Chào các bạn,
Đầu tuần mờii các bạn thưởng thức một bản nhạc của Mozart, Rondo Alla Turka hay Turkish March, do hai nhạc sĩ trình tấu trên MỘT guitar.
Chúc các bạn một tuần làm việc tốt.
Mến,
Hoành
.
Chào các bạn,
Đầu tuần mờii các bạn thưởng thức một bản nhạc của Mozart, Rondo Alla Turka hay Turkish March, do hai nhạc sĩ trình tấu trên MỘT guitar.
Chúc các bạn một tuần làm việc tốt.
Mến,
Hoành
.
Chào các bạn,
Câu hỏi Nghiên Cứu Xã Hội tuần này là:

“Chính phủ Việt Nam nên chính thức xin lỗi các dân tộc thiểu số về những bất công trong quá khứ, như Úc, Canada và Mỹ đã làm với người da đỏ?”
Và chỉ có hai câu trả lời “Nên” và “Không nên.”
Các bạn có thể đọc ở đây về các thông tin về việc các chính phủ Úc, Canada và Mỹ xin lỗi thổ dân da đỏ.
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoanh

quả
thông
rụng
lăn
vào
thung
lũng

lọt
qua
khe
cửa
sáng
cả
phòng

trĩu
cành
hạ
trắng
rừng
thông

Trùm
đầu
trùm
cổ
Nhìn
sóc
nô
đùa
Thứ bảy, 5.12.2009, tuyết đầu đông. Chụp ảnh cây thông trước nhà, chia sẻ với các bạn 🙂 TĐH
Chào các bạn,

Ariya Bini – Cam là một trong những thi phẩm cổ điển xuất sắc nhất của Chăm, nhưng ít được phổ biến. Nguyên tác và bản dịch Việt ngữ được Inrasara đưa ra lần đầu trong cuốn Văn học Chăm – khái luận, Nxb. Văn hóa Dân tộc, H., 1994.
Ariya Bini- Cam là hồi ký bằng thơ, ghi lại những hồi tưởng và cảm nhận của một hoàng thân Champa (thuộc tiểu quốc Chàm Panduranga, tức là Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay) về tình yêu của chàng với nàng công chúa đến từ Makah (tiểu bang Kelantan, Malaysia), cũng như tình yêu của chàng đối với đất nước trong bối cảnh đặc biệt của lịch sử Champa.

