill Clinton năm 1993.
Hôm nay nhân ngày Vu Lan, báo đền ân đức mẹ cha, chúng ta hãy đọc bài Mother: a cradle to hold me (Mẹ: Chiếc nôi ôm ấp con) của Maya Angelou. Mình đã dịch sang lời Việt ở đây để chia sẻ với các bạn.
Cám ơn anh Hiển đã gởi bài thơ nguyên thủy đến mình.
Mến,
Hoành
.
Mẹ: Chiếc nôi ôm ấp con
Thật vậy
Con ra đời trong mẹ
Và cũng thật vậy
Mẹ ra đời cho con.
Con có giọng nói của mẹ.
Giọng nói được uốn nắn chỉnh âm để vuốt ve con.
Đôi tay mẹ vòng lại
Thành chiếc nôi để bế con, đong đưa con.
Mùi cơ thể của mẹ là khí trời
Thơm tho cho con thở.
Mẹ,
Vào những ngày xa xưa dấu ái đó
Con không tưởng được là mẹ có
Một cuộc đời lớn hơn, trong đó có con,
Cùng với những lắng lo khác của mẹ,
Vì con chỉ có một cuộc đời
Và cuộc đời đó là mẹ.
Thời gian qua đều và đẩy ta xa nhau.
Con chẳng muốn.
Con sợ nếu con để mẹ đi
Mẹ sẽ xa rời con vĩnh viễn.
Mẹ cười nỗi sợ của con, và nói
Con không thể ngồi trong lòng mẹ mãi
Một ngày nào đó mẹ sẽ phải đứng dậy.
Và con sẽ ở đâu?
Mẹ lại cười.
Con không cười.
Me rời con không báo trước,
Nhưng mẹ trở về ngay.
Nhưng mẹ lại đi và trở về,
Con xác nhận là, rất nhanh.
Nhưng con không dễ gì an tâm.
Mẹ lại đi, nhưng lại trở về.
Mẹ lại đi, nhưng lại trở về.
Mỗi lần mẹ vào lại thế giới của con
Mẹ mang theo tin tưởng
Từ từ con có được lòng tin.
Me nghĩ là mẹ biết con
Nhưng con biết mẹ,
Mẹ nghĩ là mẹ trông con,
Nhưng con giữ mẹ vững trong tầm mắt,
Ghi lại từng cử chỉ,
Nhớ những nụ cười, vẽ theo từng nét nhíu mày.
Khi vắng mẹ
Con tập làm mẹ,
Cách mẹ hát
Trên gió thoảng,
Trong khi tiếng nấc nằm
Dưới rễ của bài ca.
Cách mẹ nghiêng đầu
Để ánh sáng mơn man trên mặt
Khi mẹ đặt các ngón tay lên bàn tay con
Và bàn tay mẹ lên cánh tay con,
Con được ban cảm giác khỏe mạnh,
Mạnh mẽ và thật là may mắn.
Mẹ luôn luôn là
Cốt lỏi của hạnh phúc đối với con,
Mang đến những viên kẹo sướng vui,
Những ngọt ngào của tiếng cười rộn rã.
Con yêu mẹ ngay cả trong những năm
Mẹ không biết gì
Và con biết tất cả, con vẫn yêu mẹ lúc đó.
Dĩ nhiên là lớn lối,
Từ đỉnh cao
Của trí tuệ tuổi teen.
Con to tiếng với mẹ, thường xuyên
Vì mẹ quá chậm hiểu.
Con lớn lên và
Và giật mình thấy được
Bao nhiêu kiến thức mẹ đã lượm lặt.
Rất nhanh.
Mẹ, bây giờ con đã học đủ
Để biết là con hầu như không biết gì.
Ngày hôm nay
Khi mọi người mẹ được vinh danh,
Hãy để con cảm ơn mẹ
Rằng sự ích kỷ, dốt nát và trò hề của con
Đã không làm mẹ vất con đi như một búp bê gãy gọng
Đã mất hết hương vị.
Con cảm ơn mẹ
Vẫn tìm thấy cái gì đó trong con
Để yêu thương, ngưỡng mộ và dấu ái.
Con cảm ơn mẹ.
Con yêu mẹ.
(TDH Dịch)
.
Mother: A Cradle to Hold Me
Maya Angelou
It is true
I was created in you.
It is also true
That you were created for me.
I owned your voice.
It was shaped and tuned to soothe me.
Your arms were molded
Into a cradle to hold me, to rock me.
The scent of your body was the air
Perfumed for me to breathe.
Mother,
During those early, dearest days
I did not dream that you had
A larger life which included me,
Among your other concerns,
For I had a life
Which was only you.
Time passed steadily and drew us apart.
I was unwilling.
I feared if I let you go
You would leave me eternally.
You smiled at my fears, saying
I could not stay in your lap forever
That one day you would have to stand
And where would I be?
You smiled again.
I did not.
Without warning you left me,
But you returned immediately.
You left again and returned,
I admit, quickly.
But relief did not rest with me easily.
You left again, but again returned.
You left again, but again returned.
Each time you reentered my world
You brought assurance.
Slowly I gained confidence.
You thought you knew me,
But I did know you,
You thought you were watching me,
But I did hold you securely in my sight,
Recording every movement,
Memorizing your smiles, tracing your frowns.
In your absence
I rehearsed you,
The way you had of singing
On a breeze,
While a sob lay
At the root of your song.
The way you posed your head
So that the light could caress your face
When you put your fingers on my hand
And your hand on my arm,
I was blessed with a sense of health,
Of strength and very good fortune.
You were always
The heart of happiness to me,
Bringing nougats of glee,
Sweets of open laughter.
I loved you even during the years
When you knew nothing
And I knew everything, I loved you still.
Condescendingly of course,
From my high perch
Of teenage wisdom.
I spoke sharply to you, often
Because you were slow to understand.
I grew older and
Was stunned to find
How much knowledge you had gleaned.
And so quickly.
Mother, I have learned enough now
To know I have learned nearly nothing.
On this day
When mothers are being honored,
Let me thank you
That my selfishness, ignorance, and mockery
Did not bring you to
Discard me like a broken doll
Which had lost its favor.
I thank you that
You still find something in me
To cherish, to admire, and to love.
Thời khắc đứa con chào đời cũng là thời khắc người mẹ được sinh ra. Người mẹ chưa bao giờ tồn tại trước đó. Chỉ tồn tại người phụ nữ chưa từng là người mẹ. Mẹ là một điều gì đó hoàn toàn mới (Rajneesh).
Khi sinh đứa con đầu lòng, tôi mệt lả nhìn vào sinh linh nhỏ bé, tự nhủ giờ đây mình đã là mẹ. Nhưng đến khi con gái bú những giọt sữa đầu tiên, lòng tôi mới thật sự tràn ngập cảm xúc và nhận thức làm mẹ mới thật sự hiện hữu. Lúc đó, tưởng chừng như cuống nhau chưa cắt. Và tôi biết, dòng máu đang chảy trong tôi và trong cơ thể nhỏ bé tôi đang bế trên tay là một, đây là máu của tôi, đây là da thịt của tôi. Gần như đó không chỉ là cảm nhận mà là một cái gì thực thể, có thể đụng chạm được. Tưởng như hai chúng tôi là một và không thể có gì tách rời chúng tôi được. Ấy là lúc tôi nghĩ đến mẹ tôi, hiểu được thế nào là “mang nặng đẻ đau” khi mẹ sinh ra tôi. Và biết tôi đã mang đến cho mẹ niềm vui lớn như thế nào bằng sự có mặt của mình!
Rồi con tôi lớn lên. Trong giai đoạn khó khăn chung của cả đất nước. Tôi đã nhận từng mét vải phân phối, cặm cụi may tay thành những chiếc áo đầm kiểu cọ và tự hào ngắm con mình xinh đẹp. Tôi đã từng thức trắng đêm vì con nóng sốt. Đã từng run rấy đánh rơi liên tục cả ba chiếc kẹp nhiệt độ, dù rằng tôi là một bác sĩ. Chính những lúc đó, tôi nhớ đến mẹ tôi! Nhớ những lúc hai mẹ con chờ khám ở phòng mạch. Trước cửa phòng khám luôn luôn có gánh hàng rong bán đồ chơi trẻ con. Khi nào tôi cũng vòi vĩnh cho được một món đồ chơi, và chưa bao giờ mẹ tôi từ chối. Nhớ mẹ dỗ dành tôi từng muỗng cháo. Nhớ bàn tay mẹ đan thành chiếc lược chải mớ tóc dính bết của tôi trong cơn nóng sốt. Có con rồi, tôi mới thấu được tình thương mẹ dành cho tôi trong những cử chỉ săn sóc đơn giản như vậy!
