Category Archives: Văn

Outside Lands Music and Arts Festival

Chào các bạn,

Kim Môn Kiều
Kim Môn Kiều

Outside Lands Music and Arts Festival là một lễ hội âm nhạc hàng năm ở San Francisco, California, trong Công Viên Golden Gate , tức là rất gần cầu Golden Gate (Kim Môn Kiều).

Outside lands là tên gọi ngày xưa của vùng đất ngày nay là Sunset District (Vùng Mặt Trời Lặn) ở San Francisco.  Ngày xưa vùng này không có người ở vì không có đường sá và chỉ có các đồi cát hoang vu.

Cầu Stow Lake trong công viên Golden Gate (Kim Môn)
Cầu Stow Lake trong công viên Golden Gate (Kim Môn)

Outside Lands Music and  Arts Festival bắt đầu lần đầu tiên tháng 8 năm 2008, với 60 màn biểu diễn của các ban nhạc đến từ nhiều nơi trên thế giới.

Ngày Outside Land Festival năm nay là cuối tuần này (Aug. 29 và 30, 2009).  Khi mình viết bài này thì các ban nhạc đang biểu diễn ở San Francisco.  You Tube đang webcast videos liên tục về festival này.

Xem các videos dưới đây, chúng ta có thể xem phần chính của Festival, ngay tại nhà 🙂   Ta sẽ thưởng thức được Festival và có thêm khái niệm về  âm nhạc của đa số các ban nhạc trẻ ngày nay. Các bạn có thể đến Youtube tìm thêm. Mai mốt có thể có thêm nhiều videos trên Youtube về Festival.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

.

Silversun Pickups (www.silversunpickups.com) perform “Panic Switch.”

.

Dave Matthews Band (www.davematthewsband.com) performs “Why I Am.”

.

Thievery Corporation (www.thieverycorporation.com) performs “Warning Shots.”

.

Zap Mama (www.myspace.com/zapmama) perform “Show Me The Way” from their new album “ReCreation.”

.

Street Sweeper Social Club. Tom Morello and Boots Riley have joined forces to form Street Sweeper Social Club (www.streetsweepersocialclub.c om). Here they perform “Promenade.”

.

Trombone Shorty
breaks out his trumpet and a Louie Armstrong impression.

Những chiếc bánh Tét con

Những năm cậu đi học xa, mẹ cho tôi đến ở với bà để nhà đỡ cô quạnh. Mọi việc trong nhà được chúng tôi phân định rạch ròi: bà việc lớn, cháu việc nhỏ. Chẳng hạn như mỗi sáng thức dậy, bà quét sân, tôi quét nhà. Bà bằm rau nấu cháo cho heo, tôi thì xúc tấm cho gà ăn. Bà đi chợ, còn tôi ngồi đợi. Bà dọn mâm, tôi sắp chén. Cuộc sống trở nên ngắn nắp rõ ràng, và…không ai được tị nạnh ai – bà nói vậy.
bàcháu
Dưới con mắt của tôi thì tất cả các hoạt động của bà đều hướng đến một cái đích duy nhất: Tết! Tưới rau, để Tết. Nuôi gà, để Tết. Trồng cây dong riềng, để Tết! Chuẩn bị cho Tết với bà là cả một quá trình, lặp lại mỗi năm. Và quan trọng nhất là nuôi heo, nguồn thu nhập chính để ăn Tết. Đầu năm, bà nuôi một con heo mẹ. Vỗ béo cho đến một đêm bà gọi tôi dậy giữa khuya, khi heo kêu rống lên đau đớn. Nó sắp sinh con.

Dưới ánh sáng chập chờn của cây đèn dầu, tôi đứng bên cạnh đợi bà đỡ từng con heo con đỏ hỏn, bé xíu, lau rửa sạch sẽ, dùng kềm bấm răng nanh rồi đưa cho tôi đặt vào máng ổ bên cạnh được bà lót bằng vải sạch và rơm từ mấy ngày trước. Có những con bé xíu, vặt vẹo tưởng chết. Bà bĩnh tĩnh thổi hơi rồi nhúng chúng vào nước ấm. Tôi reo lên nho nhỏ khi thấy chúng khẽ cựa mình và mở mắt ra. Hai bà cháu tiếp tục nâng niu chăm bẵm cho lũ heo con mau lớn. Bà lo phần heo mẹ, còn tôi chịu trách nhiệm canh chừng lũ heo con khi chúng bú, để những con mạnh khỏe háu ăn không được tranh giành vú mẹ với những con gầy yếu.
[gallery
Gần Tết, bà kêu lái đến cân hết heo mẹ heo con, chỉ để lại vài con khỏe. Số tiền đó dùng để mua sắm cho Tết, và chủ yếu là để làm bánh Tét. Bà mua về thật nhiều thịt, đậu xanh, nếp và hành. Lá chuối và lá dong thì sẵn sau vườn. Mỗi năm bà gói rất nhiều bánh Tét, cho cả gia đình các dì, cậu… Tôi không gói được, vì tay tôi chưa đủ mạnh để ém chặt bánh và xiết những sợi lạt. Tôi chỉ phụ trách phần lau lá.
góibánhtét
Khi chỉ còn một ít nguyên liệu, bà thường ngẫu hứng làm cho tôi một cái bánh Tét con, nhỏ xíu xinh xinh. Tôi sung sướng vô bờ, nâng niu như trứng, ngồi đợi canh cánh suốt đêm để chờ nó chín. Rồi sáng mai đem khoe khắp xóm. Những đứa trẻ khác tha hồ ghen tị. Chúng cũng thèm những cái bánh Tét nhỏ dành cho riêng mình.

Những chiều 30 Tết, bà thường xếp bánh vào giỏ rồi mang đi đâu đó. Tôi hỏi thì bà nó: “Đem biếu những người nghèo, những người không có bánh Tét để ăn Tết, không có gì cả!” Tôi lại hỏi: “Họ có con nít không?” Bà trả lời “Có!” rồi dừng lại nhìn tôi, một tia sáng ấm áp lóe lên trong ánh mắt. Tôi thẽ thọt: “Vậy năm sau bà làm cho con nhiều nhiều bánh Tét con!” “Để làm gì?”Tôi cười sung sướng “Bí mật!”. À, bí mật của tôi. Bà cười : “Rứa à ? ” Nhưng bà cũng làm. Tết năm sau, tôi hầu như đã quên béng đề nghị của mình, còn bà vẫn nhớ.

Khi dì và mẹ tôi về nhà bà lấy bánh thì thấy trên giàn bếp treo hai dãy bánh Tét, một dãy dài những cặp bánh Tét to đùng, và bên dưới là một dãy 12 cặp bánh Tét con ngộ nghĩnh. Tôi chỉ: “Ở trên là của bá, ở dưới là của con”. Mọi người nhìn bánh Tét, nhìn bà và tôi đang hớn hở, rồi nhìn nhau than: “Trời ạ, cả bà lẫn cháu đều trẻ con như nhau”.

Chiều 30 năm đó, bà xếp bánh vào giỏ. Tôi cũng vậy. Rồi bà cháu dắt nhau đi sâu vào phía núi. Bà xách giỏ lớn đựng bánh Tét to, tôi xách giỏ nhỏ đựng bánh Tét nhỏ. Chúng tôi im lặng đi, ghé vào những ngôi nhà xập xệ, xiêu vẹo, với những người lớn đăm chiêu và những đứa trẻ gầy còm, dơ bẩn. Ai cũng hồ hởi chào đón bà. Bà để lại nhà này một cặp, nhà kia hai cặp bánh. Còn tôi thì rộng rãi hơn, mỗi đứa một cái bánh Tét con, lớn nhỏ như nhau.

Giao thừa. Ở nhà chỉ còn hai cái bánh lớn và không còn chiếc bánh Tét con nào cho tôi cả. Nhìn tôi buồn buồn, bà nói : “Con nít hơi đông, hè !”. Tôi gật gù: “Năm tới phải làm nhiều hơn bà ạ”. Bà im lặng xoa đầu tôi.
bánhtét
Nhưng năm sau, Tết chưa đến thì bà đã mất. Tôi vẫn chưa tự mình gói bánh được, cả đến bây giờ, khi đã tốt nghiệp đại học. Nhưng Tết nào về quê tôi cũng đi lại con đường từng đi với bà, trên tay là hai chiếc giỏ cũ, một đựng bánh mứt, một đựng đồ chơi và những cuốn truyện cổ tích. Một cho người lớn, một cho trẻ con. Một vì tấm lòng bà đã yên giấc cỏ, một cho tuổi thơ tôi đã xa tít tắp…

Bao giờ cũng vậy, trên con đường hẹp gập ghềnh đi vào núi, tôi lại cảm nhận trọn vẹn niềm hạnh phúc đơn sơ từng làm tim tôi rung động từ ngày xa xưa ấy: niềm hạnh phúc được cho, từ những cái bánh Tét con, nhỏ bé nhưng chứa đựng tình thương sâu xa của bà.

Đông Vy

Vui Vui Câu Đối

Tự bao giờ câu đối cứ ngự một cách trang trọng nơi cung thất, miếu đền hay những ngôi nhà cổ. Câu đối cũng đi liền với danh thần, lương tướng, thi sĩ văn nhân tạo nên những giai thoại. Bởi thế cái nhìn của người đời nay về những hàng chữ dọc có phần ngài ngại. hoanh phi cau doi

Ấy thế mà cũng có khi cái sang trọng ấy cũng xủ áo vi hành đi lạc vào cõi nhân gian, cho hay khi áy những vế đối mới nôm na gần gũi mà không kém phần thú vị.

Xin giới thiệu một đôi câu đối dân gian, như kể chuyện đùa cùng bạn bè những lúc cao hứng mà không cần câu chấp.
Người đầu tiên bày ra chuyện đùa cùng những vế đối là ai thì tôi không tường, nhưng biết được cụ Tam nguyên Yên Đổ là vị khoa bảng lừng danh vậy mà cũng hay đùa với thứ chữ mực tàu này lắm.
Này là bà vợ ông thợ rèn khóc chồng, xin cụ một đôi câu, cụ huơ tay thảo liền tắp lự:

Nhà cửa lầm than con thơ dại lấy ai rèn cặp
Cơ đồ bỏ bể vợ trẻ trung lắm kẻ đe loi.

Thật đúng tình, đúng cảnh, đúng nghiệp, đúng người.
Còn đây là chữ giành cho người thợ nhuộm:

Thiếp từ lá thắm xe duyên, khi vận tía, lúc cơn đen, điều dại điều khôn nhớ bố đỏ
Chàng ở suối vàng có biết, vợ má hồng, con răng trắng, tím gan tím ruột với trời xanh.

Cùng một chút nghịch nghịch vui vui. Mà cũng thâm trầm đáo để. Dường như cụ Nguyễn tin vào phẩm chất bà nhuộm hơn bà rèn.

Dân gian còn truyền lại một đôi vế đối cũng rất nhà nghề:

Đến phố Mía gặp cô hàng mật, cầm tay kẹo lại hỏi thăm đường.
Trời mưa đất thịt trơn như mỡ, giò (dò) đến hàng nem chả muốn ăn.

Đem thịt mỡ chả nem mà trả lại mía mật kẹo đường thì cũng xứng đồng tiền bát gạo.
Vế trên thì ngọt. Vế dưới thì béo. Cả hai vế đều ngon cả!

Nghe_Thuat_Cau_Doi_

Chuyện lang thang dọc đường dân gian thì còn dài dòng lắm, xin kết lại chuyện xưa bằng một vế hãy còn bỏ ngỏ:

Gái tơ chỉ kén ngài quân tử

Tơ chỉ kén ngài làm nên cái nghiệp tằm tang, cũng làm nên cái giá của cô hàng dệt, chết ngặt là thế.
Ngày nay, đi dọc đường cười, cái đối đôi khi cũng trêu ghẹo con người ta chút đỉnh, ghẹo cho vui thôi mà.

Đây là bản lĩnh của người đất thép:

Gái Củ Chi chỉ cu hỏi củ chi!

Lật ngược lật xuôi hai chữ thành ba nghĩa, vừa nghịch chữ vừa bạo miệng, gặp câu này thì các thầy đối cũng bó tay chấm com.
Này là các thầy các cô đùa nhau:

Cô dạy lí bồ thầy dạy hóa hóa ra vô lí
Thầy sinh vật cưới cô sinh vật vật vật sinh sinh.

Đây là tình cảnh của những anh nghèo rách mồng tơi mà lại thêm bỉ vận:

Con heo nái của anh Hai nếu ngủm cù đeo nghẻo cù đum.
Chú cu mồi của bác Côi mù ngấc cẳng quay ngay cẳng quấc.

Tôi thường được học rằng văn hóa văn học dân gian là nơi cư trú sức sống bình dân. Mạo muội nói thật rằng trong thời đại nào cũng thế, người bình dân thường có mức sống thấp nhất, vậy mà họ là lớp người có sức sống mạnh mẽ nhất. Cứ coi cách họ đùa với cái ngặt của mình thì có lẽ ít có triết gia nào đạt đến.
Ta đang trò chuyện đối xưa, đối nay. Dĩ nhiên là đã lược bỏ đi cái phần trang nghiêm đĩnh đạt, cái trí vốn chuộng sự hài của tôi cũng chỉ kịp lưu giữ một vài câu vui vui và cũng thuộc hàng “vô danh thị”.

cau doi 2

Và kết lại chuyện xưa- nay bằng một gặp gỡ khá thú vị cũng thuộc hàng xưa nay hiếm.
Xưa còn lưu truyền một vế đối:

Đồng tử đả đồng tử, đồng tử lạc, đồng tử lạc.
( Đứa trẻ ném trái ngô đồng, trái ngô đồng rụng, đứa trẻ hân hoan)

Tôi chưa gặp lời đối nào cho ưng ý. Mãi gần đây, ở Ngũ Hành Sơn miền trung thịnh nghề tạc tượng đá, và tôi nhặt thêm một vế ưng ý:

Tượng nhân tạc tượng nhân, tượng nhân hoàn, tượng nhân hoàn.
( Người thợ tạc tượng người đi tạc tượng người, tượng tạc xong, người tạc tượng trở về)

Các bạn xem thấy có chỉnh không?
Một ngày bận bịu, tối về gom lại những câu vui, tự khuyến mình, cũng đem chia sẻ cùng các bạn của Đọt Chuối Non. Chúc các bạn một ngày vui.

NGUYỄN TẤN ÁI.

Hoa Blang (Sử thi Dam San)

Viết lại chuyện tình chàng Dam san
Hoa Blang

Dam San bỏ mặc khách cầu hôn ngồi chật nhà cho chị em H’Âng, H’Lí tiếp. Chàng cuốn gọn mớ tóc dài trong chiếc khăn bịt đầu đỏ chói của tù trưởng, gỡ chiếc xagac treo trên vách, nhảy qua cửa sổ buông mình xuống giữa lưng ngựa, phóng đi không hề ngoảnh lại.

galloping

Bước chân ngựa vẫn như hàng ngày nhanh hơn cơn gió. Thân hình Dam San vẫn dẻo như nõn mây. Nhưng dường như hôm nay tai chàng không nghe được tiếng động nào, ngoài tiếng nói cứ nhắc đi nhắc lại trong đầu :

– Phải đến ngay nhà H’Bia Điết Klứt (*).