Cuộc tình tan vỡ, đất nước tiêu vong, Arya Bini – Cam là một tuyệt tác văn chương Chăm, thấm đẫm buồn đau và nước mắt…
Đọc bài dịch tiếng Việt ta cũng có thể nhận ra ngay dịch giả vừa là nhà thơ xuất sắc vừa là một học giả uyên thâm. Dịch giả là Inrasara (xem ảnh bên trên), tên thật là Phú Trạm, sinh 957 tại làng Chăm Caklaing – Mỹ Nghiệp, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Công việc đang làm của Inrasara là nghiên cứu văn hóa Chăm; làm thơ, viết văn, dịch & viết tiểu luận – phê bình văn học. Các tác phẩm của Inrasara đến nay gồm có:
Tác phẩm:
Về văn chương
– Tháp nắng – thơ và trường ca, NXB Thanh niên, H., 1996.
– Sinh nhật cây xương rồng – thơ song ngữ Việt Chăm, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1997.
– Hành hương em – thơ, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh., 1999.
– Lễ tẩy trần tháng Tư – thơ và trường ca, NXB Hội Nhà văn, H., 2002.
– Inrasara – Thơ cho tuổi thơ, NXB Kim Đồng, H., 2003.
– The Purification Festival in April, thơ song ngữ Anh – Việt, NXB Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2005.
– Chân dung Cát – tiểu thuyết, NXB Hội Nhà văn, H., 2006.
– Chuyện 40 năm mới kể & 18 bài thơ tân hình thức, NXB Hội Nhà văn, H., 2006.
– Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo, tiểu luận-phê bình, NXB Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2006.
– Song thoại với cái mới, tiểu luận, NXB Hội Nhà văn, H., 2008.Về nghiên cứu văn hóa Chăm
– Văn học Chăm – Khái luận, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1994.
– Văn học dân gian Chăm – Ca dao, Tục ngữ, câu đố.
+ In lần thứ nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1995.
+ In lần thứ hai: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 2006.
– Văn học Chăm – Trường ca, sưu tầm – nghiên cứu.
+ In lần nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1995.
+ In lần thứ hai: NXB Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2006.
– Từ điển Chăm – Việt (viết chung), NXB Khoa học Xã hội, H., 1995.
– Từ điển Việt – Chăm (viết chung), NXB Khoa học Xã hội, H., 1996.
– Văn hóa – xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại, tiểu luận
+ In lần thứ nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1999.
+ In lần thứ hai: NXB Văn học, H., 2003.
+ In lần thứ ba: NXB Văn học, H., 2008.
– Tự học tiếng Chăm, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 2003.
– Từ điển Việt – Chăm dùng trong nhà trường (viết chung), NXB Giáo dục, H., 2004.Chủ biên
Tagalau, tuyển tập sáng tác – sưu tầm – nghiên cứu Chăm (10 tập, 2000-09); Tủ sách văn học Chăm (10 tập, đã xuất bản 4 tập).
Giải thưởng chính
– CHCPI – Sorbonne (Pháp), Văn học Chăm I (1995).
– Hội đồng Dân tộc – Quốc hội khóa IX, Văn học Chăm II (1996).
– Hội Nhà văn Việt Nam, Tháp nắng (1997), Lễ tẩy trần tháng Tư (2003).
– Hội Văn học – Nghệ thuật các DTTS Việt Nam, Sinh nhật cây xương rồng (1998), Văn hóa – xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại (2003), Ca dao – tục ngữ – thành ngữ – câu đố Chăm (2006).
– Giải thưởng Văn học Đông Nam Á, Lễ tẩy trần tháng Tư (2005).
– Giải thưởng sách Việt Nam, Từ điển Việt – Chăm (2006).
– Tặng thưởng Work of the Month, Tienve.org, tháng 9.2006.
– Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Trường ca Chăm (2006).
Chúng ta rất biết ơn Inrasara đã dịch Trường Ca Bini – Cam ra Việt văn, để chúng ta có cơ hội thưởng thức một tuyệt tác văn chương Chăm, đồng thời hiểu biết thêm về văn minh Chăm và Chiêm quốc cũ. Hãy cùng nhau hướng lòng đến các anh em Chăm của chúng ta còn lại ngày nay.
Trường ca này gồm 164 câu. Phần tiếng Việt đi trước tiếng Chăm. Trong phần tiếng Việt có một số các ghi chú. Tất cả các chú giải này đều nằm ở cuối phần tiếng Việt.
Thành thật cám ơn anh Trần Can của Balme đã chia sẻ các thông tin quý báu này.
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
.
Chào các bạn,
Hôm nay mình muốn giới thiệu đến các bạn một vài mẫu tin thú vị, để chúng ta cùng suy nghĩ.