Con tôi đến tuổi thiếu niên chông chênh và khó bảo. Tôi đặt báo Mực tím cho con. Nhưng con gái chưa bao giờ biết, mẹ đã đọc không sót một bài nào trong mỗi số báo. Đọc để hiểu con và các bạn đồng lứa, để luôn đặt mình vào vị trí của con, thông cảm con, chấp nhận con. Vậy mà mẹ con vẫn không tránh khỏi bất đồng, không tránh khỏi xung đột, đến nỗi nhiều lần tôi phải dùng roi vọt với con. Đó là lúc tôi nhìn lại vết sẹo trên khuỷ tay mình. Một vết sẹo có từ hơn ba mươi năm trước, bây giờ chỉ còn là một lằn chỉ nhỏ khó thấy. Lần đó, để bảo vệ một ý kiến ngông nghênh nào đó của mình, tôi đã láo xược với mẹ và làm mẹ phát điên lên vì giận. Mẹ đã đánh tôi vào một chỗ duy nhất, là cánh tay tôi đưa ra đỡ đòn. Năm sáu nhát roi hằn vào một chỗ đã làm cánh tay tôi chảy máu, và để lại cho tôi vết sẹo nhớ đời. Nhớ đời không phải vì đau, nhớ đời vì sau khi buông roi, mẹ ôm mặt khóc! Lúc đó tôi đã hả hê biết mấy! Đã tưởng mình là người chiến thắng vì thà chịu đòn chứ không chịu khuất phục. Bây giờ tôi mới biết, cảm giác bất lực khi thấy con vừa sai vừa bướng, cảm giác đau đớn của một người mẹ không dạy được con, cảm giác xấu hổ vì không làm chủ được mình đến nỗi phải dùng roi vọt với con, là như thế nào!
Có nhiều bài tụng ca Mẹ. Mỗi bài mang một vẻ đẹp riêng. Nhưng với tôi, bài Bông hồng cài áo của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ (lời của Thầy Nhất Hạnh) và bài Child do Little Fox hát là hai bài gây cho tôi nhiều cảm xúc nhất. Bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào, tôi luôn luôn không thể nghe quá nửa bài mà không rơi nước mắt! Chưa bao giờ tôi hát được trọn vẹn hai bài hát này. Có lẽ tuổi tác và trải nghiệm của việc làm mẹ đã tác động mạnh đến tôi. Đúng là làm mẹ rồi, tôi mới thấu hiểu lòng cha mẹ!
Đó là lý do vì sao trong mùa Vu lan báo hiếu này, tôi lại không chỉ viết về Mẹ mà lại viết cả cho con! Suốt thời trẻ thơ, tuy tôi vẫn luôn cảm nhận được tình thương của mẹ cũng như luôn thủ thỉ với mẹ rằng: Mẹ ơi, con thương Mẹ lắm…, nhưng tôi chỉ thật sự hiểu tình thương của mẹ lớn lao như thế nào khi tôi cũng là một người mẹ. Và những trải nghiệm trong vai trò người mẹ giúp tôi hiểu được lòng mẹ tôi. Trong tôi, tình thương dành cho mẹ đã lớn lên rất nhiều cùng với tình thương tôi dành cho con gái. Hay nói một cách khác, chính con gái tôi đã khiến tôi thương và hiểu cha mẹ tôi hơn, khiến tôi nhận ra bao lầm lỗi của mình, hối hận vì bao nhiêu điều bất hiếu tôi đã gây ra làm đau lòng cha mẹ. Tôi cũng biết tôi đã được tha thứ, bởi vì lỗi lầm của tôi đã không còn vết tích gì trong đại dương bao la tình thương của cha mẹ!
Với các bạn may mắn được cài bông hồng trong mùa Vu lan này, mong các bạn làm theo lời khuyên mà Thầy Nhất Hạnh đã đề nghị cách đây 47 năm trong một đoản văn và sau đó nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã phổ nhạc trong ca khúc Bông hồng cài áo:
Chiều nay, khi đi học hoặc đi làm về, anh hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và bền. Anh sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi anh sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ, để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên anh. Cầm tay mẹ, anh sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Anh hỏi: “Mẹ ơi, mẹ có biết không?” Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ nhìn anh, vừa cười vừa hỏi: “Biết gì?” Vẫn nhìn vào mắt mẹ, giữ nụ cười trầm lặng và bền, anh sẽ hỏi tiếp: “Mẹ có biết là con thương mẹ không?”…
Cũng xin chia sẻ với các bạn tình yêu lớn lao của các bậc sinh thành qua ca từ của bài Child:
When you were born into this world
Your mom and dad saw a dream unfurled
A dream come true
The answer to their prayers
You were to them a special child
You gave them joy everytime you smiled
Each time you cried
They’re at your side to care
Child you don’t know
you’ll never know
How far they’d go to give you all their love can give
To see you through
And god it’s true
They’ll die for you if they must to see you live
How many seasons came and went
So many years have now been spent
For time ran fast and now at last you are strong
Now what has gotten over you
You seem to hate what your parents do
Speak out your mind why do you find them wrong
Child you don’t know
you’ll never know
How far they’d go to give you all their love can give
To see you through
And god it’s true
They’ll die for you if they must to see you live
And now your path has gone astray
Child you don’t know what to do or say
You’re so alone no friends are on your side
Child as you now break down in tears
Let them drive away your fears
Where must you go their arms stay open wide.
Child you don’t know
you’ll never know
How far they’d go to give you all their love can give
To see you through
And god it’s true
They’ll die for you if they must to see you live
.
Chúc các bạn mùa Vu lan báo hiếu trọn vẹn ý nghĩa…
“Vui và buồn ở đời là tuần hoàn cả. Tất cả bí quyết của sự sống là biết tin tưởng và đợi chờ, vì tin tưởng và chờ đợi thì cái gì mà chẳng đến? Anh đọc sách có còn nhớ chuyện Pygmalion không?…” – Trích “Thương Nhớ Mười Hai” – Vũ Bằng.
Trong huyền thoại Hy Lạp cổ, Pygmalion là chàng hoàng tử xứ đảo Cyprus, trầm lặng cô đơn và lãng mạn. Pygmalion đã đem hết tâm hồn mình để tạc nên bức tượng một cô gái đẹp tuyệt vời, đặt tên là Galatea. Từ khi có Galatea, Pygmalion vui sướng như có được người phụ nữ lý tưởng của đời mình, người bầu bạn mà hằng ngày chàng âu yếm chuyện trò. Pygmalion đem lòng yêu sâu sắc tác phẩm của chính mình và tha thiết khẩn cầu thần Vệ Nữ ban cho Galatea hơi thở sự sống. Cảm động trước tài năng và tình yêu chân thành của Pygmalion, nữ thần Tình Yêu đã hóa phép cho bức tượng ngà biến thành người thật. Ước mơ toại nguyện, nàng Galatea xinh đẹp trở thành vợ chàng và hai người sống hạnh phúc bên nhau đến trọn đời.
***
Dựa trên câu chuyện truyền thuyết xưa, Bernard Shaw viết kịch bản Pygmalion năm 1913. Đến năm 1956, Pygmalion của Bernard Shaw được chuyển thể thành vở nhạc kịch My Fair Lady, lập nên kỷ lục số lần công diễn lâu nhất ở nhà hát Broadway bấy giờ. My Fair Lady sau đó được dựng thành phim (1964), thu được thành công vang dội với ngôi sao huyền thoại Audrey Hepburn trong vai chính, nàng Eliza Doolittle.
Trong phiên bản “Pygmalion” hiện đại của Bernard Shaw, giáo sư ngôn ngữ Henry Higgins quả quyết rằng ông có thể rèn luyện chỉnh sửa cách ăn mặc và giọng nói để “biến” cô gái bán hoa quê mùa Eliza trở thành một quý bà sang trọng. Và ông đã thành công. Thế nhưng, theo như chính lời Eliza nói với người bạn của Higgins, Pickering, không phải những gì cô được học hay làm mà chính cách cô được đối xử như thế nào mới là điều mấu chốt quyết định:
“Anh thấy đó, thật ra thì, ngoài những thứ mà người ta có thể có được như cách ăn mặc, cách nói năng hay những gì đại loại thế, sự khác biệt giữa một quý bà và một cô gái bán hoa không phải ở cách cô ấy cư xử như thế nào mà ở cách người ta đối xử với cô ấy ra sao. Em sẽ mãi là một cô gái bán hoa đối với giáo sư Higgins, bởi vì ông ta chỉ luôn xem em như một cô gái bán hoa, và sẽ mãi luôn như vậy, nhưng em biết rằng em có thể là một quý bà đối với anh, bởi vì anh luôn trân trọng em như với một quý bà, và sẽ luôn như vậy”.
***
Hiệu ứng Pygmalion hay còn gọi là Self-fulfilling prophecy (lời tiên đoán tự trở thành hiện thực) được xem như một bí quyết quan trọng trong quản lý nhân sự. Nếu một người (hoặc chính ta) nghĩ ta thông minh hay ngu dốt hay sao đó, họ sẽ đối xử với ta theo cách mà họ nghĩ. Nếu ta được đối xử như thể ta thông minh hay ngu dốt hay sao đó, ta sẽ hành xử, và thậm chí trở thành như thế. Do vậy, những “tiên cảm” ban đầu của người đó về ta đã trở thành hiện thực! Tóm lại, một khi ý niệm đã hình thành, thậm chí ngay cả khi nó không đúng với thực tế, chúng ta vẫn có khuynh hướng hành xử theo đó. Và kỳ diệu thay, kết quả sẽ xảy ra đúng theo kỳ vọng đó, như thể có phép lạ!