Tiếng con chim tao vao vắt vẻo trên cột gỗ ở cổng đầu buôn, chao chác gọi bạn tình chẳng lọt lỗ tai chàng. Cơn gió ù ào luồn qua rừng khộp, đùa giỡn tung những chiếc lá đỏ tơi tả bay đầy trời, không khiến mắt Dam San chú ý. Thúc ngựa lội ào qua suối, nước ngập tới ức ngựa , ướt cả đuôi khố, chàng không hay.

– Không! Không Không thể lấy H’Nhi, H’Bhi làm vợ. Dù cho hai nàng có đẹp, có giàu. Ta đã thuộc về H’Bia Điết Klứt.

Tiếng lách cách của khung dệt báo Dam San biết người yêu đang dệt vải. Vịn tay đầu sàn, chàng ghé nhìn qua khung cửa. H’Bia bên cửa sổ vẫn đang vừa luồn chỉ vừa hát:

Dệt tấm khố em mong anh về
Trao tấm áo để đón anh về
Mẹ bảo em rằng anh sẽ về
Mai mốt anh về như chim có bầy
(**)

Nàng dệt đã sắp xong tấm khố để tặng chàng. Bên cạnh lại còn bày cả tấm chăn apăn lẫn chiếc áo tù trưởng knuky có hàng nút vàng và hàng dây đỏ rực như chim mlang đang giang cánh trước ngực, đã dệt xong. Nhìn những trang phục đó, nàng giục mình phải xe chỉ, luồn sợi nhanh tay hơn nữa, bởi đó chính là một phần những lễ vật nàng sẽ đem sang nhà để cưới chàng về làm chồng.

Dam San nắm lấy đôi bầu vú gỗ nơi đầu thang, đu thẳng người lên sàn. Bước nhảy mạnh mẽ của chàng dũng sĩ khiến cả căn nhà sàn dài rung rinh.H’Bia dừng tay dệt ngó ra cửa, nói dỗi :

-Dam San ! Mấy lần con gà lên ổ rồi em không thấy chàng. Hay Dam San để con diều mổ, con quạ tha em đi rồi mới tới đây chăng?

– H’Bia ơi ! Em mắng anh sao như nước sôi trên lửa vậy? Mai này cơm ai người đó ăn, rượu ai người đó uống.Em có còn được chờ, được mắng anh nữa không đây?

– Sao vậy Dam San ?

Bước tới sau lưng người yêu, Dam San cởi hộ nàng sợi dây buộc khung dệt, vén mớ tóc dài xõa đầy trên sàn, đỡ H’ Bia đứng dậy :

– Cột một ché rượu hai người uống đủ đi em. Ta uống với nhau một lần cho say, quên cả đường về, quên cả những gì đang chờ ở nhà anh kia nữa nhé.

Cảm thấy có điều gì xẩy ra, H’Bia lặng lẽ bới gọn mớ tóc rồi đi tới góc nhà phía Đông nơi mẹ ủ rượu, chọn lấy một ché ngon. Dam San với tay lên xà nhà, lấy cây cột gơng chống xuống sàn, chàng phụ H’Bia bưng tới, cột ché rượu cho chắc.Trong lúc H’Bia lui cui múc nước và soi lại cho thông cái cần hút, Dam San nhanh chóng đem về một ôm lá chuối khô, xoay tròn ấn vào ché. Họ lặng thinh làm, không nói gì với nhau, cũng không gọi tôi tớ.

Hai người ngồi bên nhau, tay cùng đặt lên cần rượu, chân đạp lên chân, mắt nhìn trong mắt. Nếu có hai chiếc cần, thày cúng, cái rìu và đôi vòng đồng nữa, thì đã thành lễ cưới của họ rồi. Mặt ché đầy nước sóng sánh như ánh mắt H’ Bia đắm đuối nhìn người yêu. Đam San dịu dàng nâng cần rượu đặt lên môi nàng :

– Uống đi H’Bia . Cho Dam San được tiếp em uống rượu lần sau chót. Rượu có đắng ta cũng coi là rượu ngọt mà uống cùng nhau.

Đôi mắt H’Bia mở to, lóng lánh như cặp mắt con mang nhỏ Dam San bẫy được mà không nỡ giết, lại chữa vết thương rồi giữ cho nó quen đùa với hai người mỗi lần đi thăm rẫy.

– Có việc gì Dam San ? Chị em nhà anh không cho hai đứa mình thương nhau sao?

– Không phải đâu H’ Bia. Chỉ là H’Nhi và H’Bhí cho các anh trai đem lời ông nội đến nhà. Đã đến lúc theo luật tục nối dây, anh phải về nhà hai nàng đó làm người đổi trâu bò lấy ching ché, lấy voi. Ngồi trên chiếu hoa làm sang cho nhà họ.

– Còn em sao Dam San ?

– Ờ, H’Bia ở đầy trong đầu, trong mắt, trong ngực Dam San đây nè. Nhưng bao đời nay, em có thấy ai cãi lời luật tục không? Việc này đã được ông Y Kla của anh dặn dò từ khi ông còn phải cõng H’Bhi trên lưng, bế Dam San bên vế trái, ôm H’ Nhi một bên vế phải, cách nay mười lăm mùa rẫy rồi đó em.

– H’Bia không chịu đâu Dam San. Mình thương nhau đã hai lần hoa tăng bi gửi hương cho gió rồi. Nhà em cũng danh giá, giàu sang đâu có kém gì H’ Nhi, H’Bhí? Dòng họ Êban cũng được quyền cưới họ Niê Kdam chứ.

– Nhưng còn sợi dây nối nòi , làm sao dứt đứt được ?

H’ Bia tựa đầu lên vai Dam San. Mái tóc dài thơm ngát của nàng xổ tung, quấn quýt lên cổ, lên vai, lên tấm lưng trần của chàng Dam San. Họ khép mắt im lặng ngồi bên nhau…..H’Bia đi trước trên con đường rừng vắng, hai bên dày đặc những bông hoa mnga phí vàng óng giữa đám lá xanh mướt.Đôi gót chân đỏ như bôi đất non của nàng bước tung tăng trong tiếng đinh năm dìu dặt. Tiếng kèn như nâng bước chân và tiếng hát H’ Bia.

Lược ngà anh dắt mái tóc xoăn
Để em mơ đêm thương ngày nhớ
Chiếc chiếu em một bên mốc dở
Bởi không có người nằm kề bên

Ơ anh…(***)

Dam San cũng say trong nhịp điệu của câu hát ai rei. Người chàng lắc lư, đôi chân và cả thân mình nhấc lên, nhún xuống, tua khố tung bay.Những con chim kơtia mỏ đỏ, chim nhông mỏ vàng kéo hàng đàn ríu rít sà xuống theo hai người. Góc rừng anh công kiêu hãnh xòe hết chiếc đuôi lóng lánh những hình mặt trời xanh, khoe mẽ với nàng công đang yểu điệu rón rén từng bước. Tiếng suối róc rách ngân nga đâu đây trong bài ca bất tận của núi rừng và tình yêu. Từng chùm hoa xoài trắng đung đưa trong nắng…Dam San ngửa mặt gọi thần mặt trời :

– Ông ơi, thả cho cháu cái thang.

Chiếc thang vàng óng kéo lên. Ông Gỗn cười ha hả hỏi Dam San :

– Hai vợ cháu đang đi đón đó, sao chưa về đi. Từ nay đừng làm con mang, con hoẵng lang thang trong rừng nữa nghe. Phải làm cây cột cái trong nhà chớ.

– Nhưng cháu thương H’ Bia Điết Klứt ông à. Nàng cũng ưng cưới cháu nữa. Chúng cháu muốn ăn cơm một mâm, ngủ chung một chiếu, hút cùng một ống điếu. Sao bắt cháu nối dây với H’ Nhi, H’Bhí? Cháu đâu có ưng hai nàng đó.

– Sợi dây ràng buộc dòng họ Niê với Mlô đã có từ ngàn xưa ông bà rồi.Bà H’Klu chết, họ Mlô phải đem H’ Nhí cho ông Y Kla. Bây giờ đến lượt cháu phải thay ông nội làm chồng H’Nhi, H’bhí. Niê với Mlô kết đôi, của cải mãi mãi sinh sôi, buôn làng đời đời no ấm. Dam San ưng làm tù trưởng hay làm tôi tớ giữ bò, giữ ngựa cho H’ Nhí?

– Có đúng cháu lấy hai nàng đó sẽ thành tù trưởng hùng mạnh, giàu có nhất vùng không?

– Ông Gỗn sao nói sai lời với cháu ?

Hai người mở bừng mắt. Họ vẫn ngồi bên nhau mà thiếp đi, mỗi người một giấc mơ. Chiếc cần rượu bị bỏ quên không ai uống, chảy tong tong xuống sàn, loang ướt cả vạt gỗ.

Dam San quấn mái tóc thơm của H’ Bia quanh cổ như tấm khăn.Hai tay chàng nâng khuôn mặt người yêu. H’ Bia nhắm mắt, dòng lệ trong veo lăn trên đôi má mịn màng. Dam San ghé môi nhấp cạn giọt lệ của người thương. Mắt chàng không rời khuôn mặt nàng, cố khắc ghi những nét yêu thương mai này không còn được ngó thấy…Này hàng mi dài, H’ Bia ưng ghé sát má chàng rồi chơm chớp, thích thú thấy chàng bị nhột.Cặp môi xinh, hàng răng trắng đều như bắp nếp, không còn được gửi cho chàng những nụ cười hoa nở nữa.Khắp bao bến nước, không có cô gái nào có suối tóc dài thơm ngát như H’Bia. Hương tóc ngọt ngào này chàng sẽ không bao giờ được úp mặt vào hít thở. Không còn nữa lời đinh năm buổi sáng, câu hát với đàn goong những đêm trăng xanh.Im lặng úp mặt trong tóc, họ ôm riết lấy nhau, bện trong nhau như con trăn quấn mồi, như đôi sam bơi trong biển. Nhà sàn rung rinh, bay, bay, bồng bềnh trôi trong gió, mỗi lúc mỗi dào dạt. Đóa hoa mây khổng lồ trắng muốt, sà xuống phủ kín căn nhà, bao bọc, ấp ủ, chở che. Đất trời, rừng suối, chòng chành trên con thuyền căng buồm lướt sóng…

Dam San cuốn lại tóc cho H’ Bia, thủ thỉ :

– Lúc nào nghe chiêng trống thì đến nhà anh nhé.

Đôi tay họ xoắn lại, níu lấy nhau không muốn rời ra. Dam San đi lui tới tận đầu thang nhà sàn. H’ Bia thổn thức tựa cửa nhìn ngựa của chàng mỗi lúc mỗi xa. Có gì sáng lên trong đầu, nàng quay lại thét gọi tôi tớ :

– Các con ! Chuẩn bị lễ vật ! Lấy váy áo đẹp cho ta. Đóng bành voi, đi tới nhà Dam San ngay.
voi_tay_nguyen
Nàng ướm lên người chiếc váy đen lánh như cánh bướm đêm. Thấy chưa ưng lại thử tấm váy vàng rực như tia nắng mặt trời. Cuối cùng nàng lựa chiếc váy sáng nhóng nhánh như ánh trăng xanh, mặc với chiếc áo ngắn thêu hoa và chim rực rỡ. Từ hai bông hoa đỏ trên vai, thả xuống những sợi chỉ bím dài, khiến mỗi bước nàng đi thêm mềm mại. Một góc vạt váy buông lơi bên hông, càng tăng cho nàng vẻ duyên dáng. Tôi tớ đã kịp chuẩn bị xong lễ vật, voi đã đóng bành phủ tấm mền thổ cẩm đỏ đen rực rỡ, ghé lại bên sàn. H’ Bia ra lệnh nài thẳng hướng nhà Dam San giục bước chân voi.

Con đường trôi giữa hai bờ cỏ lau khô lút đầu. Mỗi lần làn gió xào xạc chạy qua, cỏ lau dịu dàng nhường nhịn nằm rạp xuống, rồi lại kiêu hãnh ngóc dậy. H’ Bia quyết đến giành lại người yêu trong tay H’Nhi và H’Bhí, cho dù có phải chống lại luật tục muôn đời.

Dam San bước lên cầu thang nhà sàn phía sau, kịp nghe tiếng Y Đ’hinh, anh của H’ Nhí lớn giọng :

– Anh Dam San đâu. Tôi muốn hỏi một lời thôi : gia đình ta có còn nhớ luật lệ ông bà, có nhớ lời dặn của ông nội Y Kla không?

Chàng chậm rãi bước tới, khoanh chân ngồi trên chiếc đệm tù trưởng phủ vải thổ cẩm ngay giữa nhà, xếp lại mép khố cho ngay ngắn. Đôi tay đặt trên đùi, đầu ngước cao. Đuôi chiếc khăn buộc đầu cũng ngẩng lên thách thức. Mọi người chợt im bặt. Chưa ai kịp nói lời nào thì một đàn voi xịch tới bên sàn. H’ Nhi, H’Bhí yểu điệu bước xuống dưới bàn tay dìu đỡ của anh Y Linh. Chị H’Âng tíu tít chạy ra đón khách. Chưa kịp mở lời mời ngồi, lại một đàn voi khác rầm rập quỳ gối ghé hiên nhà, H’ Bia mạnh mẽ bước xuống, khoanh tay đứng chờ nơi đầu sàn. H’LÍ lật đật thay chị chạy ra ríu rít mời mọc :

– Mừng chị H’ Bia tới chơi. Nhà chúng tôi bữa nay được đón toàn khách giàu khách quý. Các chị có tới nhầm nhà không đấy ?

– Không nhầm đâu ! Tôi tới hỏi anh Dam San về làm chồng đây. Các con ! Bưng đồ lễ lên.

Tiếng H’ bia lanh lảnh. Mọi người chưa kịp ngồi ấm chỗ đã nhấp nhổm đứng dậy. Đam San lặng người đăm đắm nhìn H’ Bia.Nàng đã công khai gây chiến rồi. Bụng chàng bên thương bên lo. Thương nàng dám một mình đương đầu với dòng họ Mlô danh giá, đưa ngay lễ cưới xin đón chàng, chứ không phải lễ hỏi. Nửa lo H’ Bia làm sao bẻ gãy được luật tục và miệng lưỡi của cả cộng đồng.