Ngày 13.2.2008, thủ tướng Úc Kevin Rudd, đại diện chính phủ và nước Úc, chính thức xin lỗi các bộ lạc thổ dân Úc về những chính sách và luật lệ của nước Úc đã “gây bi thảm, đau khổ và mất mát sâu đậm” cho bao nhiêu đời thổ dân đã qua.
Chính phủ Canada liền noi theo gương tốt. Ngày 12.6.2008, thủ tướng Canada Stephen Harper, đại diện chính phủ và nước Canada, chính thức xin lỗi các bộ lạc thổ dân da đỏ tại Canada, về những chính sách và luật lệ của Canada trong quá khứ để “giết chết người da đỏ trong lòng em bé thổ dân”. Thủ tướng nói: “Chính phủ Canada thành thật xin lỗi và xin được các dân tộc thổ dân của đất nước này tha thứ vì đã làm họ thất vọng một cách thâm sâu. Chúng tôi rất hối hận.”
Ngày 6.10.2009 vừa qua, Thượng Viện Mỹ đã thông qua một nghị quyết xin lỗi thổ dân da đỏ Mỹ. Nghị quyết này chưa thể thành luật, cho đến khi được cả Hạ Viện đồng ý, và Tổng Thống ký ban hành. Dù vậy, nghị quyết cũng là một bước tiến đúng hướng.
Sau đây là nguyên văn bản thông báo của Ủy Ban Thượng Viện Mỹ Về Các Vấn Đề Liên Hệ Đến Người Da Đỏ
Để thông tin lập tức
Ngày 6.10.2009Ủy Ban Thượng Viện Mỹ về Các Vấn Đề Liên Quan Đến Người Da Đỏ
Các Thượng nghị sĩ Brownback và Dorgan hoan nghênh việc Thượng Viện thông qua nghị quyết Xin Lỗi các Bộ Tộc Thổ Dân Mỹ.
Washingonton, DC – Các thượng nghị sĩ liên bang Sam Brownback (Cộng Hòa- Kansas) và Byron Dorgan (Dân Chủ-North Dakota) đã hoan nghênh việc Thượng viện thông qua Nghị Quyết Xin Lỗi Các Bộ Tộc Thổ Dân Mỹ, đề nghị sự xin lỗi của chính phủ Mỹ với Người Da Đỏ Mỹ. “Hành động của Thượng viện hôm nay là một bước tiến lớn cho liên hệ giữa chính phủ liên bang và Thổ Dân Mỹ,” Brownback nói. “Nghị quyết này nhằm tìm hòa giải và đề nghị sự xin lỗi chính thức đối với Thổ Dân Mỹ vì những lựa chọn gây đau đớn mà chính phủ liên bang đã làm trong quá khứ. Với nghị quyết này, chúng ta xác nhận những thất bại trong quá khứ và bày tỏ sự hối hận thành thật.”
Dorgan, chủ tịch Ủy Ban Thượng Viện về Các Vấn Đề Liên Quan Đến Người Da Đỏ, cùng đứng tên tác giả bảo trợ nghị quyết với Brownbach. Dorgan nói, “Rất khó để biết lịch sử của Những Người Mỹ Đầu Tiên [tức là các thổ dân] và chính sách phá hoại mà chính phủ của chúng ta thường dùng đối với họ, mà không cảm thấy tràn ngập buồn rầu và hối hận.”
Nghị Quyết Xin Lỗi Thổ Dân Mỹ được thông qua như một tu chính án cho Dự Luật Quốc Phòng. Nghị quyết này mang lời xin lỗi chính thức từ Nước Mỹ đến các chính quyền thổ dân và người thổ dân trong toàn quốc. Nghị quyết xin lỗi này không phải là sự cho phép, hoặc dùng như là giải quyết cho, các tranh chấp đang có với chính phủ, cũng như không giải quyết nhiều thử thách Thổ Dân Da Đỏ Mỹ đang gặp phải. Một Nghị Quyết Xin Lỗi Người Da Đỏ Mỹ đã được đưa ra Quốc Hội, và đã được Thượng viện thông qua năm 2008, nhưng đã không được thành luật.

Chúng ta có nguyên bản tiếng Anh của thông báo này dưới đây, cũng như một bài báo nói về việc Người Da Đỏ Mỹ tiếp tục làm việc để lobby với chính phủ về việc chính phủ xin lỗi chính thức.
Đó là chuyện đang xảy ra trên thế giới.
Còn chúng ta, chúng ta đã có bao giờ thấy ta đã làm cho bao nhiêu dân tộc thiểu số anh em đau khổ trong quá khứ?
Và chính sách của chúng ta đối với các dân tộc anh em thiểu số hiện nay có nâng đở, ủng hộ, đưa lên, hay chỉ là kéo dài bất công và đau khổ?
Ngày nào chúng ta, như là một dân tộc, thấy là chúng ta cần phải xin lỗi chính thức? Chính phủ chúng ta phải xin lỗi chính thức?
Trong thời gian chờ đợi một câu xin lỗi chính thức, chúng ta có thể làm được gì NGAY BÂY GIỜ để chấm dứt các áp bức vô tình hay cố ý, và để nâng cao tiếng nói, vị thế và quyền lợi của các dân tộc anh em thiểu số trong nước ta?
Hãy thành thật nhìn lại lòng mình và chính sách của mình trước con tim của chính mình và Chúa hay Phật của mình.
Chúc các bạn một ngày thành thật.
Mến,
Hoành
.
|
||
| BROWNBACK, DORGAN APPLAUD SENATE PASSAGE OF NATIVE AMERICAN APOLOGY RESOLUTION | ||
| WSAHINGTON, DC – U.S. Senators Sam Brownback (R-KS) and Byron Dorgan (D-ND) today applauded Senate passage of the Native American Apology Resolution, which offers an apology from the United States government to American Indians. “The Senate’s action today is a big step for the relationship between the federal government and Native Americans,” said Brownback. “The resolution seeks reconciliation and offers an official apology to Native Americans for the hurtful choices the federal government made in the past. With this resolution we acknowledge previous failures and express sincere regrets.” Dorgan, Chairman of the Senate Committee on Indian Affairs, joined Brownback as co-sponsor of the amendment. Dorgan said, “It is difficult to know the history of the First Americans and the destructive policies our government has too often followed regarding them, and not be filled with both sadness and regret. It is appropriate that we, as a nation, express that sorrow and regret with this apology resolution.” The Native American Apology Resolution passed as an amendment to the Defense Appropriations bill. The resolution extends a formal apology from the United States to tribal governments and Native American people nationwide. The resolution of apology does not authorize or serve as a settlement of any claim against the United States and does not resolve many challenges still facing Native Americans. The Native American Apology Resolution has been introduced in previous Congresses, and passed the Senate in 2008, but was not signed into la |
.
| Local American Indians Call for Formal Apology | ![]() |
![]() |