Hiệu ứng Pygmalion được diễn giải qua bốn quá trình sau:
– Chúng ta hình thành kỳ vọng về con người hay sự kiện
– Chúng ta thể hiện kỳ vọng đó qua những tín hiệu giao tiếp, đối đãi…
– Người ta có khuynh hướng đáp lại những tín hiệu đó bằng cách điều chỉnh cách cư xử của họ cho phù hợp
– Kết quả là kỳ vọng ban đầu trở thành hiện thực
Kết quả trở lại tác động vào kỳ vọng ban đầu, tăng cường niềm tin vào những điều chúng ta đã nghĩ về con người/sự kiện đó. Bốn quá trình trên đây tạo nên vòng tròn cho “lời tiên đoán tự trở thành hiện thực” (the circle of self-fulfilling prophecies). Vòng lặp càng “quay” lại nhiều càng làm tăng cường ảnh hưởng của nó. Điều này cũng giải thích phần nào cơ sở tâm lý cho “phép lạ” trong bí quyết luật hấp dẫn (The Secret – Law of Attraction): những suy nghĩ lạc quan, tích cực sẽ thu hút đến quanh ta những may mắn, hạnh phúc và ngược lại, những suy nghĩ bi quan, tiêu cực thường dẫn đến những hậu quả tuyệt vọng, “xui rủi” như một dạng tự kỷ ám thị.
“Cách tốt nhất để dự đoán tương lai là sáng tạo ra nó” – Peter F. Drucker
Hiệu ứng Pygmalion mang một ý nghĩa to lớn khi ứng dụng trong quản lý nhân sự và giáo dục, nhất là đối với việc giáo dục các trẻ cá biệt. Người ta thấy rằng nhân viên/học sinh có khuynh hướng thể hiện, hoàn thành công việc tốt hơn khi được cấp trên/thầy giáo tôn trọng, kỳ vọng, tin tưởng. Đôi khi người ta còn phân ra làm hai dạng: (1) Hiệu ứng Pygmalion – sức mạnh của sự kỳ vọng của cấp trên đối với nhân viên (hay thầy giáo đối với học sinh) và (2) hiệu ứng Galatea – sức mạnh của sự tự kỳ vọng (của nhân viên/học sinh vào bản thân mình). Người ta cho rằng hiệu ứng Galatea (năng lực của sự tự kỳ vọng) này còn thậm chí còn quan trọng hơn cả hiệu ứng Pygmalion. Do đó, người thầy giáo giỏi phải là người biết truyền cho học trò niềm tin và sự kỳ vọng vào bản thân mình.
“Treat a man as he is and he will remain as he is.
Treat a man as he can and should be and he will become as he can and should be” – Goethe
Bài này là để trả lời câu hỏi, Làm thế nào để viết giản dị và sâu sắc?
Giản dị và sâu sắc liên hệ rất mật thiết với nhau. Những gì sâu sắc thường rất giản dị. Ví dụ: Chàng nói với nàng, “Anh yêu em”—tất cả những bó hồng nhung của thế giới, tất cả thi ca của thế giới, tất cả âm nhạc của thế giới vẫn không làm đầy được ba chữ “Anh yêu em.”
Nhưng, sâu sắc và giản dị là hai kỹ năng khác nhau. Sâu sắc là suy tư. Giản dị là giải bày, hoặc bằng lời nói hoặc bằng lời viết. Trong phần sau đây, chúng ta sẽ nói đến sâu sắc trước, rồi sẽ nói đến viết giản dị sau.
I. Làm thế nào để suy tư sâu sắc?
Thực ra từ “sâu sắc” rất tương đối—sâu sắc với người này, vẫn có thể là nông cạn với người kia. Nhưng tại đây ta không cần quan tâm đến chuyện đó; chỉ cần biết là hôm nay ta sâu sắc hơn ta hôm qua là đủ rổi.
Muốn suy tư sâu sắc ta chỉ cần nắm vững 3 điều thôi: Suy tư 1. Càng suy nghĩ và kinh nghiệm về một việc gì, ta càng sâu sắc về việc ấy. Sâu sắc đến từ suy tư và kinh nghiệm. Nhưng, kinh nghiệm không phải là một cái gì nằm ngoài tiến trình suy tư, kinh nghiệm là 50% của suy tư, vận dụng não bộ để suy tư là 50% còn lại. Có những điều mình đọc năm 18 tuổi, đến 40 tuổi mới “ngộ” được nó, không phải là vì IQ của mình cao hơn ở 40, nhưng vì kinh nghiệm sống cao hơn.
Nhưng nói đến kinh nghiệm thì các bạn trẻ cảm thấy hơi thiệt thòi rồi. 😦 Nhưng không sao. Người lớn tuổi hơn thì đã phải “trả nợ đời” (pay their dues) nhiều lắm rồi, biết hơn một tí cũng là công bình thôi. Hơn nữa, mình trẻ hơn thì mình lại có sức mạnh khai phá của người tiền phong cầm rìu rựa phá rừng thành rẫy. Nếu mình làm việc với người lớn tuổi hơn, lấy kiến thức của họ về con đường cũ làm kiến thức tạm của mình, và mình dấn thân vào khai phá con đường mới, thì mình có thể nắm được cả quá khứ đến tương lai.
Dù sao đi nữa thì suy tư là suy tư và sống. Cho nên đọc sách, nghiên cứu, thảo luận là một chuyện; nhưng cũng cần phải “đi ra ngoài và làm gì đó” (Go out and do something!). 2. Phải vượt thoát các “công thức suy tư”
Chúng ta không tự nhiên mà biết suy tư. Từ bé ta đã được học hàng nghìn công thức suy tư cho hàng nghìn vấn đề. Ví dụ: Đi thưa về trình—không làm như thế là vô lễ. Con gái thì phải thùy mị, không chơi trò bắn súng đánh nhau. Chửi thề là quyền ưu tiên cho đám con trai. 😦 Đó là tiến trình “văn minh hóa” của một con người. Nếu không học được những công thức suy tư như thế thì chúng ta có lẽ là không khác gì chú khỉ trên rừng.
Nhưng những công thức suy tư cần thiết cho sự phát triển nhân cách, cũng có tiềm năng biến chúng ta thành những người máy robot khi lớn lên nếu chúng ta không biết cách “vượt lên tầng cao hơn” để suy tư thực sự tự do. “Vượt lên tầng cao hơn” không có nghĩa là phá bỏ mọi công thức, mà là biết khi nào dùng công thức, khi nào không, khi nào chính mình tạo ta công thức mới cho mình. Đó là mức sáng tạo của tất cả mọi loại nghệ thuật.
Ví dụ: Hoc vẽ thì lúc đầu là phải theo công thức màu gì trộn với màu gì ra màu gì, màu gì dùng để diễn tả tình cảm gì, cách nhìn và đo lường phối cảnh, luật quân bằng… Học viết thì văn phạm, chấm câu, bố cục… Học đàn thì ngồi thế nào, tay bấm thế nào, lúc nào mạnh yếu nhanh chậm ra sao… Học võ thì bước nào trước bước nào sau, một hai ba bốn thế nào… Một lúc nào đó người học trò đã thành thuộc các công thức và đã bắt đầu lên hàng thầy, thì hầu như là quên mất công thức, vì công thức đã vào máu mình rồi. Và bậc thầy thực sự là nguời có thể bỏ công thức và sáng tạo công thức mới khi thấy cần. Đây là mức sâu sắc của nghệ thuật.
Suy tư cũng thế thôi. Một lúc nào đó, ta cần có cái nhìn của một trẻ thơ để hỏi “tại sao?” trước những công thức suy tư đã giúp ta trưởng thành, để ta không bị ngục tù tư tuởng và có thể biến hóa sáng tạo. Ví dụ: Đi thưa về trình. Lúc còn nhỏ đó là công thức văn hóa. Nhưng bây giờ lớn một tí rồi thì “tại sao?” Lớn rồi có còn cần nó như hồi còn con nit hay không? À, có lẽ nó không còn mấy cần thiết như là một vấn đề lễ nghĩa, nhưng vẫn có thể cần đối với người trong nhà như là vấn đề an ninh. Thời đại này, đủ thứ bất an xảy ra ngoài đường, đi đâu nên nói cho ai đó trong nhà biết mình đang đi đâu và khi nào sẽ về, lỡ có chuyện gì người nhà còn biết đường mà mò. Về trễ thì gọi điện về báo tin để người nhà khỏi lo. Đó là suy tư sáng tạo. Hỏi “tại sao?” để thay đổi cái cũ thành cái mới, hoặc đôi khi xóa cái cũ nếu thấy nó thực sự chẳng cần thiết. (Các cô thư ký của mình luôn luôn biết mình ở đâu và khi nào về, kể cả khi mình đi restroom. Để nếu có thân chủ gọi đến, cô không phải trả lời: “Ông ấy ở đâu tôi cũng không biết và chẳng biết khi nào ông ấy về.” Thân chủ sẽ có cảm tưởng là văn phòng này chỉ lo du hí và chẳng ai biết “what is going on” hết).