Đoàn tôi tớ nhà H’ Bia đứng chật đầu sàn. Nàng thủng thẳng bước đi trước mắt mọi người. Vẻ đẹp rực rỡ và ánh mắt cương quyết của H’ Bia khiến những kẻ rắp tâm muốn làm trò xấu cũng phải rẽ qua, kính nể nhường bước. Nàng ý tứ đứng lui sang phần đing ok dành cho phái nữ, khẽ gật đầu. Tên nô lệ đi đầu quỳ xuống dâng lên cho chị H’ Âng chiếc mâm đồng đựng đủ bảy món lễ vật : tấm mền, chiếc áo, khố, túi đeo, bát đồng và hai chiếc vòng. Sáu nô lệ tiếp theo đặt xuống ba chiếc ché tuk cao ngang ngực người rồi cúi đầu lui ra. Hai người khác khiêng một bộ ching Lao đặt xuống. Chắc chắn trâu bò heo còn đứng chật cả ngoài sân.

Y Đ’Hinh nãy giờ ngồi trầm ngâm, bỗng thẳng lưng lên, nghiêm giọng hỏi H’ Bia :

– H’ Bia Điết Klứt ! Con gái tù trưởng sao không theo đúng lệ của ông bà? Đi hỏi chồng sao không có cậu dăm dei, lại chưa nộp lễ hỏi đã trao lễ vật xin cưới?

– Ta không cần dăm dei. Nữ tù trưởng được quyền tự ý bắt chồng. Nhà ta bên đó với chị em Dam San bên này đều đã biết hai ta ưng nhau đằng mặt, thương nhau đằng lòng. Đó là xong lễ hỏi, nay ta xin rước chàng là đúng chớ. Y Đ’hinh không bẻ được lý phải của ta như bẻ trái bắp đâu.

Y Đ’hinh gập gãy cành củi đang cầm trên tay kêu cái rắc, cao giọng hơn :

– H’ Bia có biết Dam San được nối dây cho H’Nhi, H’Bhí từ mười lăm mùa rẫy trước rồi không?

– Ta biết! Nhưng luật tục đâu có ép nếu chàng không ưng. Dam San thương cái đẹp của ta, mến cái tình của ta. Luật tục có cấm Ê Ban với Niê Kdăm kết đôi không?

Y Đ’hinh vươn thẳng người lên dõng dạc :

– Không nói nhiều ! Tôi chỉ hỏi chị H’ Âng và anh Dam San : dòng họ Niê Kdam có còn giữ lề lối luật tục Radeh không? Có chịu kết đôi cùng em gái chúng tôi theo như lời ông nội Y Kla đã dặn không?

Trời đất bỗng dưng tối sầm, ngả nghiêng, sấm sét ầm ầm nổi lên từ bốn phía. Gió cuốn đất đá, cỏ cây bay mù mịt. Voi ngựa, trâu bò, heo ngoài sân gầm rống. Lũ con nít thét lên túm lấy váy mẹ. Tiếng ông Y Kla oang oang át cả tiếng sấm rền :

– Nếu Dam San và H’ Nhí, H’Bhí lấy nhau, họ sẽ thành tù trưởng hùng mạnh, giàu có nhất vùng. Ai làm ngược lại sẽ phải chịu thành nô lệ giữ trâu bò, giữ ngựa cho người kia. Ô hô…ô hô…
taynguyen3
Yang sét thu búa về. Yang gió đẩy mây bay đi, trời lại xanh bao la, yên tĩnh. H’ Âng nhìn Dam San. H’Nhi, H’Bhí nhìn Dam San. Mọi người cùng nhìn Dam San. Như không có H’ Nhi, H’Bhí, như không còn có ai tồn tại, chỉ có ánh mắt Dam San và H’ Bia lặn trong nhau, gài vô nhau đau đớn. Đôi tay khỏe mạnh của Dam San nhắc lên như muốn đưa ra níu lấy, nhưng rồi lại nặng nề rơi xuống đùi. Thân hình xinh đẹp của H’ Bia thẳng căng đổ về phía trước như muốn lao tới với Dam San. Nhưng nàng vẫn bất động. Dường như sức nặng của luật tục ngàn đời đang đè lên hàng trăm con người trong căn nhà sàn dài mênh mông này.

H’ Ấng khe khẽ nén tiếng thở dài vô trong lồng ngực, từ từ đứng thẳng người dậy :

– Con cháu dòng họ Niê chưa bao giờ làm trái lời luật lệ ông bà. Chúng tôi thuận cho Dam San về làm chồng H’ Nhi, H’Bhí.

Tắt, tắt, tắt…chiêng mừng vang lên mỗi lúc một dồn dập. Char (***) ơi! Đem nỗi đau này của Dam San tới tận vực Srêpôk sâu thẳm, cho cả bày cá sấu ở dưới đáy sông Krông Nô kia thôi hững hờ, nổi lên đây cùng chia xẻ. Liang (***) ơi, hãy đem tình yêu của H’ Bia rải khắp chín tầng trời, bảy tầng đất. Cho những con chim có đôi, con người có bạn, cả những nàng tiên thanh thản suốt đời trên bầu trời bao la kia, cảm nỗi đớn đau của tình yêu bị cắt rời….

H’Nhi, H’Bhi và Dam San đã ngồi trên những chiếc bành có lọng che, bầy voi đã hươ vòi từ biệt và cất bước. Ngựa của anh em Y Đ’Hinh, Y Linh đã phóng nhanh như bay đi trước báo tin. Dam San ngoái lại nhìn H’Bia đơn độc đứng chênh vênh nơi mép sàn, dõi theo bước chân voi. Chàng càng đi xa, hình dáng nàng càng lớn lên , cao lên, tạc sâu vào nền trời xanh như ngọc. Rồi tất cả nhòa đi, chỉ còn một thân cây cao lớn sừng sững vươn những cánh tay dài lên bầu trời thăm thẳm cao, xa vời vợi. Những người đàn bà gọi đó là cây blang. Cây blang có hoa đỏ mùa hè, kết thành bông trắng mùa đông. Cánh đỏ như máu của hoa chính là từng mảnh trái tim đầy yêu thương đã tan nát của nàng H’ Bia. Gió đông tách những chùm bông trắng xóa, mang theo tình yêu của H’ bia theo Dam San tới tận cuối đất cùng trời. Các cô gái Radeh nhặt bông ấy xe chỉ, nhuộm nước lá rừng, dệt những tấm chăn, đắp ấm mọi lứa đôi yêu nhau.
_______________

(*) H’Bia Điết Klứt : là một nữ tù trưởng , người yêu của Dam San, mà theo luật tục, chàng buộc phải bỏ để cưới hai nàng H’Nhi & H’Bhí ( Theo sử thi Dam San)
(**) Dân ca Êđê
(***) tên các chiêng trong dàn

Linh Nga

Hãy nói yêu thôi, đừng nói yêu mãi mãi!

Sáng nay, trong khi sắp xếp những chồng thư cũ, tôi tình cờ đọc lại một bài thơ ngắn của Jacques Prévert mà cô bạn cũ đã nắn nót chép tặng trên một tờ thư có in hoa rất đẹp. Bài thơ vỏn vẹn năm câu được cô đặt vắt qua hai trang giấy một cách đầy ngụ ý.
true_love
Trang thứ nhất:
Tôi sung sướng và tự do
Như ánh sáng
Bởi hôm qua anh ấy nói với tôi rằng anh ấy yêu tôi.

Hai câu cuối bị đẩy qua trang sau:
Anh ấy đã không nói thêm
rằng anh ấy sẽ yêu tôi mãi mãi…

Khi đọc bài thơ này cách nay hai mươi năm, tôi đã cảm nhận nó bằng một tâm hồn tươi trẻ. Bây giờ, cuộc sống đã giúp tôi nhìn khác đi về bài thơ trên trang giấy cũ này.

Cô gái trong thơ nhạy cảm và tinh tế, vì đã không đợi đến khi người mình yêu quay lưng mới xót xa nhận ra rằng tự do “như ánh sáng” chỉ là một thứ tự do mong manh. Hạnh phúc “như ánh sáng” là một hạnh phúc có thể vụt tắt bất cứ lúc nào.

Nhưng giả sử chàng trai có nói thêm rằng “sẽ yêu mãi mãi”, hoặc có thề hứa trăm năm đi nữa… ai dám khẳng định trái tim chàng sẽ không đổi thay? Nếu từng đọc Ruồi Trâu, hẳn bạn còn nhớ đọan văn này: “Ràng buộc con người không phải là lời thề. Chỉ cần mình tự cảm thấy thiết tha với một điều nào đó, thế là đủ rồi.”

Ngoài sự “thiết tha tự nguyện” đó ra, chẳng có gì ràng buộc được trái tim con người, nên đừng tin chắc rằng ai đó sẽ mãi không đổi thay. Cũng không thể buộc ai đó không được đổi thay. Trên đời không có thứ vũ khí hay quyền lực tuyệt đối nào có thể níu giữ trái tim một khi nó đã quyết tâm rẽ lối. Cho dù đó là nhan sắc, một tình yêu sâu đậm, những kỷ niệm sâu sắc đắm say. Càng không phải là sự yếu đuối, sự khéo léo sắc sảo hay vẻ thông minh dịu dàng, sự giàu có hay thương hại…Những thứ đó có thể níu kéo một thân xác, một trí óc…nhưng không thể níu kéo một trái tim.

Trái tim vốn là một tạo vật mong manh và thiếu kiên định. Vì vậy, hãy tin vào điều thiện, lòng tốt, vào nhân cách và năng lực…nhưng đừng tin vào sự bất biến của nhận thức và tình cảm nơi con người. Hãy tin là mình được yêu trong khoảnh khắc này, nhưng đừng chắc rằng mình sẽ được yêu mãi mãi. Nếu chịu chừa chỗ cho sự đổi thay, ta sẽ tránh được không ít tổn thương sâu sắc.

Tôi không cho niềm tin là món quà vô giá mà ta dành cho người khác. Bởi đôi khi, sự tin tưởng hoá ra là một việc rất… đơn phương và vô trách nhiệm. Nó có nghĩa bắt người kia vào rọ, không tính đến khả năng thay đổi của trái tim con người. Tin tưởng là trút gánh nặng sang vai người khác, bất kể người ta có chịu nhận nó hay không. Việc nhận định hay quyết định vấn đề không còn dựa vào sự thận trọng, tỉnh táo, sáng suốt hay sự nhạy cảm, bao dung của ta mà hoàn toàn giao phó cho người khác. Và khi họ thay đổi, ta thường nhân danh sự tin tưởng tuyệt đối mà mình đã tự nguyện gửi gắm để cho phép mình cái quyền được ghép tội họ.

Nhưng, bất cứ ai cũng có thể có lúc đổi thay.
lovesign
Sự thay đổi của người khác, nhất là ở người ta vô cùng yêu quý, chắc chắn khiến ta tổn thương. Nhưng hãy nhớ rằng người quân tử khi đã hết tình cảm thì thường tỏ ra lạnh nhạt. Như ẩn sĩ Urabe Kenkô trong tập Đồ Nhiên Thảo đã viết: “Khi người sáng chiều hết sức thân quen, không có gì ngăn cách bỗng một hôm lại làm mặt lạ và có cử chỉ khác thường, chắc hẳn sẽ có kẻ bảo: “Sao xưa thế kia mà bây giờ lại thế khác?” Theo ta, thái độ lạnh lùng đó chứng tỏ người ấy hết sức đàng hoàng và thành thật.”

Cuối cùng đó mới chính là cốt lõi của tình yêu, tình bạn và những mối quan hệ thân sơ khác. Sự thành thật, chứ không phải là lời hứa vĩnh viễn thủy chung. Bạn có thể yêu hay ghét. Thích hay không còn thích nữa. Chỉ cần thành thật, bạn sẽ luôn luôn thanh thản.

Tôi đọc lại lần nữa bài thơ ngắn ngủi trên tờ thư cũ, và cảm nhận một cách rõ rệt vẻ trách móc đắng cay dịu dàng rất đỗi con gái. Nhưng ít nhất cô gái trong bài thơ kia cũng biết rằng người yêu cô đã rất thành thật, khi không hứa một điều mà anh không tin chắc. Cô cũng biết trái tim con người là một tạo vật hoàn toàn tự do, và một khoảnh khắc đắm say hạnh phúc không hề là lời hứa hẹn vĩnh cửu.

Cô bạn yêu quý của tôi chắc cũng nhận ra điều đó, nên đã viết thêm một dòng chữ xinh xinh vào cuối trang thư, một dòng ngắn mà tôi không bao giờ quên được:

“Hãy nói yêu thôi, đừng nói yêu mãi mãi”.

Đông Vy & Phạm Công Luận

Một mảnh nhỏ của thiên đường

    Ngồi trong bóng râm vào một ngày nắng đẹp và nhìn ngắm cây cỏ xanh tươi là sự tĩnh dưỡng hoàn hảo nhất.

    (Jane Austen)

Khi tình cờ nhìn thấy cây liễu xanh rủ xuống những chùm bông đỏ trong vườn một biệt thự ở Phú Nhuận, tôi đã muốn sau này xây nhà xong, tôi sẽ trồng một cây liễu trước sân. Vẻ mong manh của nó sẽ hợp với mảnh sân nhỏ xíu. Nhưng chợt nhớ câu “đông đào tây liễu”. Nên thôi.

“Liễu mùa xuân xanh mơn mởn nhưng xin đừng trồng liễu trong vườn nhà. Cũng như chớ kết giao với hạng người khinh bạc. Dương liễu xum xuê đấy nhưng không chịu nổi trận gió đầu thu, khác nào người khinh bạc dễ nhạt mối giao tình. Liễu kia còn thắm lại lúc xuân về chứ người khinh bạc một đi không hề trở lại.”(*)
Tiny White Cottage
Vậy là phải tìm một loại cây khác cho mảnh sân của tôi. Một mảnh sân nhỏ chừng sáu mét vuông ở trước nhà, và một mảnh nhỏ hơn nữa ở góc giếng trời phía sau. Đó là chưa kể sân thượng. Chồng tôi bảo: “Nhà mình không đủ chỗ cho một mảnh vườn thật sự, nhưng ba khoảng xanh đó tùy em định liệu, trồng gì cũng được!”

Với những công chức bình thường, không áp phe, không chứng khoán, đủ tiền xây một cái nhà riêng tư ở Sài Gòn là đã nhiều cố gắng, nói chi đến vườn. Trong tâm trí nhiều người dân thành thị, vườn chỉ còn là một ký ức, một nỗi nhớ, êm đềm và xa xôi như nỗi nhớ nhà. Nên chi một mảnh sân bé tí cũng đủ làm tôi mãn nguyện.

Đầu tiên, tôi muốn trồng ở sân trước một cây xanh, để che bớt nắng vì nhà nằm hướng Tây Bắc. Tôi cũng thích những cây có hoa như cây bò cạp nước rủ từng chùm màu vàng mơ thỉnh thoảng bắt gặp ở Sài Gòn. Nhưng cây ấy thì lớn quá. Chồng tôi thích trồng cây ăn trái, như mận chẳng hạn để nhớ thời thơ ấu leo trèo. Nhưng mận là giống rễ ngang nên sẽ làm hư sân nhà.