.
.
Giọt mưa lạnh
Mái ngói mờ tỏa khói
Nồng hương thông
.
.

.
.
.
.
Cánh đào
Đỏ gió mong manh
Lạnh
.
.
.
.

.
.
Vện vàng đuổi cái đuôi
Xoay tròn xoay tròn đuổi
Cái đuôi
.
TĐH, Dec. 2, LOW
Ghi chú: Có bàn về nghiên cứu haiku dưới phản hồi
Chào các bạn,
Chúng ta đã nói khá nhiều về thiền và thiền thi, một suối nguồn tư duy tích cực trong văn hóa Việt Nam. Hôm nay chúng ta nói đến Kinh Lạy Cha của Kitô giáo, gốc rễ của tư duy tích cực của người Kitô giáo trên khắp thế giới, kể cả Việt Nam.

Ở đây chúng ta chỉ phân tích Kinh Lạy Cha như một hiện tượng văn hóa, và giải thích ảnh hưởng của Kinh Lạy cha trên tư duy tích cực của chúng ta, và hạn chế các phân tích có tính cách thuần tôn giáo.
Kinh Lạy Cha, tiếng Anh goi là The Lord’s Prayer, Lời Cầu Nguyện Của Chúa. “Chúa” đây là Chúa Giêsu, tác giả của lời cầu nguyện này. Trong thánh kinh, khi mọi người hỏi Chúa Giêsu cách cầu nguyện, Chúa Giêsu cho họ Kinh Lạy Cha. Câu chuyện này được ghi lại tại Matthew 6: 9-13, được coi như một phần của Bài giảng trên núi, và tại Luke 11:2-4.
Kinh Lạy Cha là lời cầu nguyện phổ thông nhất và thịnh hành nhất trong Kitô giáo (gồm Công giáo, Chính thống giáo và các hệ phái Tin lành), đồng thời cũng là lời kinh phổ thông nhất trong mọi tôn giáo trên thế giới.
Bản tiếng Việt
Lạy cha chúng con ở trên trời,
Chúng con nguyện danh cha cả sáng,
nước cha trị đến,
ý cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

Xin cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày,
và tha nợ chúng con
như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ
Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.
Amen
Bản tiếng Anh
Our Father, who art in heaven,
Hallowed be thy Name.
Thy kingdom come.
Thy will be done,
On earth as it is in heaven.
Give us this day our daily bread.
And forgive us our trespasses,
As we forgive those who trespass against us.
And lead us not into temptation,
But deliver us from evil.
[For thine is the kingdom,
and the power, and the glory,
for ever and ever.]
Amen.
Bản tiếng La Tinh
Pater noster, qui es in caelis
Sanctificetur nomen tuum;
Adveniat regnum tuum.
Fiat voluntas tua
Sicut in caelo et in terra
Panem nostrum quotidianum da nobis hodie.
Et dimitte nobis debita nostra,
Sicut et nos dimittimus debitoribus nostris.
Et ne nos inducas in tentationem;
Sed libera nos a malo.
[Quoniam tibi est regnum et potestas et gloria in saecula.]
Amen.
Đọc bài kinh ta thấy nội dung chia làm hai đoạn rất rõ ràng. Đoạn đầu là ca tụng Chúa. Đoạn sau mới cầu nguyện cho chính mình.
I. Khiêm tốn