Đừng bị đóng khung vào các công thức suy tư và ứng xử. Như vậy mới thực sự tự do sáng tạo. “Muốn vào nước thiên đàng thì hãy như trẻ thơ.” Muốn đến đỉnh cao thì hãy vượt khỏi khung công thức người lớn. Nhưng… nhưng… nhưng… một bậc thầy đã nhuần nhuyễn công thức nói là phải vuợt thoát công thức thì khác với một người học trò nhập môn chưa rành công thức nào. Chúng ta chỉ có thể vượt thoát công thức để sáng tạo khi đã nhuần nhuyễn công thức. Không học công thức nào và không rành công thức nào, mà đòi gạt bỏ công thức, thì chưa làm học trò được, đừng nói là sẽ thành thầy sáng tạo.
3. Chú tâm vào quả tim con người
Tất cả mọi vấn đề lớn nhỏ trên đời, ngoại trừ toán học và khoa học thiên nhiên, đều qui vào qủa tim con người và liên hệ giữa các con người—xã hội học, chính trị học, kinh tế học, thương mãi, nhân chủng học, khảo cổ học, đạo đức học, luận lý học, tôn giáo học, triết học v.v… Tất cả những sinh hoạt gì liên hệ đến con người đều có gốc rễ trong quả tim con người. Ví dụ: Chính trị cho người Việt. Nếu cứ lấy các thống kê và các công thức chính trị của Mỹ rồi giải thích chính trị Việt nam thì hỏng bét. Các thống kê đó phải được hiểu với hiểu biết tâm lý người Việt. Tượng tự như thế, các công thức mô hình chính trị các nước có thể là chẳng mấy liên hệ với khung cảnh và tâm lý người Việt. Kinh tế cũng thế, có thể có một tin chiến tranh ở đâu đó và giá vàng ở vài nơi trên thế giới xuống, nhưng giá vàng ở Việt Nam có thể lại lên, vì dân Việt có máu thích trữ vàng làm an ninh—cứ rục rịch là mua vàng.
Chú tâm vào quả tim con người là chú ý quan sát quả tim của chính mình thường xuyên. Nếu biết quả tim mình thì mình biết được 90% quả tim của mọi người trên thế giới, vì sự khác biệt thực sự giữa mọi người rất ít. Mà quan sát thì cần một tí tĩnh lặng và nhìn.
Ví dụ: Nhìn trời mưa và đang muốn làm thơ, tự động là một công thức suy tư nhảy ra: “Mưa rơi mang mang buồn.” Nếu viết công thức này xuống, thì bài thơ có thể nghe chán phèo vì mấy triệu người đã víết công thức này cả trăm năm rồi. Thay vì thế, quan sát tâm mình một tí, có thể là mình đang nhớ đến ngày mưa năm đó hẹn nàng ở quán Hoài, nhìn mưa đợi nàng, như thường lệ, trễ hẹn 😦 Vậy thì bắt đầu bằng, “Nước bay trước mặt quán Hoài, hàng xe lầm lũi bên ngoài phố mưa…” Hay hay dở thì chưa biết, nhưng chắc chắn là sáng tạo hơn công thức đã bị lạm dụng “Mưa rơi mang mang buồn.” Mà sáng tạo thì có tiềm năng sâu sắc. Ít ra là sâu sắc hơn công thức có sẵn.
Tất cả các vấn đề triết ly’ xã hội chính trị kinh tế cũng thế thôi. Dùng cái tâm mình làm thước đo trước, sau đó mang ra cho mọi người, không chính xác 100% vì người và ta khác nhau, nhưng ít ra cũng được 90%.
Tóm lại, muốn suy tư sâu sắc, ta nên chú trọng vào 3 điều: 1. Suy tư và sống. 2. Vượt thoát các công thức. và 3. Quán sát tâm mình.
II. Làm thế nào để viết giản dị
Trong các dịp huấn luyện các luật sư mới ra trường viết lách, mình luôn luôn nhắc đến 3 qui luật viết: 1. Giản dị. 2. Giản dị. Và 3. Giản dị.
Giản dị, vì viết là để chia sẻ với người khác, nếu không giản dị người đọc sẽ không hiểu mình viết gì, và như thế là mình đã thất bại trong việc chia sẻ. (Nếu viết chỉ để cho mình đọc, như là làm thơ chẳng hạn, thì không cần ai hiểu. Nhưng nếu đã đăng ra ngoài mà còn nói là tôi viết để chỉ cho tôi đọc, thì đó là không thành thật. Chỉ cho tôi đọc sao lại đăng ra ngoài?)
Nguyên tắc viết giản dị đòi hỏi ta chú tâm đến các điểm sau: 1. Biết người đọc mình nhắm đến là ai: Giản dị với các vị cử nhân thì khác với giản dị với các vị mới chỉ học xong lớp năm. Cho nên, nghĩ đến đọc giả mình nhắm đến, trong khi viết.
Nếu đọc giả có thể có đủ mọi trình độ, ví dụ từ lớp 10 đến tiến sĩ (như ĐCN chẳng hạn), thì ta phải viết đủ giản dị để người học lớp 10 cảm thấy mình hiểu hết bài viết, và người tiến sĩ cũng hiểu hết bài viết nhưng sâu hơn vài tầng. Điều này cũng không khó mấy, chỉ cần thêm vào bài cho người lớp 10 vài từ có vẻ vô thưởng vô phạt cho lớp 10, nhưng mang ly’ lẽ sâu xa cho người cấp tiến sĩ. Ví dụ: “Yêu người thì thường được người yêu lại.” Câu này thì lớp 10 hiểu được ngay, nhưng người mức tiến sĩ thì thấy sự quan trọng của chữ “thường”—À chị này nói thế có y’ là lâu lâu cũng có ngoại lệ, yêu người thì được nguời đâm sau lưng. 😦
Ngay cả khi viết cho người có trình độ cao, ta vẫn phải tưởng tượng là họ chẳng biết gì mấy, viết như viết cho người có trình độ thấp hơn một tí vì: (a) Người bận việc đọc rất nhanh và không muốn đọc lại. Viết càng giản dị càng giúp họ trong việc đọc. (b) Trong các việc ta đã suy nghĩ và nghiên cứu nhiều, người đọc không rành việc ấy bằng ta, cứ xem như là ta đang giải thích cho học trò là chắc ăn nhất. Ví dụ: Viết một về vụ án gửi lên thẩm phán, bạn đã tốn mấy tháng liền, mỗi ngày 12 tiếng, nghiên cứu vụ này. Trong vụ này bạn là thầy ông thẩm phán, ông ta chẳng biết ất giáp gì hết, vậy thì khi viết cho thẩm phán cứ viết thật giản dị như viết cho học trò của bạn.
2. “Nếu tôi viết, bạn đọc mà không hiểu, thì đó là do tôi viết tồi, chứ không phải vì bạn đọc tồi.” Luật này là luật viết quan trọng số 1.
3. Chỉ viết về một điểm chính cho một bài. Hai điểm chính, như bài này–suy tư sâu sắc và viết giản dị–là đã hơi quá nhiều. Ba điểm là giới hạn tối đa. Bốn điểm là no-no.
4. Dùng từ giản dị. Đừng dùng từ phức tạp, trừu tượng và chuyên môn.
Từ giản dị là từ dùng thường ngày. Ví dụ: “Đừng xả rác ngoài đường” thì dễ hiểu và mạnh mẽ hơn là “Phải đề cao y’ thức y tế cộng đồng.” (Nói gì vậy??). “Anh yêu em” thì rõ ràng hơn là “Anh xúc cảm tràn dâng trong tâm tưởng với ảnh hình dấu ái tuyệt vời của em.” (What is that?? Muốn gì thì nói thẳng ra đi cha nội :-))
Từ cụ thể thì dễ hiểu và mạnh mẽ hơn từ trừu tượng. Ví dụ: “Hãy vun trồng nước non sông núi này; hãy tưới nước cho hoa nở trên mọi cánh đồng” thì mạnh mẽ và dễ hiểu hơn là “hãy nâng cao lòng ái quốc và tình yêu xứ sở.”
Từ chuyên môn chỉ nên dùng với người cùng ngành chuyên môn. Ví dụ, thay vì “Độc quyền kinh tế làm tăng giá, giảm cầu và giảm hiệu năng kinh tế quốc gia” thì nên viết “nhà độc quyền có quyền bán ít hàng để có thể tăng giá đến mức cắt cổ, làm người tiêu thụ rất bị thiệt thòi.”
5. Viết câu ngắn. Ví dụ:
“Ai cũng bảo xòe bàn tay ra, trong ấy có cả quá khứ vị lai. Tôi thì không tin rằng chỉ cần ngồi lẩm nhẩm với mình mà đọc được cái gì chưa đến. Còn quá khứ thì đâu chỉ nằm trong lòng bàn tay. Tôi vay ngân hàng ba mươi triệu, quá khứ của tôi nằm ở ngân hàng. Tôi vay của người hàng xóm đôi lời chì chiết. Quá khứ giờ đang nằm ở nhà hàng xóm. Tôi vay em một thời yêu thương. Chuyện này thì cầu mong quá khứ còn náu mình đâu đó nơi em.” Kể Chuyện Tôi, Tấn Ái.