Hay là trồng dây leo, cho nó leo từ cổng lên tường. Nhưng đừng là Sử quân tử, vì nó gợi nhớ thời đi học, căn gác trọ tôi ở nằm giáp một bờ tường phủ đầy sử quân tử. Đêm đêm, những ngọn gió lùa vào cửa sổ mang theo một mùi thơm nồng nàn đến nhức đầu khiến tôi không thể nào học được. Tôi thích loài hồng leo thường mọc bên tường nhà, trổ hoa thành từng chùm dịu dàng ở Đà Lạt. Nhưng thời tiết Sài Gòn rất khó trồng. Hay là hoa Đăng tiêu, vì đó là loài ưa nắng, không kén đất, dễ trồng. Những chùm hoa màu cam sẽ làm sáng rực một góc sân…

Dù rằng nhà vẫn còn chưa xây, và dù đó chỉ là những khoảng xanh nhỏ xíu thôi, nhưng thật nhiều toan tính, nhiều đo đếm cân đong. Mắt chồng tôi sáng ngời khi nói về những mảng tường mà anh sẽ được trang trí, còn giọng tôi thì vô cùng sôi nổi khi nói về những loài cây và dây leo. Hạnh phúc như thể chúng tôi sẽ xây dựng, không phải một ngôi nhà phố hẹp, mà là …một mảnh nhỏ của thiên đường.
frontyard1
Đã sống qua những năm tháng …không vườn, tôi chợt hiểu vì sao trong hình dung của con người từ thuở ban sơ cho đến tận bây giờ, thiên đường chưa bao giờ thiếu cỏ cây. Tôi cũng đồng cảm với Jared Diamond hơn khi ông phải viết những bộ sách đồ sộ như “Sụp đổ” hay “Súng, vi trùng và thép” với ngồn ngộn cứ liệu và bằng chứng chỉ để thuyết minh một điều đơn giản: sự tàn lụi hay phát triển rực rỡ của các nền văn minh phụ thuộc rất nhiều vào môi trường tự nhiên, và để kêu gọi xã hội loài người nhớ một điều tưởng chừng phải là bản năng: hãy bảo vệ thiên nhiên trong quá trình phát triển, hãy bảo vệ nguồn sinh khí của trái đất này.

Đôi khi, chúng ta nghĩ về con người như một hệ vật thứ ba, ngoài thực vật và động vật. Chúng ta quên mất mình– đối với tự nhiên thì cũng giống như các loài động vật khác – cần cây cối như một sự cộng sinh. Chúng ta quên rằng mình là những Achilles – con của Đất – từ trong vô thức, vươn đến bầu trời với tất cả khát vọng, nhưng đồng thời, khi rời khỏi mặt đất cũng là lúc chúng ta cũng trở nên nhiều hoang mang và dễ tổn thương hơn.

Danh ngôn có câu “Trái tim con người khi rời xa thiên nhiên sẽ trở nên khô cứng”. Vì vậy, tôi sẽ trồng cây trong vườn nhà mình. Không thể là liễu rủ thì sẽ là bông giấy. Không thể là cây lớn thì sẽ là cây nhỏ. Không thể là cây nhỏ thì sẽ là dây leo. Không thể là dây leo thì sẽ là cỏ dại. Bởi vì nhà thơ Walt Whitman đã tin rằng “một lá cỏ cũng không nhỏ nhoi hơn hành trình của những vì sao”. Và còn bởi, một ngôi nhà nhỏ nuôi dưỡng trong nó một gia đình hạnh phúc, đó cũng là một mảnh thiên đường.

Mà thiên đường thì không thể thiếu cỏ cây.

Đông vy
———————————————-

*trích truyện Hẹn Mùa Hoa Cúc của Ueda Akinari (Nguyễn Nam Trân dịch).

(Tạp chí Nội thất – số 38, ra ngày 15.05.07)

Thương trái mãng cầu bở

Vườn nhà ngoại có hai cây mãng cầu, một mãng cầu bở, một mãng cầu dai. Bà ngoại nói xưa nay chẳng ai thích mãng cầu bở, vì nó ít cơm, nhiều hạt. Chỉ trừ ông ngoại. Mà lạ, ông ngoại bị rụng gần hết răng từ hồi mới 40 tuổi, đến khi già chỉ còn hai hàm lợi, miệng móm mém, nhưng cứ khăng khăng đòi ăn mãng cầu bở. Cây mãng cầu bở mọc ngay bên cửa sổ. Mỗi mùa trái chín, bà lại ngồi chăm chú, cần mẫn bẻ quả mãng cầu làm đôi, dùng thìa xắn xắn, lấy từng cái hạt đen nhánh, để riêng phần cơm ít ỏi vào một cái đĩa nhỏ cho ông ăn.
CayMangCau
Ông mất đi rồi, chẳng còn ai ăn mãng cầu bở. Cả đến chim và dơi cũng không thèm ăn. Trong khi cây mãng cầu dai ở góc vườn thật đông khách viếng thăm, bà ngoại, cậu, rồi mẹ và các anh chị tôi thay phiên nhau ra thăm suốt ngày, để thấy có trái nào vừa già, gai vừa nở to là hái mang ngay vào nhà vì sợ để chín cây thì chim ăn mất, không đến lượt người. Bên cửa sổ, cây mãng cầu bở mọc chơ vơ, lá cứ nhỏ dần, cành cứ khẳng khiu dần, trái chín rồi rụng xuống. Họa hoằn lắm, mới có một buổi sáng thấy vỏ và hạt đen rơi đầy trên mặt đất, phía trên cao treo lủng lẳng một quả mãng cầu đã bị chim mổ gần một nửa. Cậu nói : “Chặt quách nó đi cho rồi”. Tôi nghe xót lòng, liền thì thầm với ngoại, “Đừng chặt, ngoại à. Con thích ăn mãng cầu bở thôi!” Bà ngoại cười, lắc đầu: “Cha mi , răng giống ông mi rứa, thích chi mà lạ lùng. Thôi, bà nỏ chặt mô!”

Từ đó tôi cần mẫn hết mấy mùa với mãng cầu bở, vừa ăn vừa nghịch hạt trong miệng, phải tập cả tính kiên nhẫn, giống như ăn hạt dưa mà không dùng tay, lừa lừa, cắn cắn, đôi khi vẫn không tách được lớp cơm mãng cầu mỏng tang bọc quanh cái hạt đen nhánh. Tôi nhớ lời con chồn trong Hoàng tử bé (Saint Exupéry): “Khi đã thuần dưỡng nó rồi, thì nó thuộc về ta, và ta phải có trách nhiệm với nó”. Cứ mỗi lần cầm trái mãng cầu dai ngon lành tôi lại thấy có lỗi với cây mãng cầu bở mọc buồn bên cửa sổ. Cây cũng như người, ra hoa kết trái có cầu chi đâu, chỉ mong dâng cho đời chút gì thơm thảo, cũng đâu phải tự nó muốn mình sinh ra làm giống mãng cầu ít cơm nhiều hạt, rời rạc lỏng bỏng như vậy, chẳng làm hại ai sao lại hất hủi nó đi. Chắc chắn trời phải có gì bất công, giống như sinh người xấu lại sinh người đẹp, sinh người thông minh lại sinh người ngờ nghệch, sinh người tài năng lại sinh người kém trí… Giống như một câu chuyện nào đó mà ông ngoại từng kể cho tôi nghe, trong đó nói rằng vạn đồng tiền bố thí của người giàu cũng không bằng mấy đồng lẻ chắt chiu chia sẻ của một bà goá. Tôi nghĩ có lẽ xưa ông cũng nghĩ vậy, khi ăn mãng cầu bở, vì thương.
mangcau
Tháng tư, đi trên đường Sài Gòn thấy người ta đẩy từng xe chất ngất ngưỡng những quả mãng cầu to đi bán. Tôi dừng lại hỏi theo thói quen: “Mãng cầu dai hay bở hả chị?”. Người bán hàng giở nón lên, quệt tay lau mồ hôi trán, nhìn tôi mà cười khoan dung như với một kẻ ngờ nghệch : “Làm gì có bở. Toàn mãng cầu dai!”. Cũng dễ hiểu thôi, cái giống mãng cầu bở ăn bắt mỏi miệng. Theo quan điểm “ưu sinh” làm sao không tiệt chủng cho được. Tôi cầm lên một trái mãng cầu, mềm mà chắc tay, bóp vào không thấy rời từng hạt, vỏ mỏng tươi, gai nở to. Chắc chắn là mãng cầu dai rồi. Tự nhiên thấy buồn, tự nhiên thấy nhớ cây mãng cầu bở của ông ngoại. Tuổi nhỏ tôi với tấm lòng trong trẻo cố ngồi ăn cho hết mấy mùa mãng cầu bở, để đến lớn, lại theo thuyết “ưu sinh” của người lớn chọn mãng cầu dai để ăn.

Tôi gọi điện thoại về nhà. Hỏi mẹ cây mãng cầu ra sao. Mẹ nói , nhớ con nên không chặt. Nhớ ngày xưa ngày nào con cũng leo lên đó. Tới mùa thì ngày nào cũng ra thăm, gặp trái chín thì rút ngay cùi vứt đi, rồi vắt vẻo ăn ngay trên cành, cả chim cũng không giành được…Bây giờ nó không ra trái nữa, nếu có thì chỉ còi cọc, chẳng ai buồn ăn. Ba cứ tỉa bớt cành, chỉ còn gốc và những cành nhỏ, nhưng được cái mỗi mùa mưa, nấm mèo mọc nhiều lắm. Cũng lạ, những cây khác chẳng thấy mọc nấm mèo, chỉ có nó, sau mỗi ngày mưa, sáng ra nấm mèo nở đầy gốc. Tôi cười, ứa nước mắt. Ôi cây mãng cầu của tôi, cảm ơn mày vẫn cố sống, cám ơn những hoa quả từ giọt nhựa chắt chiu mày vẫn cố mang đến cho cuộc đời này, dù phải vay mượn từ những cơn mưa.

Đông Vy

Daffodils – Thủy Tiên

I don’t know exactly how and when my liking for poetry began. The seed of my love for Wordsworth and Byron must have been sowed during my collegiate days. wordsworth

“The Daffodils” is one of the best poems that Ms Hue has introduced to us. Three years passed, but the poem has stayed in my mind since the morning she recited it in our English Literature class. It has made a great impression upon me. How regretful it would be if this poem were not recommended to to the poetry buff.

“The Daffodils” known as “I Wandered Lonely As A Cloud” is a famous poem written in 1804 by William Wordsworth. Daffodils is one of the most popular poems of the Romantic Age, unfolding the poet’s excitement, love and praise for a field blossoming with daffodils. It was inspired by an April 15, 1802 event, in which Wordsworth and his sister, Dorothy, came across a “long belt” of daffodils on a walk near Ullswater Lake in England. This poem was first published in 1807, and a revised version was released in 1815.

I wander’d lonely as a cloud
That floats on high o’er vales and hills
When all at once I saw a crowd,
A host of golden daffodils,
Beside the lake, beneath the trees
Fluttering and dancing in the breeze.

Daffodils

Continuous as the stars that shine
And twinkle on the milky way,
They stretched in never-ending line
Along the margin of a bay:
Ten thousand saw I at a glance
Tossing their heads in sprightly dance.

The waves beside them danced, but they
Out-did the sparkling waves in glee:
A poet could not but be gay
In such a jocund company!
I gazed – and gazed – but little thought
What wealth the show to me had brought:

For oft, when on my couch I lie
In vacant or in pensive mood,
They flash upon that inward eye
Which is the bliss of solitude!
And then my heart with pleasure fills,
And dances with the daffodils.

Just reading the first verses, we can feel the time and space William wrote The Daffodils. The inspiration for this poem may have been drawn from a walk he took with his sister Dorothy around Lake Ullswater.

“I wander’d lonely as a cloud
That floats on high o’er vales and hills …
… Beside the lake, beneath the trees”

The poet was wandering in the forest and enjoying the fascinating nature around him, when suddenly he saw a crowd of golden daffodils by the lakeside. The daffodils appeared so beautifully that he was compelled to gaze at these flowers playing with pleasure in the wind.

His sister Dorothy later wrote in her journal as a reference to this walk: “I never saw daffodils so beautiful they grew among the mossy stones about and about them, some rested their heads upon these stones as on a pillow for weariness and the rest tossed and reeled and danced and seemed as if they verily laughed with the wind that blew upon them over the lake, they looked so gay ever dancing ever changing…”

How glorious and plentiful these daffodils were! Maybe this was also the first time he had come across such an immense field of daffodils along the shore. It was impossible for us to count them, but the author could still feel how many flowers were stretching as far as the eye can see:
daffodils 2
“Ten thousand saw I at a glance”… (Hyperbole)
“They stretched in never-ending line

Along the margin of a bay…
The figures of simile and metaphor are also subtly used and it is not very hard for us to find them in the poem. The golden daffodils were compared to the stars shining and twinkling on the galaxy; and enjoying themselves in a happy dance.

“Continuous as the stars that shine
And twinkle on the milky way…” (Simile)
Though the lake’s sparkling waves danced beautifully, the daffodils seemed to do much better than them, in its pleasure.
“The waves beside them danced, but they
Out-did the sparkling waves in glee”… (Comparison/Personification)

The poet felt happy and pleasant in the meanwhile to see golden flowers smiling in the sunshine. He put his loneliness aside and mingled with the beautiful sight. To him, the daffodil’s charm was a great gift and no fortune was as wonderful as the beauty granted by the God:
“I gazed – and gazed – but little thought
What wealth the show to me had brought”… (Metaphor) Daffodils
In the description of the daffodils, William used quite a lot of literary devices and it was these figures that helped us understand more about the vivid picture he draw and the way he connected with the nature.

“I wander’d lonely as a cloud
That floats on high o’er vales and hills…” (Simile)
“Fluttering and dancing in the breeze…” (Personification)
“Tossing their heads in sprightly dance…” (Personification)

“The waves beside them danced, but they
Out-did the sparkling waves in glee…” (Comparison/Personification)

Through characterized daffodils, we could find that nature had its own soul. William lifted him out of his soul and placed him in a higher state in which the soul of nature and the soul of man were united into a single harmony. Apparently, he felt dazed with so many daffodils around him and there was no limitation between his vision and the long belt of golden flowers.
Many years later, the daffodil’s beauty still haunted William. Whether he stayed in empty or thoughtful mood, the images of daffodils came to mind and flashed upon his inner eyes.
“They flash upon that inward eye
Which is the bliss of solitude!” (Oxymoron)
The memory of the daffodils was etched in the author’s mind and soul to be cherished forever. When he was feeling lonely, dull or depressed, he thought of the daffodils and cheered up. These flowers seemed to be emerging before him, far and wide. Then his loneliness and sorrow seemed to vanish; and he desired to dance with the daffodils.
“And then my heart with pleasure fills,
And dances with the daffodils.”