Đoạn đầu của Kinh Lạy Cha là để ca tụng Chúa. Nhưng nếu ta chỉ có IQ cở dưới trung binh thôi, ta cũng có thể biết được chẳng có Thượng đế nào cần mấy tiếng tung hô của con người cả. Đã là Thượng đế thì không cần được khen hay tung hô.
Vậy thì các việc ca tụng Thượng đế là để cho chính chúng ta, những tín hữu, để chúng ta biết kính sợ Thượng đế để mà khiêm tốn.
Đoạn đầu của Kinh có thể viết ra dễ hiểu hơn một tí như sau:
“Lạy Cha của chúng con ở trên trời, chúng con cầu xin cho tên của cha được chiếu sáng, nước của Cha trị sẽ đến với tất cả mọi người, ý muốn của Cha được thực hiện dưới đất cũng như trên trời.”
Khi ta tự nhắc lại về quyền năng và vương quốc của Thượng đế, và uy quyền của “ý muốn” của Thượng đế, ta tự động dẹp bỏ cái tôi của mình–tôi, quyền năng của tôi, vương quốc của tôi, ý của tôi… không quan trọng.
Đây gọi là submission—“khuất phục” trước Thượng đế, hay “giao phó” cuộc đời của mình cho Thượng đế. Cái tôi của mình không còn nữa. Nó đã hoàn toàn thuộc về Thượng đế. Gần như là “vô ngã” trong Phật gia.
Submission hay total submission (giao phó hoàn toàn vào tay chúa) là một ý niệm cực kỳ căn bản và quan trọng hàng đầu của các tôn giáo thuộc dòng Maisen (Moses)–Do Thái giáo, Kitô giáo (Công giáo, Chính thông giáo, Tin lành), và Hồi giáo. (Những tôn giáo này cũng có thể được gọi chung là Thiên chúa giáo–tôn giáo lấy Thiên chúa (God/Allah) làm chủ).
Khiêm tốn!
(Chú thích: Về “nước Cha trị đến”, nhiều người tưởng rằng đó là biến cả thế giới thành Kitô giáo. Thực ra luật vàng của Chúa Giêsu chỉ có hai điều: Kính mến Thượng đế và Yêu người. Và Thượng đế có nhiều tên khác nhau: Ông trời, Thượng đế, Ngọc hoàng, Chúa, Allah, God, Yahweh… Làm được hai điều này là đã thuộc về “nước” của Thượng đế, ngay trong tâm ta).
II. Lo cho mình

Phần sau của Kinh Lạy Cha là các câu cầu xin cho chính mình:
“Xin cha cho chúng con hằng ngày dùng đủ.” Tức là chỉ xin đủ ăn, đủ mặc, đủ chi dụng cho những nhu cầu tất yếu. Không xin giàu sang phú quý, tiền rừng bạc biển.
Thế thì ý niệm tài sản, của cải, là gì trong Thiên chúa giáo? Thưa, tài sản là do Thượng đế giao cho ta quản lý, để ta gầy dựng sinh lời cho Thượng đế. (Xem dụ ngôn về các đồng bạc, Matthew 25:14-30. Tuy nhiên, dụ ngôn này nói về nhiều thứ sâu thẳm hơn chỉ là tiền bạc).
Và dĩ nhiên là tài sản của Thượng đế thì phải được quản lý để phục vụ “Chúa trong mọi người”, tức là phục vụ mọi người quanh ta, mà chúng ta vừa đề cập khi nói đến Kinh Hòa Bình của Thánh Francis.