6. Dùng các dấu chấm câu để giảm vận tốc đọc của người đọc. Ví dụ:
“Nếu bạn hỏi tôi thích làm gì nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là: ‘Tôi thích chăn bò!’. Có thể bạn không tin, nhưng thật tình, tôi thích chăn bò lắm! Tôi rất thích nhìn vào đôi mắt to trong veo của con bò nhà tôi, đen láy và ướt át, chúng luôn khẽ khàng nấp dưới hàng mi dài cụp xuống. Trong đời, tôi chưa bao giờ nhìn thấy một đôi mắt nào buồn đến thế. Nó toát lên vẻ ẩn nhẫn, cam chịu, và hiền lành khiến cho tâm hồn trẻ thơ ngập tràn thương cảm. Một tình bạn thầm lặng bắt đầu từ đó!” Hãy đến tìm tôi giữa một cánh đồng, Đông Vy.
7. Dùng các từ nối kết—nhưng, và, vì thế, do đó, vậy thì, thế thì…– để nối kết những chuỗi lý luận với nhau. Ví dụ:
“Tư duy là bên trong và hành động là bên ngoài. Tư duy chi phối hành động. NHƯNG cuộc đời đưa ta đến bao tình huống khác nhau mỗi ngày, đòi hỏi những hành động khác nhau cho từng tình huống. Hành động thì khi nhanh khi chậm, khi như sâu lắng suy tư, khi như ánh chớp như thể không kịp suy tư, khi thì dịu dàng, khi thì dũng mãnh… VẬY THÌ tâm tư ta thế nào trong những tình huống như vậy? Tâm tư ta cũng biến chuyển vô thường như hành động theo từng tình huống hay sao?” Liên hệ giữa tư duy và hành động.
8. Đặt mỗi “đơn vị ý tưởng” (thought unit) trong một đoạn (paragraph) riêng. Nhưng nếu đoạn này quá dài thì cắt ra thành hai ba đoạn cho đỡ rậm mắt và nhức đầu người đọc.
Hoặc, nếu một câu nào đó mà ta muốn nhấn mạnh, thì tách câu đó ra thành một đoạn. Ví dụ:
“Tâm tính của mỗi người là một bộ máy tâm sinh lý đặc biệt, cứ như thế mà vui buồn yêu ghét. Không phải muốn đổi tâm tính là có thể làm xong trong một ngày, một tuần. Nếu cơ thể cần được tập luyện mỗi ngày, khá lên mỗi ngày một tí, vài ba năm mới được như vận động viên, thì tâm tính cũng thế, cũng phải được rèn luyện mỗi ngày, không, mỗi phút giây ta sống. Và phải kiên nhẫn một thời gian thì mới có được kết quả ‘trông thấy’.
Nhưng tại sao ta phải suy tư tích cực? Trời sinh sao để vậy không được sao?
Trước hết, tâm tính của ta không phải do trời sinh. Các yếu tố di truyền có dự phần một tí, như là sinh ra thì có hai tay hai chân, nhưng có đai đen Judo hay một cơ thể èo ọt bệnh hoạn là do ta. Trí lực và tâm lực cũng thế, trời sinh ra có tâm trí, tích cực hay tiêu cực là do ta.” Tư duy tích cực là gì?
9. Nếu được thì nên đánh số 1,2,3, a,b,c như dàn bài cho các đơn vị ý tưởng (như bài này đây).
10. Bất kỳ bài nào, dù là viết kiểu gì, đều có 3 phần: Mờ đầu, thân bài và kết luận. Có khác nhau là chỉ về hình thức một tí thôi. Mở đầu là để giới thiệu mình muốn nói về việc gì. Thân bài là phân tích, lý luận, giải bày. Kết luận là để mình muốn đọc giả nghĩ gì, cảm xúc gì, làm gì, chia sẻ gì. Ví dụ:
Mở đầu: “Nếu bạn hỏi tôi thích làm gì nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là: “Tôi thích chăn bò!”. Có thể bạn không tin, nhưng thật tình, tôi thích chăn bò lắm! …”
Kết luận: “Để bây giờ, rất nhiều khi thấy chán chường những con đường chen chúc người xe và khói bụi, mệt mỏi với cuộc sống vội vã đua tranh, tôi lại thèm quá những ngày huy hoàng cũ, khi tôi còn là một cô bé chăn bò. Bởi thế, nếu một ngày nào đó không tìm thấy tôi trong chốn đô thị bon chen, bạn hãy đến tìm tôi giữa một cánh đồng …” Hãy đến tìm tôi giữa một cánh đồng, Đông Vy.
11. Duyệt lại. Nếu bạn là chuyên gia về kinh tế viết một bài về kinh tế cho đọc giả không phải là dân kinh tế, thì sau khi viết xong, đưa bài cho một người bạn chưa biết đánh vần chữ “tiền” đọc lại. Nếu bạn này nói chỗ nào không hiểu thì viết lại chỗ đó, cho đến khi bạn đó nói là thực sự hiểu toàn bài.
Viết là một nghệ thuật. Càng viết nhiều thì nghệ thuật càng nâng cao và càng có nhiều kỹ năng để nghiên cứu thêm. Nhưng hy vọng các qui luật căn bản trên đây cũng có thể giúp các bạn đi được một đoạn khá dài.
Điều cuối cùng mình muốn nhấn mạnh trong liên hệ giữa suy tư sâu sắc và viết giản dị là: Chỉ khi bạn hiểu được một vấn đề rất sâu sắc bạn mới đủ khả năng để trình bày vấn đề đó rẩt giản dị. Nếu bị lúng túng quá trong việc giản dị hóa một vấn đề, có thể là bạn phải nghiên cứu và suy nghĩ thêm về vấn đề đó, cho đến lúc nắm vững đủ để trình bày đựợc cho cả các em bé tiểu học, nếu cần.
Chỉ có hai việc chính xảy ra trong một cuộc nói chuyện hay thảo luận–đó là nói và nghe. Nhìn là phụ. Nghe quan trọng như nói. Đó là 50% của phần chính của cuộc nói chuyện. Nhưng mấy khi có lớp dạy nghe.
Sau đây là một PPS file rất hay về “Học nghe.” File này bằng tiếng Anh nhưng lại rất dễ theo dõi. Ai cũng đọc được.
Làm thế nào để tiếp thu được nhiều kiến thức? Chúng ta có thể thấy sự khác biệt rất rõ giữa mọi người. Hai sinh viên ra trường cùng bằng cấp, nhưng sau một thời gian thì kiến thức 2 người khác nhau hoàn toàn, một người thì vẫn cứ tù mù, trong khi người kia thì thông thái ra bội phần, và người tù mù lại có thể là người ra trường với hạng cao hơn. Hai người cùng vào làm một hãng, cùng một lúc, cùng một loại công việc, một người thì lên vù vù, một người thí cứ ì ạch một chỗ. Điều gì đã xảy ra? Continue reading Làm thế nào để tiếp thu được nhiều kiến thức?→
Trong mục tư vấn tâm lý tuổi học đường mà tôi phụ trách cho một tờ báo, cứ năm bảy bức thư các em gửi (đại đa số là nữ học sinh) thì có một em đòi tự tử. Có em còn nói tỉnh bơ: “Cô ơi, cô có biết thứ thuốc nào giúp “đi” nhẹ nhàng thì cho con biết với”. Nguyên nhân thường là buồn cha mẹ hay bị người yêu bỏ.
Phản ứng tự nhiên của ta có thể xem đây là “chuyện con nít”, chuyện lãng xẹt. Rồi tôi nhớ lại mình lúc 7, 8 tuổi, khi má tôi đau nặng tưởng không qua khỏi thì tôi cũng đòi chết theo má.
Người muốn tự tử là người thấy không còn gì để bám víu trên đời này và nỗi cô đơn của họ đang ở tột đỉnh. Có một qui luật cho thấy rằng nếu nói ra được bế tắc của mình với ai đó (hiểu mình) thì đương sự bỏ ý định tự tử.
Vì vậy mà ở các nước phát triển ngày nay, số điện thoại đường dây nóng dành cho người muốn tự tử được niêm yết ở khắp các nơi công cộng cũng như trên xe buýt, xe lửa… Một người bạn của tôi là giảng viên đại học ở Nhật là tình nguyện viên cho đường dây nóng ở Tokyo. Cứ một tháng bà đi trực một lần. Nhiều trí thức khác cũng là tình nguyện viên như vậy và theo bà, công việc này cứu rất nhiều mạng sống.
Tự tử là một hiện tượng xã hội của xã hội công nghiệp hóa, đô thị hóa, vì người ta “sống cô đơn giữa đám đông” (theo tựa một quyển sách nổi tiếng ở Mỹ: The lonely crowd). Ở VN, mức độ hiện đại hóa chưa cao mà tự tử trong giới trẻ đã trở thành một vấn đề đáng quan tâm. Và không chỉ khu trú ở thành thị, nó đã lan ra các tỉnh xa xôi.
Ngày nay, một điều đã rõ là tất cả người lớn chúng ta, nhất là cha mẹ, thầy cô, cán bộ Đoàn – Hội… đều phải là các nhà tham vấn tâm lý không chuyên để phát hiện kịp thời những nỗi đau, những cảm xúc có thể đưa trẻ đi quá xa. Có lẽ tất cả những ai làm việc với trẻ cần phải được trang bị một số kỹ năng căn bản để lắng nghe, chia sẻ, để không xem thường bất cứ sự bức xúc nào của trẻ hòng can thiệp kịp thời.