The full impact of the daffodil’s beauty (symbolizing the beauty of nature) did not strike him at the moment of seeing them, when he stared blankly at them but much later when he sat alone, sad and lonely and remembered them. Thanks to the closing of the last stanza, we can get more reason why William wrote the poem. His impression at the daffodils would never fade in his mind, and it was the amazing motivation for him.
“For oft, when on my couch I lie
In vacant or in pensive mood,
They flash upon that inward eye…”

We can point out that William’s state was changing in a slight way. He was not alone any longer, yet he probably thought that he would be stronger if he made a contrast between a lonely traveler and happy daffodils. This simple but effective way seems to take hold on us, and then each time we read this poem, we can see the harmonious beauty of the poet and the long belt of golden daffodils and enjoy their brightness.
Daffodils3

This poem helps us get into our head how much love and admiration William gives to Nature. He would like to call us to come back to the nature and enjoy it. Moreover, at any rate William could make us realize that what we feel at the beauty of golden daffodils is the way they speak to us, via their own soul.
As for me, the Daffodils has touched my soul very deeply

MỘT VÀI CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ “HOA THỦY TIÊN”

Tôi không biết đích xác như thế nào và khi nào tôi bắt đầu đem lòng yêu thích thơ ca. Chắc hẳn những hat giống cho tình yêu Worsdsworth và Byron… đã được gieo trong những ngày của đời sinh viên của tôi.

“Hoa Thủy Tiên” là một trong những bài thơ hay nhất mà cô Huệ đã giới thiệu cho chúng tôi. Ba năm đã trôi qua, và bài thơ vẫn còn ở trong tâm trí tôi kể từ buổi sáng mà cô đọc cho chúng tôi trong giờ Văn học Anh. Bài thơ để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Thật đáng tiếc nếu không giới thiệu bài thơ này đến bạn đọc yêu thơ ca.

“Hoa Thuỷ Tiên” còn được biết đến với tên khác “Tôi Phiêu Du Như Áng Mây Trôi” là một bài thơ nổi tiếng được William Wordsworth sáng tác năm 1804. Đây là một trong những bài được yêu thích nhất của thời kỳ văn học lãng mạn, thể hiện hứng thú, tình yêu, và chiêm ngưỡng của nhà thơ trước một cánh đồng rực rỡ Thủy tiên vàng. Bài thơ được lấy cảm hứng từ một sự kiện xảy ra ngày 15 tháng Tư năm 1802, khi Wordsworth cùng chị gái mình, Dorothy, tình cờ nhìn thấy một thảm hoa Thủy tiên nhân một cuộc dạo chơi gần hồ Ullswater. Bài thơ được giới thiệu lần đầu tiên năm 1807, và được tái bản năm 1815.
ulls

Như đám mây phiêu diêu đơn độc
Trôi bồng bềnh trên thung lũng, núi đồi
Ồ phía dưới trải dài khắp muôn nơi
Hoa Thuỷ tiên nở vàng rực rỡ
Bên bờ hồ, và bên dưới tán cây
Cùng thổi sáo, khiêu vũ với gió nhẹ

Và cứ thế như sao trời toả sáng
Lấp lánh trên dòng sông Ngân bạt ngàn
Hoa trải dài xa tít tắp muôn nơi
Và bất chợt, bên bờ hồ tôi thấy
Mười nghìn hoa Thuỷ tiên vàng khoe sắc
Uốn mình theo điệu vũ luân sống động

Bên Thuỷ tiên, từng con sóng nhảy múa
Thủy tiên càng toả sáng trong hân hoan
Một bài thơ không thể tả hết lời
Nhưng niềm vui bên bạn bè – có thể
Tôi ngắm nhìn và rồi chợt nghĩ đến
Điều tuyệt vời bên Thủy tiên đem lại

Và mỗi tối khi nằm trên trường kỷ
Khi lơ đãng hay lúc trầm tư
Thuỷ tiên lại hiện về trong tâm trí
Đó chính là niềm vui trong cô đơn
Và khi ấy tim tôi tràn cảm xúc
Nhảy múa cùng những đoá Thuỷ tiên xinh.

Đọc những khổ thơ đầu tiên, ta có thể cảm nhận được khoảng thời gian và không gian William viết bài thơ “Hoa Thủy Tiên” này. Cảm hứng bài thơ có thể từ một lần dạo chơi cùng người chị gái Dorothy bên hồ Ullswater.
“Như đám mây phiêu diêu trong đơn độc
Trôi bồng bềnh trên thung lũng, núi đồi….
…..Bên bờ hồ, phía dưới những tán cây”
Daffodils.5jpeg

Khi đang thơ thẩn trong rừng và ngắm nhìn cảnh đẹp tuyệt quanh mình, chợt người thi sĩ nhìn thấy một thảm hoa Thuỷ tiên vàng cạnh hồ nước. Hoa Thuỷ tiên đẹp đến nỗi nhà thơ phải đứng lại ngắm nhìn nhứng đóa hoa này hòa mình trong gió.

Chị gái William, Dorothy, sau này đã ghi lại trong nhật ký như một gợi nhớ rằng: “Tôi chưa từng thấy những đoá hoa Thuỷ tiên nào đẹp đến vậy. Chúng mọc xen kẽ nhau giữa những tảng đá phủ đầy rêu, một vài bông hoa ngả cánh lên những phiến đá ấy như thể đang tựa đầu vào gối để xua đi sự mệt mỏi, những đóa khác thì tung mình uốn lượn, nhảy múa như thể chúng cười đùa với những cơn gió thoảng trên mặt hồ, những bông hoa trông thật vui vẻ, cứ mãi nhảy múa, cứ mãi rập rờn…”

Những bông Thuỷ tiên ấy thật là rực rỡ và nhiều biết bao! Cũng có thể đây là lần đầu tiên nhà thơ bắt gặp một cánh đồng hoa Thuỷ tiên rộng thênh thang, trải dài theo bờ hồ đến vậy. Thật không thể đếm nổi bao nhiêu bông hoa, nhưng tác giả vẫn cảm nhận được thảm hoa ấy trải dài bất tận phía chân trời xa.

“Và bất chợt, bên bờ hồ tôi thấy
Mười nghìn hoa Thuỷ tiên vàng khoe sắc (Cường điệu hoá)
Uốn mình theo điệu vũ luân sống động”

Phép so sánh và ẩn dụ cũng được tác giả sử dụng thật tinh tế, và chẳng khó cho ta tìm thấy trong bài thơ này. Những bông Thuỷ tiên vàng được ví như những vì sao toả sáng lấp lánh trên dải ngân hà, đắm mình trong vũ điệu hạnh phúc.

” Và cứ thế như sao trời toả sáng
Lấp lánh trên dòng sông Ngân bạt ngàn” (phép so sánh)

Dẫu những con sóng lóng lánh/bạc đầu của mặt hồ khiêu vũ đã đẹp rồi, nhưng dường như hoa Thuỷ tiên còn tuyệt hơn thế nữa, trong niềm hân hoan của mình,
“Bên Thuỷ tiên, từng con sóng nhảy múa
Thủy tiên càng toả sáng trong hân hoan” (sự so sánh và nhân hoá)

Thi nhân cũng cảm thấy thật hạnh phúc và dễ chịu khi ngắm nhìn những đóa thuỷ tiên vàng hàm tiếu dưới ánh nắng mai, và gạt nỗi trống trải sang một bên để hoà mình vào cảnh đẹp. Với nhà thơ, vẻ đẹp của hoa Thuỷ tiên là một món quà tuyệt vời và không có tài sản nào tuyệt vời bằng món quà mà Chúa đã ban tặng cho:

Tôi ngắm nhìn và rồi chợt nghĩ đến
Điều tuyệt vời bên Thủy tiên đem lại

Khi miêu tả những bông hoa thuỷ tiên, William đã sử dụng rất nhiều các biện pháp tu từ và chính những biện pháp này giúp chúng giúp ta hiểu sâu hơn về bức tranh rực rỡ mà tác giả phác họa cũng như cách nhà thơ giao tiếp/hòa mình với thiên nhiên

“Như đám mây phiêu diêu trong đơn độc
Trôi bồng bềnh trên thung lũng, núi đồi” (So sánh)
Cùng thổi sáo, khiêu vũ với gió nhẹ (nhân hoá)
“Bên Thuỷ tiên, từng con sóng nhảy múa
Thủy tiên càng toả sáng trong hân hoan” (so sánh/nhân hoá)

Qua những bông hoa Thuỷ tiên được nhân cách hóa, ta có thể nhận ra rằng thiên nhiên mang tâm hồn riêng của mình. William đã thoát ra khỏi tâm hồn và đặt mình vào một trạng thái cao hơn, nơi mà ở đó hồn thiên nhiên và hồn người như được hòa quyện vào nhau. Dường như là, nhà thơ cảm thấy mê hồn bởi quá nhiều bông hoa Thuỷ tiên quanh mình và không có giới hạn nào giữa tầm nhìn của nhà thơ với thảm hoa vàng rực rỡ đấy.

Nhiều năm về sau, vẻ đẹp của hoa Thuỷ tiên vẫn ám ảnh William. Dẫu cho có cảm thấy trống vắng hay trầm tư, nhưng hình ảnh của hoa Thuỷ tiên vẫn hiện lên trong tâm trí và loé sáng trong con mắt tâm tưởng nhà thơ.
Cô đơn phiền muộn dường như tan biến, rồi nhà thơ trở nên khao khát múôn được khiêu vũ cùng với Thuỷ tiên vàng
Thuỷ tiên lại hiện về trong tâm trí
Đó chính là niềm vui trong cô đơn!” (phép nghịch hợp)

Daffodils.6, pg

Kí ức về hoa thuỷ tiên đã khắc sâu trong tâm trí và tâm hồn nhà thơ và mãi mãi được ấp ủ. Khi cảm thấy cô đơn, buồn bã hay tuyệt vọng/chán chường, tác giả lại nghĩ đến hoa thuỷ tiên và cảm thấy vui trở lại. Những bông hoa ấy dường như hiện lên trước mắt ông, rộng mênh mông. Nỗi cô đơn và phiền muộn dường như tan biến, và nhà thơ lại muốn nhảy múa cùng những đóa thủy tiên.
“Và khi ấy tim tôi tràn cảm xúc
Nhảy múa cùng những đoá thuỷ tiên xinh.”
Tác động trọn vẹn của vẻ đẹp của hoa Thuỷ tiên (tượng trưng cho vẻ đẹp của thiên nhiên) thực ra không gây ấn tượng với thi sĩ ngay khoảnh khắc nhìn thấy chúng, khi ông ngắm nhìn sững sờ, mà là những lúc tác giả ngồi một mình, cô đơn và nhớ về hoa Thủy tiên. Nhờ khổ thơ cuối, ta có thể hiểu lý do William viết nên bài thơ này. Ấn tượng về hoa Thủy tiên sẽ không phai mờ trong tâm trí, và đấy cũng là một thôi thúc tuyệt vời đối với nhà thơ.

Và mỗi tối khi nằm trên trường kỷ
Khi lơ đãng hay lúc trầm tư
Thuỷ tiên lại hiện về trong tâm trí

Có thể thấy rằng tâm trạng của William đang thay đổi một cách nhẹ nhàng. Dù không còn thấy cô đơn nữa, nhưng nhà thơ vẫn nghĩ rằng mình sẽ mạnh mẽ hơn nếu tạo ra sự tương phản giữa người lữ hành cô đơn với những đoá hoa thuỷ tiên hạnh phúc. Biện pháp đơn giản nhưng đầy hiệu quả này dường như có tác động lớn đến chúng ta, và mỗi khi đọc bài thơ, ta có thể cảm nhận vẻ đẹp hài hoà của nhà thơ và thảm thuỷ tiên vàng; và tận hưởng vẻ rực rỡ đấy.
Bài thơ giúp ta nhận ra tình yêu và lòng ngưỡng mộ mà William dành cho thiên nhiên phong phú và sâu đậm biếtdường nào. Nhà thơ kêu gọi ta hãy trở về và tận hưởng thiên nhiên. Hơn nữa, ở một mức độ nào đấy, William giúp ta nhận thấy rằng những gì chúng ta cảm nhận về vẻ đẹp của những bông hoa thuỷ tiên vàng chính là cách những bông hoa nói chuyện với chúng ta, bằng chính tâm hồn mình.

Với riêng tôi, bài thơ đã chạm vào cõi sâu thẳm trong hồn tôi

Viên Hy

Sao Chẳng Về Đồng Cỏ Ơi

Ngày xưa có cô Tấm hiền lành.
tamtanthoi
Tấm ngoi lên từ chiếc ao làng, đầu tóc áo quần lấm lem buồn đất, quà tặng cho Tấm là chị Bống tâm tình.
Ừ thì ta tắm ao ta
Ừ thì trong đục ao nhà vui lắm Tấm ơi!
Đồng quê sẵn rồi con rô con rạch, đồng quê sẵn rồi rau má rau sam. Tấm ngồi hóng mát bờ tre, Tấm đi bờ ruộng Tấm về bờ kênh, gió nồm ru Tấm ngủ quên…
Hây hây má thắm đồng tiền tặng anh, anh cho Tấm giấc mộng lành.

Rồi làng mở hội. Rồi Tấm đua chen. Rồi đời phù du cám dỗ, rồi Tấm giữ mộng phù hoa.
Tấm đánh rơi giày đôi chân khập khiễng. Rồi nòi con ghẻ đánh ghen. Té lên té xuống mệt nhoài. Tấm chết giữa ngày, chết giữa chiêm bao. Anh thương Tấm lắm, anh giận Tấm lắm!
Nhà quê mặc áo nhà quê, mang chi áo thắm xun xoe với đời, sao chẳng trở về đồng cỏ Tấm ơi!

Ngày xưa có cô Tấm hiền lành.
Tấm bước ra từ quả thị. Thơm!
Quà tặng cho Tấm là bát nước bà hàng phúc đức. quảthị
Bà có nồi cơm tám. Bà có cơi trầu đầy. Lòng bà hạt gạo làng ta. Lòng bà lòng trầu thắm đỏ. Bà kể chuyện cổ tích Tấm nghe. Bà vắt sữa ca dao nuôi Tấm lớn .
Bà mừng tóc Tấm dài mượt mà hương bưởi. Bà vui răng Tấm nhưng nhức hạt na.
Tấm chăm tưới cải trồng cà, tay chai da sạm mới là Tấm ngoan.

Rồi vướng bùa yêu. Rồi võng tía lọng vàng.
Tấm ngồi chỗ cao, Tấm ngồi chỗ sang.
Bà mừng cô Tấm trổ hoa, bà lo cô Tấm bôn ba xứ người, bà kêu ơi Tấm về thôi!