“Xin cha tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Mỗi người chúng ta làm rất nhiều lầm lỗi trong đời, và nhiều người khác cũng đã lầm lỗi thiệt hại ta. Ta phải tha thứ cho người khác, trước khi cầu xin và được Thượng đế tha thứ cho ta.
Xưng tội , giải tội, sẽ không giải quyết gì cho ta cả, nếu ta chỉ làm công thức mà không làm trong lòng, là tha thứ lỗi lầm của người khác. Nếu ta cầm buộc người khác, Thượng đế cầm buộc ta.
“Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.” Chỉ cần sống không làm bậy là đủ. Không cần phải là anh hùng, vĩ nhân, thánh… Không cần phải đến mức hy sinh tánh mạng cho Chúa, hay bán hết nhà cửa để giúp người nghèo, hay tử vì đạo… Chỉ cần đừng sa vào cám dỗ là đủ–đừng si mê, sân hận, ghen ghét, đố kỵ, dối trá, trộm cướp, tà dâm, tham nhũng, bóc lột…
Và nếu lỡ bị lầm lạc vào đường xấu, vào sự dữ, thì xin Chúa cứu ta ra.
Từ “cám dỗ” ở đây ám chỉ là không ai trong chúng ta muốn và thiết lập kế hoạch để làm bậy cả. Chẳng qua là “sa chước cám dỗ” nên làm bậy thôi. Bản tính của mỗi người chúng ta là thanh khiết.
Amen là “mong được như vậy.”
Kinh Lạy Cha chỉ giản dị vậy thôi: Khiêm tốn trước mặt Thượng đế, đủ ăn đủ mặc, tha thứ, và đừng làm bậy.
Quy luật sống không bao giờ phức tạp. Cực kỳ giản dị. Chúng ta không chịu theo các quy luật sống đã tồn tại mấy ngàn năm và vẫn còn được nhắc đến bởi vài tỉ người trên thế giới ngày nay, nhiều lần trong một ngày. Và chúng ta thường đọc Kinh Lạy Cha mà không thực sự thực hành. Rồi ta lại than van sao cuộc sống quá khó khăn và phức tạp.
Chúc các bạn một ngày vui.
Sau đây mời các bạn nghe Barbara Streisand hát the Lord’s Prayer, và ca đoàn giáo xứ Sao Mai, Vũng Tàu, hát Kinh Lạy Cha.
Mến,
Hoành
© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com
.
Barbra Streisand – The Lord’s Prayer
.
Kinh Lạy Cha – Ca đoàn giáo xứ Sao Mai, Vũng Tàu
Chào các bạn,
Chúng ta thường nói đến tư duy tích cực như là thần dược để ta vui vẻ, tĩnh lặng, an lạc, thành công, v.v… Nhưng hãy hỏi một câu hỏi mà chúng ta gặp thường nhất, dù là ta có ý thức được nó hay không: “Tư duy tích cực có làm cho cuộc sống của ta dễ dàng hơn? Ít thử thách hơn?”

Trong đầu đề của bài này, mình cố tình dùng từ “công phu”, là từ rất thường nghe trong võ học, dù rằng công phu chỉ có nghĩa là “bỏ công ra luyện tập nhiều.” Nhưng mình dùng từ công phu để lấy ví dụ của một võ sư làm minh họa.
Nếu bạn là võ sư bạn sẽ khỏe mạnh, tự tin và có thể yêu đời. Nhờ đó có thể dễ thành công trong nhiều việc. Nhưng đó không có nghĩa là đời bạn ít thử thách và ít khó khăn hơn người khác.
Võ sư thì cũng có thể bị bồ chê, đi theo chàng khác. Cũng có thể bị thất nghiệp, không có tiền trả tiền nhà. Ra đường vẫn có thể gặp cướp (dù là biết ứng phó hơn). Đi làm vẫn có thể bị đồng nghiệp ghen ghét, boss đì. Lỡ mắng ông nhà báo một câu cũng có thể bị báo dũa công cộng…
Như vậy nghĩa là, nếu ta có công phu tư duy tích cực cao, ta vẫn gặp mọi vấn đề mọi người đang gặp hàng ngày. Vấn đề, rắc rối, khó khăn…là một phần tự nhiên của đời sống. Muốn sống thì phải ăn, phải mặc, phải ngủ… Chỉ lo ăn lo mặc lo ngủ thôi là đương nhiên phải làm việc trong guồng máy kinh tế với triệu người khác. Mà đã có người khác là có khó khăn, đụng chạm, giằng co, nợ nần… cộng thêm với các vấn đề bệnh tật tai nạn tự nhiên.
Người có công phu tư duy tích cực cao thì có khả năng ứng phó với các khó khăn trong đời một cách dễ dàng hơn các người khác. Nhưng số lượng khó khăn thì cũng như mọi người khác thôi.
Hơn nữa, mình có tin buồn cho các bạn. Các võ sư thường bị ăn đòn hàng chục lần, nếu không là hàng trăm lần, hơn người không có võ. Người không có võ, ra đường thấy ai bị cướp thì khép nép đứng nhìn hay tảng lờ bỏ đi. Võ sư thấy ai bị nguy thì nhào vào giải cứu. Các băng nhóm cướp bóc giang hồ rất thiện chiến trên đường phố. Đụng vào họ là luôn luôn có thể nguy hiểm đến tánh mạng của mình. Cho nên võ sư bị ăn đòn, thương tật, hoặc tử vong là chuyện thường.