Lắng nghe không chỉ bằng đôi tai, mà bằng con mắt để quan sát các biểu hiện không bình thường (sao con tôi ít nói), bằng trái tim để thấu cảm. Thấu cảm là đặt mình vào vị trí của trẻ để không xem bức xúc của các em là chuyện “trẻ con” mà đối với các em là rất quan trọng.
Những bài lên lớp trách cứ không có tác dụng gì mà có khi còn gây phản ứng ngược.
NGUYỄN THỊ OANH
(thạc sĩ phát triển cộng đồng, cử nhân xã hội học)
Mình biết đến bài cầu nguyện A student prayer này từ trường đại học Yale ở New Haven, Connecticut.
Mình thật ngạc nhiên, trong khuôn viên trường không rộng lắm mà có đến bảy, tám nhà thờ nằm sát nhau. Nổi tiếng trong đó có Battel Chapel nằm ngay trong trường, nơi sinh viên hay đến cầu nguyện buổi tối tới khoảng nửa đêm.
Họ cầu nguyện ngày đêm để khiêm tốn lòng mình, hướng lòng mình về một đấng cao nhất, và từ nơi đó, trí tuệ thực sự đi đến. Lòng khiêm tốn mang đến trí tuệ.
Chúc các bạn một ngày thật sáng,
Hiển.
.
A student prayer
Lời cầu nguyện của sinh viên
.
Creator of all things,
true source of light and wisdom,
origin of all being,
graciously let a ray of your light penetrate
the darkness of my understanding.
.
Hỡi Đấng sáng tạo muôn loài,
nguồn gốc thật của ánh sáng và trí tuệ,
khởi nguồn của mọi tạo vật,
hãy mở lòng từ bi, để tia sáng của Ngài xuyên thủng
tăm tối trong hiểu biết của con.
.
Take from me the double darkness
in which I have been born,
an obscurity of sin and ignorance.
Hãy mang con ra khỏi hai lớp bóng tối
trong đó con đã ra đời,
bóng tối của tội lỗi và của ngu si.
.
Give me a keen understanding,
a retentive memory, and
the ability to grasp things
correctly and fundamentally.
Cho con hiểu biết thật sâu,
trí nhớ thật tốt, và
khả năng nắm bắt
đúng và căn bản.
.
Grant me the talent
of being exact in my explanations
and the ability to express myself
with thoroughness and charm.
Ban cho con tài năng
nói chính xác khi diễn giải
và khả năng trình bày
kỹ lưỡng và hấp dẫn.
.
Point out the beginning,
direct the progress,
and help in the completion.
Chỉ con biết điểm bắt đầu,
hướng dẫn quá trình làm việc,
và giúp con kết thúc.
Câu chuyện về những người chồng “luôn xin phép mẹ” của bạn Vy Thanh không phải là không phổ biến do bối cảnh đặc biệt của xã hội VN.
Tính “con nít” (lời của Vy Thanh) không chỉ biểu hiện qua chuyện gì cũng xin phép mẹ mà còn qua sự thiếu tinh thần trách nhiệm với vợ con, suốt ngày nhậu nhẹt, đàn đúm với bạn bè. Một hiện tượng rất thường được báo chí nêu lên và dạo nọ trên Báo Phụ Nữ có một diễn đàn thật sôi nổi về tính “vô tư” của các ông chồng.
Bên này trách bên kia nhưng theo tôi lỗi là ở phụ nữ, là những người mẹ. Dù phản đối câu nói chung “con hư tại mẹ” nhưng tôi lại chủ trương “con trai hư tại mẹ”.
Có một nghịch lý trong vai trò và vị trí của người phụ nữ VN. Một đàng là tư tưởng chồng chúa vợ tôi vẫn còn phảng phất, nhất là khi biểu hiện ra bên ngoài, nhưng đàng khác nhiều khách nước ngoài nhận xét là người phụ nữ VN rất mạnh.
Trước giải phóng tôi có tiếp một nhà hoạt động xã hội người Áo. Tôi đưa ông đi xem những cơ sở hoạt động xã hội. Ông tấm tắc khen phụ nữ VN rất giỏi và rất mạnh. Một bác sĩ tâm thần người Bỉ làm việc lâu năm ở VN và một nhà dân tộc học người Pháp mà tôi quen cũng có nhận định tương tự. Ngày nay chỉ nhìn vào đội ngũ nữ doanh nhân chúng ta cũng có thể đồng ý với điều này.
Vì sao họ mạnh? Các nhà khoa học vừa kể cho rằng có lẽ người đàn ông bên ngoài là “chúa” nhưng trong gia đình thì yếu vì ít biết lo toan. Còn phái yếu lại “mạnh” vì phải âm thầm gánh lấy trách nhiệm dù bề ngoài luôn phải giữ lễ nghĩa phong kiến. Họ mạnh cả với con và có xu hướng đùm bọc quá đáng. Một nghịch lý là họ chưa thoát khỏi tư tưởng trọng nam khinh nữ nên rất cưng đứa con trai.
Thường bé trai trong nhà chỉ biết học, ăn rồi chơi.Còn bé gái thì nhận trách nhiệm trong gia đình khá sớm. Đã vậy còn được giáo dục theo tinh thần chịu đựng, hi sinh. Đứa con trai do đó kéo dài tâm lý “con nít” nếu không được giáo dục tính tự lập. Rồi có các bà “mẹ kăngguru” úm con trong túi hoài không cho nó thoát ra.
Con gái thì đi lấy chồng, còn con trai thì dễ có nguy cơ bị úm lâu dài hay vĩnh viễn như trường hợp của bài báo. Tâm lý “sở hữu” càng mạnh nơi các bà mẹ đơn thân nuôi con (trai) một.
Còn một điều nữa mà các nhà xã hội học rất quan tâm đến là “ranh giới” trong gia đình để bảo đảm mối quan hệ hài hòa cũng như hạnh phúc cá nhân và lứa đôi… Đại gia đình không thể can thiệp quá sâu vào gia đình hạt nhân. Cha mẹ phải bảo đảm sự tự do và tự lập đúng lúc và chính đáng của con cái. Vì giáo dục gia đình là giúp con lớn lên để sống độc lập. Điều này gia đình VN dường như chưa quan tâm đủ.
Những điều tôi vừa nêu là những ý tưởng ban đầu mang tính giả thiết. Rất cần những cuộc nghiên cứu thật nghiêm túc để có một chính sách giáo dục gia đình thật đúng đắn. Trước mắt các bạn gái trẻ khi tìm hiểu bạn trai nên quan tâm đến mối quan hệ của anh ta với mẹ.
Bản thân bạn gái nên ý thức về tâm lý trọng nam khinh nữ còn phảng phất và xu hướng “kăngguru” tiềm ẩn trong mỗi chúng ta, để con cái trưởng thành đúng lúc. Còn các bạn trai đừng để mình “bị” cưng chiều như em bé.
Khi mẹ có xu hướng “úm” quá mạnh thì mặc dù hết sức yêu mẹ cũng nên cố gắng tự khẳng định mình và nhẹ nhàng từng bước thoát ra khỏi vòng dây. Bởi lẽ nếu rơi vào tình trạng “con nít” hay như phương Tây hay nói “chưa cắt dây rốn” thì bạn khó tạo hạnh phúc cho gia đình hạt nhân của bạn.
Nói chuyện trước đám đông (public speaking) là một kỹ năng rất tốt để có. Nó có thể giúp ta rất nhiều trong những công việc liên hệ đến nhiều người, và trong một số công việc thì đó là kỹ năng cần thiết. Tuy nhiên, nếu ta chưa từng nói trước đám đông, thì cũng thực là khó, phải không các bạn? Hôm nay mình sẽ nói về kỹ năng này một tí, đặc biệt là cho các bạn chưa quen việc này.
Nếu bạn phải nói chuyện trước một đám người là run lẩy bẩy, và quên hết ngôn ngữ, nói không ra tiếng, thì cũng không sao. Đó chỉ là phản ứng tự nhiên thôi. Khi ta sợ, adrenaline bơm vào máu rất mạnh và sinh ra đủ loại phản ứng tâm sinh lý, cũng như nhiều người thấy trộm vào nhà thì đơ lưỡi. Chỉ cần luyện tập một thời gian thì quen thôi.
Trước hết, hãy ghi nhớ một vài quy luật căn bản này nhé:
1. Càng quen thì càng dễ nói. Nếu mình biết và hiểu đa số khán giả, thì dễ hơn là nói với một nhóm khán giả lạ hoắc. Nếu mình quen thuộc với chỗ mình nói (hội trường, phòng họp, v.v…) thì càng dễ nói.
2. Càng nắm vững vấn đề thì càng dễ nói. Nếu mình đã làm khoảng vài ngàn cái bánh xèo rồi, thì nói về bánh xèo dễ hơn là mới làm chỉ 2 cái trong đời và phần còn lại là chỉ đọc trên Internet 🙂 .