Mà Tấm không về.
Chuyện xưa cô Tấm một ngày rủ áo lên ngôi hoàng hậu.
Sao chẳng giữ yêu thương, sao chỉ có hận thù.
Tấm giết Cám rồi. Cái ác Cám trả nợ đời. Nợ đời cái ác còn nơi cô Tấm.
Sao chỉ vừa thay bậc đổi ngôi đã vội bạc lòng đến thế.
Bà hoàng soi gương.
Gương kia ngự ở trên tường, nữ lưu ai độc ví dường như ta.
Bà hoàng sưởi nắng ngả chiếc bóng đen. Bà hoàng hóng mát ao sen, ngả chiếc bóng hồng diêm dúa.
tấm cám

Tấm bỏ Tấm rồi. Tấm đem cái ác Tấm trả nợ đời. Cái Tấm – Bà hoàng sinh đôi khác mặt.
Anh thương Tấm lắm, anh giận Tấm lắm, thề chẳng gặp Tấm nữa đâu!
Anh về nhà quê qua chiếc ao làng, ao làng rưng rưng.
Anh về nhà quê qua lối bờ tre, bờ tre thút thít.
Anh về nhà quê anh ngắm bóng trăng, bóng trăng mây che.

Anh về nhà quê vục mặt vào rượu, rượu đắng.
Anh về nhà quê anh hát câu ca, thơ buồn:
Đói từ bờ rơm gốc rạ
Mẹ đâu hay
Chắt chiu gửi ác cho đời.
Sao chẳng trở về đồng cỏ Tấm ơi!

Chuyện xưa cô Tấm nhắc người, yêu thương nghìn lần chưa đủ, cái oán uất kết một lần cái oán khó tan.
Tấm nhớ giữ mình lòng lành như nước, lắng đục thành trong.
Tấm gắng giữ mình hồn thơm cỏ hoa, đẹp đời một chốc.
Mùa hè Tấm về giỗ bà, anh còn Tấm hiếu thảo.
Mùa xuân Tấm về thăm họ hàng, anh còn Tấm trong veo.
Sự người chín bỏ làm mười, đừng giận đừng hờn.
Mà Tấm chưa về. Anh thương Tấm lắm, anh giận Tấm lắm!
hoilang

Chuyện xưa cô Tấm một lần bỏ quê trẩy hội. Anh lo cho Tấm giữa đời phù du.
Anh ngồi anh ru:
Ru hời ru hỡi là ru
Tấm đi có hứa thiên thu Tấm về?
Tấm mau trở về đồng cỏ Tấm

Nguyển Tấn Ái

Phạm Thiên Thư Của Tôi

Cha mẹ chỉ cho tôi yêu một lần.
Trời đất chỉ se duyên cho tôi một lần.
Ủy ban cũng chỉ cấp cho một tờ đăng kí kết hôn.
Bằng chẳng thế, bằng nhiều lần, hẳn tôi chẳng còn, hoặc chẳng chịu là người của hôn nhân nữa.
Có thể là hoang tàn. Có thể là vô vị. Cũng có thể vì chẳng còn đúng mùi vị tình yêu nữa.PhamThienThu

Tình yêu của tôi với thơ Phạm Thiên Thư cũng vậy.
Ngày xưa học trò, những trang thơ nằm lòng chỉ có đàn kiến, quả dừa, con cua, hạt gạo…được chế ra từ một thần đồng thơ.
Ngày xưa học trò, những trang thơ nằm lòng của tôi nghênh ngang đao kiếm, lại vang lừng đến hai mươi phát đại bác.
Tôi đã được rèn giũa để sẵn thành một anh hùng.
Và tự nguyện lắm.

Rồi một ngày, năm lớp tám, một cô giáo của tôi ôm đàn gõ nhịp:

Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ…

Điệu valse và giọng cô mênh mang cõi nhớ mang những bước chân se sẽ của trang thơ tình vào trong tôi từ đó.

Cô giáo thị thành ngày ấy chắc tiếc chút tuổi học trò, chắc luyến chút tình kín dấu mà tâm tư đầu độc đứa học trò miền quê bằng Cung Tiến, bằng Lê Hựu Hà, bằng Phạm Duy… bằng Phạm Thiên Thư, bằng Nguyễn Tất Nhiên, bằng Hoàng Trúc Ly, bằng Nguyễn Nho Sa Mạc nữa. ôm dan

Và bây giờ tôi biết cảm ơn cô.

Giáo án của cô ngay hàng thẳng nếp. Này là Tố Hữu với “ củ sắn lùi” và cánh đồng hợp tác dập dìu mùi no ấm.

Giáo án cô còn những trang thơm hương, thằng nhỏ tò mò. Này trái táo thơm, này xin làm cây thánh giá, này môi thâm khô từ thuở định hôn người

Giờ thì thơ ca nhiều hàng xịn. Thời đại mới cho ta đôi cánh. Tôi thỉnh thoảng lại mở trang vở cũ nhấm nháp thứ “hàng hiếm”, “hàng độc” quà tặng ngày xưa.

Này là Ngày xưa Hoàng thị. Cái cô Ngọ đời thường đã ý tứ dấu tên để chỉ còn cái họ như lời dẫn vào cõi động hoa vàng.

Nhịp thơ như những bước chân học trò se sẽ, nhẹ khẽ như đếm từng bước một, như sợ mưa gió cõi trần, như sợ chạm ngày biển động

Cuối đường mây đỏ
Anh nhìn theo Ngọ
Dáng lau lách buồn…

Này là Guốc Tía:

Con đường hoàng hoa
Em đi hài lục
Con đường bạch cúc
Em đi hài hồng
Con đường sầu đông
Em đi guốc tía

Khởi từ mạch kể, nhịp tĩnh đến lạ thường. Thằng này chỉ điểm, rình chộp từng bước chân.
Rồi cái tĩnh giả vờ qua đi, để cái thật lộ nhẹ, nhẹ thôi, mà lây lan mãi:

ngay xua 2
Anh ngồi thấm thía
Cội sầu trổ bông!

Đúng điệu, đúng tông, đúng cái bâng quơ chết người của…học trò!

Này là Em Học Bài:

Em ngồi học bài
Dưới cành mận trắng
Tóc xõa ngang vai
Mi trầm xa vắng
Trời hoe hoe nắng
Nhuốm dải mây sầu
Nhìn em thật lâu
Đố người vì đâu?

Như có sự gặp gỡ của vần và ý, tình cờ mà hữu duyên.
Khởi là vần gián cách:

………………………..bài
………………………..trắng
………………………….vai
………………………….vắng

Biểu đồ biểu diễn đôi mắt học trò trộm nhìn, xấu hổ, ngó lơ, mà chẳng đành, lại trộm.
Mà tình yêu và khói thuốc thì làm sao mà giấu được ( Duyên Anh bảo thế).Thì kệ, hết biết xấu, nhìn, cứ nhìn.
Vậy nên cái vần e lệ kia lại trơ tráo vần nhau liên tiếp:

………………………..vắng
………………………….nắng
………………………….sầu
………………………….lâu
………………………….đâu

Cái thơ thật duyên, thật đúng nết trẻ thơ.
Và tôi yêu cái duyên này lăm lắm.
Này là,
ngayxuahoangthi
Mà thôi. Tôi cảm ơn cô Tôn Thất Hoàng Linh trước khi bỏ trường về xuôi vui với thị thành đã kịp tặng lại cho tôi tập NGÀY XƯA HOÀNG THỊ chép tay. Và từ đó tôi mơ mộng làm thơ, bấp bênh ngoại đạo.

Sau này tôi lớn lên, học giả hơn (nghĩa là học chơi, không học thật) khi lăn lội vào trường đại học, giàu có hơn khi nhập vào thế giới mạng, gặp nhà thơ xưa, giờ là cụ Phạm, và mọi góc đời riêng đã hơ hớ quá rồi, lại tiếc hoài một Phạm xưa.
Và tôi biết là cái tình đầu.
Lại là cái tình ngày xưa Hoàng thị.

Nguyễn Tấn Ái

Vô hạn tình yêu

“Làm sao em có thể yêu anh hơn thế này nữa! Em không thể” Đó là lời thoại trong một bộ phim Hàn Quốc nào đó mà tôi đã quên mất tựa đề từ lâu. Nhưng tôi nhớ rất rõ cảm giác của mình khi nghe câu thoại này. Tôi đã tưởng đó là câu tỏ tình tuyệt nhất (của người khác dành cho người khác) mà tôi từng nghe!

Love Square -- Square Love
Love Square -- Square Love

“Không thể yêu anh nhiều hơn”, tôi chợt nhớ lại câu thoại đó khi vừa lật qua một trang sách (của cuốn sách nào thì bây giờ tôi cũng quên mất rồi) và bắt gặp một câu tương tự. “Không thể yêu anh nhiều hơn”, nghĩa là em chỉ có thể yêu đến thế thôi, bởi vì tình yêu của em dành cho anh lớn đến giới hạn tuyệt đối rồi, đến …lim rồi!

Nhưng, kỳ diệu thay tình yêu, sự thật không phải như vậy, không thể như vậy! Bạn không thể yêu ai và yêu cái gì đến mức tận cùng hạn độ!

Có lẽ sự thật này làm thất vọng nhiều người, những người có trái tim đa cảm. Bạn tin rằng (và muốn rằng) tình yêu mình dành cho người con gái này, chàng trai này là cùng đích, là sâu đậm tuyệt đối, là duy nhất, là vĩnh viễn.

Bạn tin rằng mình chỉ có thể yêu một người, hoặc hai người, hoặc ba bốn người… gì đó trong đời!

Nhưng, kỳ diệu thay, không phải vậy!

Circula Love
Circula Love

Khi tôi còn nhỏ, tôi đã viết trong nhật ký của mình, rằng tình yêu trong tôi là một hình vuông mà bốn góc của nó là ba, mẹ, và hai đứa em trai của tôi. Hình vuông có bốn góc, và chỉ cần bốn điểm để tạo thành. Tôi đã có rồi! Tôi không cần yêu thêm ai nữa, tôi không thể yêu thêm ai nữa trong đời…

Buồn cười phải không! Bởi vì sau đó tôi đã yêu một người hoàn toàn xa lạ. Yêu nhiều đến nỗi phải…kết hôn, rồi sinh con. Hình vuông của tôi hoá ra …đố bạn biết là hình gì!

Lúc đó tôi nghĩ rằng tình yêu trong tôi, trong bạn, và trong bất cứ ai trên cõi đời này …là một hình cầu. Đó mới là một hình hoàn hảo. Cần có …vô số điểm để tạo thành nó.

Những người mẹ khi sinh đứa con đầu lòng thường tưởng rằng mình đã đạt đến hạn độ. Đôi khi, họ thậm chí không dám sinh thêm đứa thứ hai vì sợ rằng mình phải san sẻ, phải yêu mỗi đứa ít đi…

Những người tan vỡ trái tim sau một cuộc tình sâu đậm thường nghĩ rằng mình không thể yêu ai hơn cô ấy hay anh ấy. Đôi khi, họ không dám mở lòng thêm lần nữa vì sợ rằng nó chỉ là thứ tình bù đắp nhạt nhẽo…

Nhưng, đó không phải là sự thật! Đừng tự đóng gói tình yêu của mình! (Ý nghĩ này khiến hình cầu của tôi hoá ra…đố bạn biết là hình gì?)

Bạn có thể sinh vài chục đứa con và vẫn yêu mỗi đứa nhiều như vậy. Bạn có thể trải qua nhiều cuộc tình mà không cuộc tình nào kém say đắm hơn. Và, đây là điều quan trọng, bạn có thể yêu một người càng ngày càng nhiều, khiến cho cái khoảnh khắc để bạn có thể nói “Không thể yêu anh nhiều hơn thế này nữa’…sẽ không bao giờ đến.

Big Bang
Big Bang

Hình cầu của tôi nổ tung, như một Big Bang, và hóa thành …vũ trụ. Ngạc nhiên chưa? Tình yêu hẳn có liên quan đến toán học và không gian, (và…mọi thứ khác mà bạn có thể nghĩ ra) vì giới hạn bao la của nó.

Đó là tất cả những thứ lan man mà tôi đã nghĩ chiều hôm qua, trong khi chạy xe từ hiệu sách Xuân Thu về nhà mình, giữa cơn mưa thất thường và dòng xe đông đúc của đường phố Sài Gòn. Vừa nghĩ đến đây thì về tới nhà.

Nhưng tôi cũng cố gắng kết một câu cho entry này đỡ lan man. Rằng nếu bạn khám phá tình yêu bằng cả trái tim, chắc chắn bạn sẽ còn ngạc nhiên về…năng lực yêu của chính mình!

Đông Vy

Old Town

Old Town

It may be said that Thanh Thi has been one of the best songs of the Bai Hat Viet program as yet. A title seems to remind us of far-away memories that flow along the time. The guy’s memories came to mind so beautifully, after being absent from his hometown for so long. A town of poor childhood and peddling wares gone with his mum’s steps on each close street was bound to him, in the current of time and space. hang rong

On his way back, the old images were still evident in his mind, the space seemed to stand still, the time seemed to stop, and his source of feelings seemed to be in pieces when he found out memories of the past…

Although it was the place that hid difficult and needy years, his town still retained nice, simple and sweet memories. Frosty mizzling nights, peddling wares on each old poor street, or a foggy town at sunrise. The town crouched when the winter whispered, cold and frosty; but he was still warm in the large and long pullover in which his mum had placed all her love. His town emerged in little but simple joys, such as the rice pot by the fire, or his mum’s expectation for his dad back from the far battlefield: for a day of reunion.

The town was the winter of coldness and remembrance, and the spring of glory and love. The images of the poor town gradually appeared in the guy away from home. Eyes with jubilation for his mum down from the late market with some small treats. Beautiful and peaceful childhood! Like the verses of a poem. Like the words of a song. Silently flowing in memory and softly chanting happy songs. The town was also the guy’s desire for a peaceful life with his relatives and family. Gentle dreams in the passing of the time.
hanoixua
The town was still there, how tender it was! Old streets were not only the names that reminded him of close people, but the places that filled vacancies in his heart. That was the lover in bygone days, out of sight but not out of mind! That was the flavor of young rice-flakes fragrance on his sister’ hands. The flavor still awaited for the guy to return…

I don’t know why I miss Hanoi to the full whenever hearing Thuy Chi sing Thanh Thi. Hanoi, the town in the heart of a person absent from home. A close and far-away town! Though my departure was not started yet, my town would have already expected my day of return. Return to look for a belt of memories fading into the years, for an affection left in every small alley, for my mum scurrying on the old roads to Mo Market and Lu Temple, and for my heart in remembrances that were left behind. Oh Hanoi, my town!

A foggy morning I returned…

Văn Quân

Nghe Thùy Chi hát Thành Thị ở đây

Nghe Hoàng Phương hát Thành Thị bằng tiếng Anh ở đây
.

Phố Thị Xưa ….