3. Môi trường càng thoải mái thì càng dễ nói. Nếu căn phòng nóng quá, lạnh quá, ồn quá, hay ánh sáng của đèn quay phim cứ rọi thẳng vào mắt mình, thì làm cho công việc mình khó khăn hơn nhiều.
4. “Nói trước công chúng” không phải là “đọc trước công chúng.”
Bây giờ bạn bắt đầu thực tập nhé.
Thực tập hiệu quả là phải có một nhóm bạn tập chung với mình, như vậy thì mới có “đám đông” để thực tập. Cho nên nếu vài bạn thành lập một Public Speaking Club cũng là việc nên khởi đầu.
• Các buổi đầu tiên nên rất dễ dàng, và chỉ nên nói về những gì có sẵn trong đầu thôi. Ví dụ: Mọi người ngồi vòng tròn, rồi thay phiên nhau mỗi người nói về những việc đã làm trong ngày Chủ nhật vừa qua.
• Đến mức cao hơn, thì đứng cao hơn khán giả, và xa khán giả, nhưng sau một cái bục, hay cái bàn nhỏ, để mình không bị thừa thãi tay chân. Nói về vấn đề nào đó đòi hỏi một tí chuẩn bị và sắp xếp, như dạy mọi người làm bánh xèo, hay trình bày trận Điện Biên Phủ.
Lúc này bạn sẽ cần một vài “ghi chú” để nhớ mọi chi tiết phải nói. Các ghi chú này chỉ nên viết rất sơ sài, như một dàn bài nhỏ. Lúc nói mang theo cây bút và dàn bài, nói xong mục nào dùng cây bút đánh dấu mục đó.
• Một cách thực tập khác cũng dễ và hay là nói về những tấm hình bạn chụp. Nếu có máy projector rọi hình lên tường, bạn cầm cây thước chỉ và giải thích về các tấm hình cho mọi người.
• Tập “phát âm với hùng lực”: Viết một câu ngắn, đứng xa khán giả khoảng mười mấy hai chục thước, và đọc câu đó rất to để mọi người đều có thể nghe rõ được.
Cứ tập như vậy thì cũng phải tốn một mớ thời gian rồi. Còn nhiều kỹ thuật và nghệ thuật khác, chúng ta sẽ nói từ từ. Các bạn có thắc mắc thì cứ hỏi nhé.
Gần đây, hầu hết các báo đều nhấn mạnh sự nhắc nhở của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh về vấn đề này. Điều này có nghĩa là ngành giáo dục làm chưa tốt công việc nói trên. Thực trạng này không có gì khó hiểu.
UNICEF đã có dự án hợp tác với Bộ Giáo dục – đào tạo để đưa gIáo dục kỹ năng sống (GDKNS) vào học đường từ giữa thập niên 1990 bằng cách làm thí điểm ở một số trường cấp II trên toàn quốc. Các giáo viên đi tập huấn và về thực hiện theo tài liệu hướng dẫn, nhưng tới nay dự án chưa ra đại trà nổi, mặc dù cụm từ GDKNS đã trở thành “mốt”. Người người nhắc tới nó nhưng nếu được hỏi kỹ năng sống là gì và truyền đạt ra sao thì chưa chắc ai cũng trả lời được.
Vì sao sau hàng chục năm nhưng GDKNS chưa được đưa ra đại trà trong ngành giáo dục? Xin thưa, vì nó đi ngược hoàn toàn với triết lý và phương pháp áp đặt của giáo dục hiện hành của VN. Sở dĩ các tổ chức LHQ đã đề ra chương trình GDKNS cho toàn thế giới từ đầu thập niên 1990 là vì tuổi trẻ ngày nay phải tự mình đương đầu với nhiều vấn đề tâm lý xã hội phức tạp trong cuộc sống. Giáo dục từ chương hoàn toàn bất lực trước hiện trạng này. Vấn đề là làm sao giúp trẻ trở nên độc lập, tăng cường nội lực để tự quyết định, có những lựa chọn đúng, nói không với cái xấu… Giáo dục từ chương bằng giảng thuyết thông qua lời nói suông sẽ hoàn toàn vô hiệu quả. Trẻ cần học bằng hành, học vui – vui học, học từ cuộc sống và hành động ngay trong cuộc sống. Do đó trẻ chỉ có thể học thông qua những nhóm nhỏ, những cuộc tranh luận, những trò chơi, những cuộc sắm vai… Điều mà người thầy trong giáo dục truyền thống không làm được.
Người hướng dẫn trong GDKNS là một “xúc tác viên”, một chuyên gia sinh hoạt nhóm biết khơi gợi, tạo điều kiện cho trẻ tự bộc bạch, đưa ra sáng kiến, tự khẳng định… Tôi đã quan sát một vài cuộc GDKNS ở một trường nọ. Giáo viên hết sức nhiệt tình, nhưng chỉ biết làm một cách máy móc theo đề cương hướng dẫn. Cũng hỏi đáp, hát hò, trẻ cũng thích nhưng không có một sự thay đổi sâu sắc. Thầy vẫn là một nhân vật có quyền lực và trò vẫn làm theo lệnh… Vì thầy cô chưa thoát khỏi cách làm của giáo dục áp đặt mà mình là sản phẩm. Thường họ phải trải qua một cuộc tập huấn gọi là “delearn” để tháo gỡ cái cũ, để thức tỉnh và tự giải phóng mình từ trong thâm sâu.
Ngược lại, trong giáo dục phi chính quy mà người học là công nhân, nông dân, trẻ bụi đời… không thể tiếp thu cái mới trong cách học từ chương bắt buộc các giáo dục viên đường phố, các cộng tác viên cộng đồng phải sử dụng phương pháp cùng tham gia thì GDKNS đang là một hiện thực trong xã hội VN. Điều này cũng đúng quy luật vì theo UNESCO, chính giáo dục phi chính quy đã đem lại sự đổi mới trong giáo dục chính quy trên khắp thế giới.
Tóm lại, GDKNS là chuyện khó làm. Nhưng nếu thực hiện tốt, chính nó là nhân tố dẫn tới cuộc cách mạng giáo dục lấy người học làm trung tâm và sự tham gia của người học làm động lực.
Tin vui của em đến vào những ngày đầu tháng 5 vừa qua khiến lòng tôi ấm áp rộn ràng. Từ lâu tôi đã định viết về em, một gương mặt trẻ đã nổi lên tỏa sáng trong mắt tôi và bè bạn. Lần này những dự đoán và hi vọng của tôi về em quả không sai. Những gì em đã nung nấu và thực hiện bằng quyết tâm khiến tôi ngưỡng mộ. Và trong cuộc đời dạy học của mình, một trong những điều thú vị nhất mà tôi trân trọng, ấy là có cơ hội gặp gỡ những người trẻ năng động và tích cực như em.
Em chính là cô giáo trẻ đất Tam Kỳ với 12 tuổi nghề, 37 tuổi đời, tên Lê Thị Thùy Trâm. Tôi gặp Trâm chỉ một lần vào tháng 7-2008 trong đợt tập huấn Báo Cáo Viên ngành Giáo Dục tại Cửa Lò, Nghệ An. Đó cũng là lần đầu em tham dự lớp tập huấn của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo về ”Đổi Mới Phương Pháp”. Chỉ sau ngày học và thảo luận đầu tiên, em tìm đến trao đổi cùng tôi. Có lẽ là do những tranh luận phản biện rất sôi nổi của lớp học về đổi mới PPDH phải bắt đầu từ người thầy và về sự cần thiết phải hợp tác, giúp đỡ nhau, và tích cực chia sẻ những kinh nghiệm, tài nguyên dạy học chúng ta có được. Những người dạy học như chúng ta đều tâm niệm câu nói của Ralph Waldo Emerson: “Tri thức hiện hữu để được chuyển giao.” (Knowledge exists to be imparted). Vâng, nỗ lực của bản thân, của mỗi chúng ta để đạt đến thành công thực đáng quý, đáng tự hào, nhưng thành quả ấy sẽ quý giá hơn bội phần nếu nó được nhân rộng ra cho nhiều người hưởng thụ, sử dụng, và khi ấy lợi ích giáo dục sẽ to lớn hơn rất nhiều. Rosemarie Rossetti cũng khuyên ta nên chia sẻ những thành quả của mình với người khác vì bằng cách đó ta sẽ có được sự thừa nhận và ủng hộ của nhiều người và chính ta cũng sẽ được lợi ích từ những gì người khác sẻ chia.
Thực vui là em cũng toàn tâm toàn ý với cách tư duy ấy. Em nói với tôi về những gì em đã ấp ủ, đã làm ra trong năm học 2007-2008 : Bộ Đồ Dùng Dạy Học môn Tiếng Anh cho bậc Trung học Cơ sở. Bộ Đồ Dùng Dạy Học của em khiến tôi ngạc nhiên một cách thích thú. Chẳng phải vì nó được đánh giá cao nhất trong kỳ thi Đồ Dùng Dạy Học của thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam năm học 2007-2008, mà vì tính ứng dụng từ công nghệ thông tin và giá trị kinh tế thiết thực rất cao của nó đối với giáo viên đứng lớp Tiếng Anh cấp hai. Làm công tác chuyên môn trong lĩnh vực đào tạo giáo viên, tôi may mắn có nhiều dịp gặp gỡ, lắng nghe các thầy cô giáo trẻ, các cựu sinh viên của mình, tâm sự về những khó khăn trong nghề nghiệp.
Bản thân tôi cũng trăn trở rất nhiều khi nghe những nỗi niềm của các em từ những trường học ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc… về những vấn đề chưa giải quyết được trong thực tế của môi trường dạy học và cơ sở vật chất quá thiếu thốn. Các bạn trẻ nói về việc thiếu tài nguyên và đồ dùng dạy học. Làm sao để có tranh dạy học cho mọi tiết học, cho từng bài lên lớp với một lớp học đông có khi đến 50 em, khi mình vẽ chưa đẹp, mà lại không có đủ tiền cho 1 bộ tranh quá đắt. Thế nên tôi thực sự cảm động và vui mừng khi em đề nghị trao cho tôi Đồ Dùng Dạy Học của em gồm đủ số tranh cho bộ sách giáo khoa Tiếng Anh từ lớp 6 đến lớp 9 để phổ biến với cả lớp tập huấn.
Thực đẹp biết bao sự đáp ứng tích cực ấy xuất phát từ nhiệt tâm và tư duy tích cực của em. Những thành quả của em tôi muốn nêu lên để chia sẻ với mọi người về em như một trong những bông hoa đẹp của ngành giáo dục, một tấm gương tích cực không ngại khó để vượt khó. Còn nhớ trong một email của em gửi cho tôi như một lời giải thích cho động lực và nguồn cảm hứng cho những đồ dùng dạy học em đã làm ra. Em muốn sự bình đẳng về cơ hội học hành trong các lớp Tiếng Anh của mình. Những học sinh nghèo hiếu học luôn có chút thiệt thòi, vì không có điều kiện tiếp xúc với các đĩa CD Rom dạy Tiếng Anh qua máy vi tính. Em muốn mỗi tiết dạy của mình trên Power Point có tác dụng kích thích hứng thú học tập và nâng cao chất lương dạy và học Tiếng Anh cho tất cả đối tượng học sinh.
Thực tế minh chứng cho tính ứng dụng rất cao của bộ đồ dùng dạy học em tạo ra. Như mọi thành viên của lớp học, tôi đã mang sản phẩm của em về giới thiệu với giáo viên của địa phương mình. Sản phẩm ấy đã được đón nhận hết sức nồng nhiệt khi được giới thiệu qua Power Point trên màn hình và máy chiếu, và giáo viên thấy được ý đồ của tác giả về cách sử dụng trong điều kiện không có máy vi tính. Không ít lần trong năm học này, tôi đã nghe những lời cám ơn tác giả về tác dụng của bộ Đồ Dùng Dạy Học ấy từ các thầy cô giáo dạy vùng sâu, vùng xa. Do điều kiện dạy học ở những nơi đó còn hạn chế, khó khăn; ngay cả thầy cô không có máy vi tính, nên tổ Giáo viên góp chung tiền để đem bộ tranh ấy đi photocopy phóng lớn. Theo lời các bạn nói thì giá thành vừa rẻ, mà chất lượng tranh lại đẹp hơn nhiều lần so với photo từ sách giáo khoa. Bộ tranh ấy khi đưa vào dạy trên lớp, đã gây được sự thích thú và hiệu quả rất cao của giáo cụ trực quan.
Các bạn không biết rằng chất lượng tranh đẹp có được là từ nhiều giờ em miệt mài trên máy vi tính để chỉnh sửa cho từng tranh một với phần mềm Photoshop. Đó là nhờ sức trẻ nhạy bén với việc ứng dụng công nghệ thông tin. Ý thức được yêu cầu phải nâng cao trình độ của bản thân nên chỉ một năm sau khi tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm, trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng, em vừa đi dạy ở Tam Kỳ, chăm sóc 2 con nhỏ, vừa tiếp tục học chương trình Đại học. Tốt nghiệp đại học, em lại trải qua một năm theo học ngoài giờ một khóa đào tạo về Kỹ thuật Máy Tính, dù khi đó cuộc sống còn bộn bề khó khăn (2001- 2002), nhưng em may mắn có được sự động viên của ông xã làm việc trong một ngành khác.
Có lẽ chúng ta gặp nhau ở một điểm: lạc quan, và tích cực trong cách nghĩ, cách làm. Chúng ta tin rằng việc đổi mới phương pháp dạy học phải bắt đầu từ sự đổi mới trong tư duy của người thầy. Muốn dạy học Tiếng Anh giao tiếp tích cực, lấy người học làm trung tâm, người giáo viên chúng ta không thể không tích cực vận động, đổi mới cách dạy, không thể chỉ truyền đạt kiến thức ngôn ngữ, ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng mà coi nhẹ các kỹ năng ngôn ngữ phục vụ giao tiếp tích cực.
Đổi mới PPDH không có nghĩa chúng ta đợi đến khi có đủ máy tính, máy chiếu và có thể dùng được Power Point. Chúng ta càng không thể để cái khó bó cái khôn, không đổ thừa cho hoàn cảnh khó khăn, hay chờ đợi một ngày nào đó cơ sở vật chất và phương tiện dạy học tốt lên, mới thực hiện yêu cầu đổi mới. Chúng ta không ngồi đó phàn nàn, hay than thở với nhau rằng chất lượng dạy và học Tiếng Anh của nước ta nhìn chung còn kém hiệu quả vì lý do này lý do khác. Mặt khác, chúng ta cũng không thể phủ nhận giá trị và hiệu quả rất cao của những tiết dạy qua máy tính và máy chiếu với phần mềm Power Point. Các bạn trẻ muốn đổi mới cũng không thể tách rời việc tự học tự nâng cao trình độ của bản thân gắn với các ứng dụng về công nghệ thông tin.
Về mặt ứng dụng này, cũng có nhiều lời tán thưởng của các thầy cô sử dụng sản phẩm của em dạy trên máy tính. Và chắc chắn em chưa biết điều này: Tháng 3/2009 vừa rồi, tổng kết hội thi Giáo Viên Giỏi cấp Tỉnh của Daklak, 100% tiết dạy dự thi Giáo Viên Giỏi môn Tiếng Anh, 42 tiết dạy dùng Power Point đều có sử dụng Đồ Dùng Dạy Học của em, trong đó có nhiều tiết dạy rất thành công. Một kết quả thực đáng vui mừng phấn khởi phải không em?
Những ngày cao điểm trong tháng 5, rất bận rộn với mùa thi của học trò, lòng tôi rộn ràng niềm vui khi nhận một lúc nhiều tin vui em báo. Bộ đồ dùng dạy học cho năm học 2008-2009 của em: KIẾN TRÚC KHO DỮ LIỆU NGHE NHÌN DẠY TIẾNG ANH KHỐI THCS TRÊN PHẦN MỀM POWER POINT đoạt giải nhất của ngành Giáo Dục thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, mà em đã kịp gửi vào để sẻ chia với các đồng nghiệp Daklak cho đợt tập huấn hè sắp tới. Đồng thời, em đã vinh dự đạt danh hiệu cao nhất của Hội thi Giáo viên giỏi môn Tiếng Anh cấp thành phố. Con trai em cũng được chọn dự thi Olympic môn Tin học lớp 10, và ngôi trường THCS Lý Tự Trọng Tam Kỳ nơi em công tác được tặng huân chương lao động hạng 3.
Còn điều này nữa, tôi lại quên không nói một phát hiện tuyệt vời em mới chia sẻ với tôi lời đáp cho câu hỏi canh cánh bên lòng các thầy cô dạy trên máy vi tính: Làm thế nào để thoát khỏi sự lệ thuộc vào chiếc máy vi tính hay laptop khi mình phải trình chiếu PP (không timing tự động). Giáo viên cứ phải ngồi cạnh chiếc máy, rất hạn chế trong việc đi lại quan sát và điều khiển lớp. Em đã suy nghĩ mãi, thậm chí đã nhờ một kỹ thuật viên bậc cao cố vấn để tìm cách khắc phục hạn chế này, nhưng không thành công. Lần dự thi GVG tháng 4 vừa qua, em đã nhờ được một bạn phương xa mách nước và dù tiết kiệm cũng đã nhờ mua bằng được cây bút điện tử bé tí có thể dùng thay chuột máy tính dù em đứng ở bất cứ nơi nào trong lớp. Tôi lại có thêm một điều hay được em chia sẻ và trao đổi với đồng nghiệp và các giáo viên dạy trên PP.
Thùy Trâm ơi, tôi chỉ muốn nói với em một lời ngưỡng mộ và cảm ơn từ đáy lòng tôi. Em, một cô giáo trẻ đã luôn tích cực, yêu nghề, không ngừng cố gắng học hỏi trau dồi bản thân, sáng tạo trong nghề nghiệp vì mình, vì học trò. Những thành công của em đáng giá nhiều lần khi được nhân rộng vượt ra khỏi phạm vi của một ngôi trường hay một địa phương. Cám ơn em, bông hoa đẹp của ngành giáo dục, cô giáo Lê Thị Thùy Trâm.