Có thể nói rằng “Thành Thị” là một trong những bài hát hay nhất chương trình Bài Hát Việt cho đến thời điểm này. Tên bài hát gợi lên trong ta một kí ức xa xôi đã phai nhạt theo thời gian. Những kỉ niệm của người con trai sau bao nhiêu năm xa cách phố thị giờ hiện về thật đẹp. Một thành thị của tuổi thơ nghèo với những gánh hàng rong theo từng bước chân mẹ trên những phố quen gắn bó với chàng trai đã theo dòng chảy của không gian và thời gian.Về lại phố xưa, những hình ảnh cũ vẫn luôn hiện lên trong tâm trí anh, không gian như tĩnh lặng, thời gian như ngừng trôi, và cảm xúc dâng trào trong anh dường như vỡ òa khi anh tìm về với kỷ niệm xa xưa…. em xưa-4

Dẫu nơi đó chôn giấu một thời khốn khó, thành thị của anh vẫn cất giữ những kí ức đẹp, đơn sơ và trìu mến. Những đêm mưa phùn gió bấc rét mướt, những gánh hàng rong theo mẹ qua từng phố nghèo hay phố thị chìm trong làn sương sớm mai. Thành thị nép mình khi mùa đông đến, xao xác lạnh buốt; nhưng vẫn thật ấm áp trong chiếc áo len rộng dài mà mẹ đã đan trọn yêu thương. Thành thị hiện lên trong niềm vui nhỏ bé giản dị là nồi cơm bên bếp hồng, hay nỗi ngóng trông của mẹ mong tiếng chân cha từ chiến trường xa trở về: cho ngày đoàn tụ, xum họp.

Thành thị là mùa đông giá rét da diết nỗi nhớ, và mùa xuân rực rỡ thắm thiết yêu thương. Hình ảnh phố thị nghèo dần hiện lên trong tâm hồn người con xa xứ. Là ánh mắt hân hoan trông ngóng mẹ tan chợ phố mang theo chút quà nho nhỏ. Thật đẹp đẽ và bình dị ấu thơ! Như vần thơ. Như khúc hát. Lặng lẽ chảy trong miền kí ức và nhẹ nhàng cất khúc hoan ca. Thành thị cũng là khát vọng của chàng trai ấy về một cuộc sống bình yên với những người thân và gia đình. Ước mơ an bình theo năm tháng .
Cốm

Thành thị vẫn ở đó, nghe sao thân thươngquá! Con phố xưa không chỉ là cái tên gợi lại những người thân thuộc, mà còn là nơi lấp đầy khoảng trống trong tim anh. Đó là người yêu dấu một thời dĩ vãng, tuy xa mặt nhưng ko cách lòng. Là hương cốm xông xênh, thơm nức bàn tay người em gái, hương cốm mong từng bước chân người trai trở về…

Không hiểu tại sao tôi lại nhớ Hà Nội nao lòng mỗi khi nghe Thuỳ Chi hát “Thành Thị”. Hà Nội, phố thị trong trái tim người tha hương. Một thành phố gần gũi mà xa xôi.Chưa đi xa , mà thành phố của tôi đã ngóng đợi ngày về. Trở về để tìm lại miền kí ức đã nhạt nhoà theo năm tháng, tìm lại niềm yêu thương gởi gắm trong từng ngõ vắng nhỏ, tìm lại dáng mẹ tất tã trên những con đường xưa đến chợ Mơ và đền Lừ, và tìm lại hồn mình trong nỗi nhớ không mang theo. Ôi Hà Nội, phố thị của tôi!

Tôi đã về trong một sớm mờ sương…

Viên Hy dịch
.

Lang Thang Chuyện Rượu

Chớ nhìn đến rượu khi nó đỏ hồng wine-glasses-love
Lúc nó chiếu sao trong li
Và tuôn chảy dễ dàng.
Rốt lại, nó cắn như rắn,
Và chít như rắn lục.
Sa- lô-môn ( Salomon), ông vua nổi tiếng thông minh của tuyển dân Y-sơ- ra- en, ( Israel) đã để lại lời khuyên như thế.

Ở phương diện tri thức chính thống, rượu bị lên án.
Với tri thức bình dân, rượu bị mắng mỏ:

Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa
Sang đâu đến kẻ say sưa tối ngày.

Song cũng trong giới bình dân đã từng có lời thách thức cũng rất nghênh ngang thi sĩ:

Còn trời, còn nước, còn non
Còn cô bán rượu, anh còn say sưa.

say

Mà chính thống thì xưa mấy khi anh hùng, tài tử, kì nữ, văn nhân mà lại không gá nghĩa với rượu.
Lọc riêng làng văn mà kể thì cũng đã bao giai thoại, giai phẩm về rượu đủ để nhâm nhi suốt một chiều.
Ngay giữa lâu đài Đường thi đạo mạo thì thi đề RƯỢU cũng đã khá giàu có.
Lí Bạch đại tửu gia uống rượu đề thơ ngợi Dương Qúi Phi, ngạo Cao lực sĩ, đã để lại “Tương Tiến Tửu”, “ Nguyệt Hạ Độc Chước”… Đỗ Phủ với “Túy Thì Ca”, Đỗ Mục với “ Khiển Hoài”, Vương Hàn với “Lương Châu Từ”…

Có lẽ phải kể đến Lưu Vũ Tích với “ Ấm Tửu Khán Mẫu Đơn”tuy ít người biết đến song cũng đủ nồng độ để chếnh choáng ngàn năm:

Kim nhật hoa tiền ẩm
Cam tâm túy sổ bôi
Đãn sầu hoa hữu ngữ
Bất vị lão nhân khai
ruou tho

(Hôm nay uống rượu bên hoa
Vui lòng ta say mấy chén
Chỉ e rằng hoa sẽ nói:
“ Không nở cho người già đâu đấy nhé”)

Xuân Diệu, theo chỗ tôi biết, trộm vía ông, là người sành ăn kém rượu, song lại có lời thơ như dịch tứ thơ say của người xưa:

Ta thấy em xinh khẽ lắc đầu
Bởi vì ta có được em đâu
Tay kia sẽ ấp nhiều tay khác
Môi ấy vì ai sẽ đậm màu.

Rượu Bau Da
Thơ hay, tiếc là thiếu men.
Làng thơ cổ điển Việt Nam cũng đọng lại vài danh tửu.
Hồ Xuân Hương, đáng mặt bà chúa với cái khí rượu đáng hổ mặt nam nhi lắm:

Bầu giốc giang sơn say chấp rượu.

Tú Xương nổi tiếng phong nguyệt tình hoài ấy thế mà cốt cách tửu thi chừng kém lắm. Cả túi thơ của vị tú tài ấy không có lấy một tứ rượu cho đáng mặt trượng phu.

Nguyễn Khuyến thâm sâu với rượu, thật đáng ngưỡng mộ.

Trăm chén hình tặng ảnh
Nghìn năm ta là ai ?

Thi nhân hiện đại phong Tản Đà làm thống soái của làng thi tửu, song vị đô đốc này có lẽ bất phùng thời nên cái khí vị kẻ say đã nhiều phần kém đi cốt cách, đã luộm thuộm đi nhiều:

Đất say đất cũng lăn quay
Trời say mặt cũng đỏ gay ai cười.

So với cái kiểu “ Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu”( say lăn chiến địa cười khà) của người xưa thì thật kém thế quá!
Và sau Tản Đà, có lẽ rượu với làng thơ đã có phần nhạt nhẽo, nhiều bị say ít biết say! Rượu rơi vào cái thế luông tuồng, cái thế hạ phong, không đáng kể.

Riêng có một người trụ được, tuy thuộc hàng “kẻ tân”, song đủ cái nội lực để góp mặt với “cựu trào”, ấy là Nguyễn Tuân, tác giả của “ Vang Bóng Một Thời”
Trước hết, ông Nguyễn là người biết rượu khi kể lại thú nhấm sang trọng của người xưa, truyện Hương cuội;
Chiều ba mươi tết, cụ cử, cụ tú, cụ kép cùng thưởng tiệc rượu Thạch lan hương, người bõ già kính cẩn chắp tay đứng sau lưng chủ, có vẽ cũng chừng thèm say lắm.
Rồi mỗi một chén rượu ngừng là một lời thơ trong trẻo cất lên, cứ thế cho tàn hết một buổi chiều.
rượu và sách
Người kể Hương Cuội cũng là người giỏi rượu và hay rượu. Vũ Bằng kể rằng Tuân quái khách có khi “ngưu ẩm”, cũng có khi khệnh khạng một mình, một chiều bên hồ Tây và một li Mai quế lộ.

Người viết bài này không thích kiểu say của Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, càng không thích kiểu rượu của Nguyên Hồng.
Và có lời bàn:
Rượu là thế, nhiều phần dở, nhiều phần phiền nhiễu, nhưng có lẽ không tại rượu mà tại người đời kém rượu. Không đủ nội lực thì đừng lạm dự, kẻo “tu tận hoan” rồi lại “tù tận mạng”

Rủi ro sao mình lại rơi đúng vào hàng kém rượu, đọc một đôi câu rượu hay mà tiếc khéo nòi rượu chính thống rồi đến ngày tuyệt tự.
Suy cho cùng, mình chỉ uống rượu theo thú thanh nhàn như của người xưa, cảm nhận một nét đẹp văn hóa thời nay nâng ly rượu vang của văn hóa Pháp, hoặc nhâm nhi rượu Bầu Đá nét văn hóa đặc trưng của miền đất võ Tây Sơn, Bình Định.
Tôi sinh đúng quê xứ biết chiềuruoudaohong, biết quí cái nhã thú cầm chén nâng chung:

Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đã say.

Vậy nên cũng nặng lòng với tửu thú, và băn khoăn hoài với cái tư thế của người biết rượu.
May ra cuối đời sẽ tu luyện được cái đẹp của người biết cầm chén.

Mà khéo cũng vừa chiều theo ý mấy bà vợ khó tính, khỏi phải chiều chiều ca cẩm: Chè với rượu..

Nguyễn Tấn Ái

Hoa tường vi buổi sáng

Ngày của Nhiên thường bắt đầu lúc 5 giờ 30 sáng, và chia làm hai phần. Phần sau là ngày bình thường, đến lớp, vào thư viên và đến siêu thị bán ở quầy băng đĩa cho đến hết buổi tối. Còn phần đầu, từ 5 giờ 30 đến 6 giờ 30, Nhiên dậy sớm, đạp xe ra bãi đất trống của khu cư xá cách nơi cô ở hơn hai cây số. Bọn bạn cùng phòng thường nói đùa “Con này tính đi làm người mẫu hay sao mà chăm tập thể duc ghê”. Nhiên chỉ cười cười, nếu kể cô ra đó không phải tập thể dục mà ngồi nói chuyện với một ông già mù thì bọn nó sẽ bảo cô ngớ ngẩn, nếu nói rằng không phải chỉ hai người mà còn có thêm một người đàn ông trẻ thì thế nào chuyện cũng được lan truyền lung tung và bị biến dạng đi một cách nghiêm trọng. Dù sao, cuộc sống của Nhiên ở cái thành phố ồn ào này cũng chia làm hai phần, và một tiếng đồng hồ buổi sáng sớm là của riêng cô.
tuongvi
Đó là một bãi đất trống vuông vức, nằm giữa các ngôi nhà rất đẹp, luôn dậy trễ với những cánh cổng đóng kín vào sáng sớm. Có lẽ, buổi chiều bọn trẻ con thường đá bóng ở đó, vì Nhiên thấy có hai khung thành trống ở hai đầu. Đối diện với bãi đất là một căn nhà lớn quét vôi trắng, hình như không có người ở. Sát cổng là một cây tường vi lớn luôn rộ hoa, những chùm tường vi hồng nhạt nổi lên giữa những cành lá dài màu tím xanh, phiến hoa mỏng và xoăn, có vẻ gì đó rất mềm mại, trong sáng và nên thơ đã tình cờ giữ chân Nhiên lại. Trước cổng nhà có một chiếc ghế đá, đủ chỗ cho ba người. Ông lão ngồi ở giữa, Nhiên bên phải và khi người đàn ông kia đến, anh ta ngồi bên trái. Hoa tường vi vươn qua khỏi tường rào và rủ xuống ngay trên đầu họ.

Ông lão bị mù, hay nói đúng hơn, bị lòa dần do tuổi già không cách gì ngăn được. Nhiên không rõ ông đang sống ở đâu, nhưng theo lời ông kể thì căn nhà này xưa kia là của ông. Cây tường vi này, và cả những cây cảnh trong kia đều do ông trồng, khi ông còn chưa lòa và còn cuộc sống còn khá giả. Mấy năm trước ông phải bán nhà để trả nợ cho thằng con trai làm ăn thất bại, rồi dọn về căn hộ bé xíu trong một cái hẻm sâu, ẩm thấp, tối tăm và bị ngập nước khi mùa mưa đến. Cứ mỗi sáng, bà lão vợ ông lại đưa ông đến đây, chỉ vì ông muốn thế. 5 giờ 30, khi Nhiên đạp xe đến thì ông đã ngồi sẵn đó, cô chào ông và ngồi xuống bên cạnh.

Ông lão thường kể cho Nhiên nghe về mảnh đất miền trung xa xôi, vì tình cờ cô nhận ra mình là đồng hương của ông, hay nói đúng hơn, ba mẹ cô mới là đồng hương của ông. Cái mảnh đất nghèo cát trắng đó.

– Khoai lang làng ông ngon nổi tiếng, và bưởi, cháu biết không, chẳng nơi nào bưởi ngon bằng Bố Trạch.

Cô sôi nổi chuyện trò với ông về cái miền đất mà cô chưa từng đặt chân đến, những địa danh cô chỉ được ba cô nhắc đến tên.

– Ông biết sông Gianh không ông. Ba cháu hay hát: “Hôm nay trăng sáng quá em ơi, mà sao đôi ta bị chia cắt bởi dòng sông bạc hai màu”

– Ờ, sông Gianh, khi xưa bị chia cắt bởi hai đàng Trịnh Nguyễn. Nhà ông thì ở gần sông Son, động Phong Nha đó. Dòng sông trong vắt và xanh lắm, xanh như là đáy sông được phủ bởi rong rêu.

Nhiên kể, cháu chưa về Quảng Bình bao giờ, nhưng có một lần, cháu đi tàu ngang qua đó. Tàu dừng ở ga Đồng Hới 8 phút, cháu nhảy xuống, mua một trái bưởi và đứng nhìn cái sân ga nhỏ, thấy nó vừa lạ lẫm vừa thân thiết như máu thịt, cháu nghĩ “ngày xưa ba mình đứng dẫm chân trần trọc những đường tàu này” và bỗng dưng nước mắt chảy ra. Buồn cười lắm ông ạ.

– Còn ông thì xa quê lâu lắm rồi, từ thời loạn ly, nay cũng không biết có còn ai ngoài ấy. Mà nỗi nhớ quê của ông quanh đi quẩn lại chỉ có nhớ món canh lá lằng, thứ lá hái tận trong rừng, phơi khô rồi bóp vụn trông như tiêu bột, nấu với cá vụn. Vị ngọt của cá, vị đắng đằm đằm của lá lằng. Cái mùi vị kỳ lạ mà ông nhớ. Ôi chao, cái mùi kỳ vị kỳ lạ cứ đeo bám người ta.
cementbench
Nhiên thốt lên:

– Cháu biết, mỗi khi có ai ngoài làng vào đều mang theo một gói lá lằng biếu ba mẹ cháu. Mới đầu ăn không quen đắng lắm, nhưng ăn riết rồi ghiền ông ạ.

Và đôi khi, cô kể về mảnh đất nơi cô đã sinh ra, nơi ông bà nội đã chọn dừng chân khi rời quê cha đất tổ, mảnh đất mà ba đã gặp mẹ, và sinh ra Nhiên, nơi có biển, có núi và những đồi cát trắng. Những câu chuyện cứ thế nối dài…

Người đàn ông kia sẽ ghé qua lúc 6 giờ. Nhiên chưa bao giờ nhìn kỹ anh ta, nhưng có lẽ anh ta chỉ hơn ba mươi một chút, trẻ và khoẻ mạnh trong chiếc áo pull và quần soọc trắng, chạy bộ về ngang đó và ghé qua vào lúc 6 giờ. Anh ta gật đầu chào Nhiên, nụ cười cởi mở, hỏi thăm sức khỏe ông lão và bắt đầu nói với ông về cây cảnh. Khi đó, Nhiên lại ngồi nghe và mỉm cười. Họ nói về những bụi trúc ở nhà anh ta, thanh trúc, hoàng trúc. Họ nói về địa lan, thiên tuế, phất dụ, về cây hải đường của anh ta vừa ra một cái nụ, về những cái tên cây, tên hoa kiêu sa, gợi cảm và xa lạ với Nhiên, nhưng cô vẫn nghe một cách say sưa.

Gần sáu rưỡi, Nhiên về, anh ta cũng về, nhưng ngược đường. Còn ông lão ngồi đó đến 9 giờ, khi vợ ông hoặc cô con dâu đi chợ về ra đón. Có lần Nhiên hỏi:

– Ông làm gì cho đến 9 giờ ?

– Ông suy nghĩ…

Nhiên nghĩ thầm: buồn thật, có những con người phải suy tư, không phải vì họ có những điều để suy tư mà vì họ không có việc gì để làm…

Một buổi sáng, Nhiên ra, không có ông lão ở đó. Nhiên ngồi chờ cho đến khi người đàn ông đến. Anh gật đầu chào cô:

– Ông ấy đâu?

– Em không biết. Có lẽ ông ấy bị bệnh, hoặc bà lão bệnh, hoặc…
manjogging
Nhưng dù sao cũng không có ông lão ngồi ở giữa, đôi mắt mờ xám, giọng nói chậm rãi và nụ cười không biết buồn hay vui. Chỉ có hai người. Họ không biết tên nhau, không biết nhà nhau, và không buồn quan tâm đến điều đó. Họ không biết gì về nhau ngoài cái giờ giấc chính xác, Nhiên đến lúc 5 giờ rưỡi, và anh ta đến lúc 6 giờ. Họ có chung một cái ghế đá để ngồi, và nói những chuyện viển vông, không phải việc làm, thời sự hay giá cả lên xuống. Họ chỉ nói những điều họ thích thú, hay những suy nghĩ thoáng qua khi đầu óc ở vào trạng thái rất thanh thản của buổi đầu ngày. Nhưng hôm nay không có ông lão. Bỗng dưng họ thấy ngại ngùng, hụt hẫng vì không có chiếc cầu nối, không có chỗ bám víu. Họ biết rằng mình không đến nỗi xa lạ, nhưng họ chưa bao giờ trò chuyện trực tiếp với nhau. Cuối cùng, người đàn ông lên tiếng:

– Em học trường nào?

– Sư phạm.

– À, sư phạm…Em ở trọ gần đây?

– Dạ.

Nhiên băn khoăn không biết mình có nên hỏi anh ta không: anh ta làm nghề gì? Nhà anh chắc cũng ở gần đây? Nhưng cô không hỏi, chỉ ngước nhìn lên những cành tường vi hồng trên đầu và im lặng. Người đàn ông cũng im lặng một lúc lâu. Và rồi, hầu như đột ngột, anh ta quay sang nhìn Nhiên, đôi mắt như mỉm cười:

– Kể về quê em cho tôi nghe đi.

– Quê em ư?

– Không, không phải Quảng Bình, tôi nghe ông lão nói nhiều về nó. Kể cho tôi nghe nơi em đã sinh ra. Có lần tôi nghe em nói về núi và biển.

Bỗng dưng Nhiên thấy xúc động. Cô không biết tại sao mình lại kể cho anh ta nghe, như anh ta có thể hiểu được tất cả những cảm xúc của cô, hiểu được nỗi nhớ cồn cào của cô về núi, về biển, về những đồi cát và những cánh đồng. Và chẳng hiểu tại sao, cô nhìn vào mắt anh ta, và cô tin rằng anh ta hiểu.

– Nơi em ở có biển, và rất nhiều núi. Anh có thể nhìn thấy núi bên phải, bên trái, trước mặt đều có núi. Không quá gần, cũng không quá xa. Không quá chập chùng để thấy choáng ngợp, không quá thưa thớt để thấy nhạt nhoà. Nhưng đủ để có cảm tưởng như mình đang đứng trong thung lũng. Đủ để nhìn rõ những nếp gấp mạnh mẽ, những đường cong và những vết lõm duyên dáng. Nó phụ thuộc vào những tia nắng mặt trời chiếu lên nó, vào buổi sáng, trưa hay hoàng hôn. Và dưới chân núi là nhứng cánh đồng. Em thích chạy xe thật nhanh trên đường vắng, bên cạnh những cánh đồng.

– Lạ nhỉ, tôi cũng thích như vậy.

– Thật ư?

Anh nhìn Nhiên và cười, dịu dàng.

– Không hiểu sao những lúc ấy tôi thấy mình rất cô đơn, và rất tự do, một sự cô đơn thần thánh và một sự tự do gần như tuyệt đối.

Suýt nữa thì Nhiên thốt lên: “Em cũng vậy,” Nhưng rồi cô vẫn ngồi bất động trong những cảm xúc dồn dập khó hiểu. Họ lại im lặng. Cho đến 6 giờ 30. Anh ta đứng lên và quay lại nhìn cô chăm chú:

– Anh phải về đây. Mai gặp lại em nhé! Sáng mai…

Và từ lúc ấy hai phần cuộc sống của Nhiên trở nên nhập nhằng với nhau. Buổi chiều, ngồi trong thư viện, bên tai cô cứ văng vẳng câu nói như gió của người đàn ông trẻ: “Kể về quê em cho tôi nghe đi! Nơi nào? Về miền đất đã sinh ra em. Cô nhớ tới nụ cười tươi tắn, ánh mắt ấm áp của người đàn ông và nghĩ thầm, ngày mai, mình sẽ hỏi anh ta tên gì. Mình sẽ nói “Kể về anh cho em nghe đi…”. Nhiên thấy nhớ ánh mắt của anh. Rất nhớ…
tuongvi1
9 giờ tối, Nhiên loay hoay xếp lại mấy cái CD ở quầy băng đĩa trong siêu thị. Gần đến giờ đóng cửa, khách cũng vơi đi. Bỗng dưng cô giật mình nhận ra người quen. Người đàn ông của buổi sáng, đúng là anh ta, nhưng trông khác hẳn trong chiếc sơ mi, cà vạt đỏ sậm. Anh ta bế một bé gái chừng ba tuổi trên tay, hai đuôi tóc của nó nhỏng lên tung tẩy theo từng bước chân của bố. Người phụ nữ trẻ đi bên cạnh dịu dàng vuốt tóc con và nói khẽ với chồng câu gì đó. Họ cùng cười, và đi qua Nhiên. Nhiên ngồi thụp xuống, bỗng dưng ứa nước mắt vì tủi hổ, vì thấy mình sao ngốc nghếch và vô duyên quá chừng. May thật, may mà mình chưa hỏi, anh ta sẽ nói gì, anh ta có nói rằng anh có một người vợ rất xinh và một cô con gái rất ngoan. Anh ta sẽ nói gì nhỉ?

5 giờ 30 sáng. Nhiên nép mình sau một ngôi nhà của khu cư xá và nhìn thấy hai người đàn ông ngồi trên ghế đá. Cô thót tim nhận ra người đàn ông trẻ đến sớm hơn mọi ngày. Bình thường anh ta chỉ đến vào lúc sáu giờ. Ông lão vẫn ngồi ở vị trí cũ, mắt nhìn thẳng về phía trước và miệng mỉm cười nói câu gì đó. Còn người đàn ông kia thì lơ đãng nhìn quanh quất, như chờ đợi. Nhiên lặng lẽ đạp xe về nhà, trèo lên giường, trùm chăn kín đầu và oà khóc. Cô thổn thức vì một điều gì đó mơ hồ không rõ.

Một buổi chiều muộn, Nhiên không ngăn được mình lang thang đạp xe đến chỗ cũ. Ngôi nhà quét vôi trắng vẫn đóng cửa, chiếc ghế đá có hai người phụ nữ ngồi chuyện trò rôm rả, xe máy chạy vào chạy ra những cánh cổng xinh đẹp trong khu cư xá. Những đứa trẻ om sòm đá bóng trên khoảng sân vuông, bụi tung mịt mù. Và trong cái nắng vàng vọt của buổi chiều, những chùm hoa tường vi bỗng chuyển ra màu cam, ố vàng xấu xí đến kỳ lạ. Nhiên bỗng dưng thấy ập vào lòng một nỗi thất vọng đau đớn đến khó tả khi cô chợt nhận ra là hoa tường vi buổi chiều, hoa tường vi trong cái phần ngày bụi bặm của đời thực, không đẹp như hoa tường vi trong cái phần ngày ngắn ngủi của riêng cô. Và Nhiên biết rằng từ nay cuộc sống của cô lại như mọi người, bắt đầu từ 5 giờ 30 và chỉ có một phần. Không có những buổi ban mai ngồi dưới hoa tường vi nữa. Chiếc ghế đá sẽ còn lại hai người, hay là một, hay là không ai, chỉ có hoa tường vi vẫn rung rinh hồng vào mỗi sáng.

Đông Vy

Chờ Cho Đá Biết Tuổi Vàng

Ta như nhân loại trước ngày tìm ra lửa
Cầm trên tay hòn đá xù xì rồi lại quăng đi
Vẫn biết có hồn tràm chờ ta trong ruột gió
Nhưng đợi gió thành hương không đủ sức kiên trì.

    (Chế Lan Viên)

Có thứ cây mọc trên vùng đất đá vôi Nam Giang, cành lá xòe rộng đón nắng lửa gió Lào đủ niên hạng để cho ra đời chất nước trắng đục sủi tăm làm say lòng người, gọi là rượu cây tà vạt.

Có thứ cây mọc trên đồi núi Trà Mi, đủ trăm năm khô khốc, thân mình lụi đi, bay đi theo mưa gió còn lại cái lõi dầu thơm, gọi là trầm gió.tramhuong1

Là những mật những hương, những thơm thảo được tự nhiên tôi luyện mà thành, gọi là vàng của đất trời.

Còn lòng người, có đợi được trăm năm khô khốc, trăm năm lụt lội để đá biết tuổi vàng?
Chờ cho đá biết tuổi vàng là lòng ta chờ bạn.

Thân thương à, tụi mình đã kí cả một thời học trò cho mộng tưởng, đã huyễn cả một thời trai trẻ cho tình yêu, đã cùng đói cơm lạt muối, có đủ gọi là thân? Thôi đừng ngộ nhận. Cóp lại một thời kỉ niệm ngót mươi niên cũng chỉ một thập phân đời người nào có đáng là bao? Sợi tình liệu chừng chưa đủ bền qua mưa nắng, chừng mỏng chưa vừa khà một cơn say, chờ cho đá biết tuổi vàng lời chừng còn thẹn. Đâu rồi trong ta giấc mơ quan đại phu mà tặng bạn áo hồ cừu! Đâu rồi trong ai hoài bão đăng quang để vời kẻ ẩn sĩ núi rừng về trọn một đêm bè bạn, gác chân lên nhau mà ngủ, sáng mai lại thong dong rừng núi mà về!

Có bao giờ trên đường đời rong ruổi mình lại trách mình không đủ cái tình Trần Phồn Từ Trĩ, không kịp cái trí Thúc Nha cùng Quản Trọng, đầu dăm sợi bạc nhìn mà thẹn chữ tri âm! Không nỡ buông tay đành nhắc nhau câu chờ cho đá biết tuổi vàng.
triky
Đá biết tuổi vàng cũng là lòng ta chờ người đó.

Thôi nguôi đi một thời yêu đương bồng bột, tình trung du cũng mưa nắng thất thường. Giọng người mềm mượt như tuổi đời mười bảy, ta thực lòng kí thác ở tình yêu đến chẳng kịp liệu lối về. Người đến như thiên thần, cũng như thiên thần vỗ cánh. Còn chấp chới quanh ta một trời hẹn ước, còn toang toác trong ta một cửa tình để ngỏ đến mai sau. Vẫn giàu một niềm tin rằng người đi rồi người sẽ trở về. Ta vẫn nhủ lòng ta chân thành như thế. Ta vẫn dỗ lòng ta như dỗ dành con trẻ, ừ người sẽ về, đừng buồn nhé, đừng trông!

Có thể rồi người mãi mãi không về, nhưng ta tin rằng trong con tim người với nhịp trăm năm sẽ có lúc mơ hồ tự hỏi: Ngày xưa giờ nơi đâu!
Và vô thức thời gian bông hồng nào còn thơm mãi!
Và đá biết tuổi vàng.
da 2

Đá rồi biết tuổi vàng là tình ta dành cho em đó, mẹ của các con ta.

Tiếc nuối một thời không là người tình đầu tiên người yêu cuối cùng, nhịp đời khéo so le, song cũng đã gom góp một đời những còn những mất mà trao tặng. Em rồi không mãi mãi là kiều nữ. Ta cũng chẳng còn buổi kiêu bạc hào hoa. Song quí giọt mồ hôi làm nên cơm áo, thôi cắt ngắn tuổi mình để giành tặng các con. Rồi không còn nhìn mắt em mà làm thơ nữa (thơ phú gì buổi cần viết văn xuôi!). Mà này em, mộng đời không mất, không lặn vào chiêm bao, chỉ mất đi những dấu hoa mĩ không cần thiết để thô mộc vẹn nguyên vững chãi một gia đình.

Có bao giờ tiếc nuối buổi yêu nhau?
Có bao giờ hờn trách buổi yêu nhau?
Tình yêu như phút giây con tằm hóa bướm.
Mà ta giành cho em là gỗ đã nên trầm!
Đá biết tuổi vàng đó em.

Doisim

Thời gian, ôi thời gian!
Sợ khi người mang cho đời quả chín, quả chín rồi rời rã những cánh hoa.
Sợ khi người biến những gã ngốc thành khôn ngoan, mà khôn ngoan thì mất đi quyền khờ dại.
Sợ khi người biến những thi sĩ thành triết gia, mà triết gia thì hết đường thi phú.
Tôi ngại thời gian như ngại một thứ thuốc hiện hình.
Mà cũng cần lắm thời gian, để bạn là bạn, để người là người, để em là em, để ta là ta.
Để lặn đi những son phấn của diện mạo đời.
Để sắp xếp, để định giá những gì còn mất.
Và, để cho đá biết tuổi vàng!

NGUYỄN TẤN ÁI