Tương tự như thế, người có tư duy tích cực mạnh mẽ sẽ tích cực nhúng tay vào việc làm đời sống tốt hơn, con người bớt khổ hơn. Mà đã rớ đến chuyện người khác là mang khó khăn vào mình–hoặc là con tim mình nhức nhối về nỗi đau của người khác, hoặc là mình bị những nhóm người xấu cho ăn đòn, hoặc cả hai.
Như vậy là các bạn có câu trả lời rồi đó. Công phu tư duy tích cực cho ta khả năng giải quyết vấn đề cao cho mọi tình huống, nhưng cũng mang lại cho ta nhiều khó khăn hơn người trung bình. Đời là thế. Người càng giỏi càng có nhiều vấn đề khó khăn để giải quyết.
No vacation 🙂
Chúc các bạn một ngày vui.
Ồ, nếu bạn nghĩ, “Tôi sẽ tư duy tích cực nhưng sẽ không xía vào chuyện của ai ngoài đường để khỏi rắc rối vào thân,” thì cũng được. Nhưng bạn sẽ không bao giờ tư duy tích cực, vì đó là gốc tiêu cực mà. 🙂
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

.
.
Kìa con còng nhỏ
Nó chạy nó chạy
Bờ Thái Bình Dương
.
.
.
.

.
.
Chiếc lá đỏ
Rơi xuống cỏ
Trên đỉnh Trường Sơn
.
.
.

.
.
Chim câu một bóng
Trên nóc lầu
Cộ xe rầm rập làu làu dọc ngang
Ghi chú: Có bàn về các thí nghiệm haiku trong phần phản hồi
Chào các bạn,

Câu hỏi Nghiên Cứu Xã Hội hôm nay là:
“Bạn đã bao giờ làm 1 điều nào đó (dù nhỏ hay lớn) mà trong lúc làm bạn nghĩ là làm thế để giúp đồng bào dân tộc thiếu số?”
“Dân tộc thiểu số” trong câu này có thể là dân tộc của bạn, hay một dân tộc khác của nước Việt Nam.
Và chỉ cần trả lời Có hay Không.
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
Chào các bạn,

Bài này mình đặt tên là “Ba Haiku” vì nó là ba bài Haiku biệt lập. Ghép chúng thành một bài cho vui.
Gọi là Haiku nhưng đây chắc phải là Haiku cải biên hay Haiku mới 🙂 vì mình không dùng qui luật Haiku cổ điển.
Ý thơ, viết theo dòng Haiku thiền.
Các bạn đọc như là 3 bài biệt lập (chẳng liên hệ gì với nhau). Rồi đọc lại thành một bài dài. Rồi cho mình biết cảm tưởng nhé. 🙂 Đang thí nghiệm mà 🙂
Chúc cả nhà một tuần vui.
Mến,
Hoành
.
Ba Haiku

Mảnh tuyết nhỏ
Rơi trên cọng cỏ
Trắng núi Rockies
Quạ đen
Đứng trên cột đèn
Mịt mù tuyết đổ
Tách cà phê
Bên lò sưởi
Bão trắng xóa đồi thông
Chào các bạn

Hôm nay chúng ta bàn đến một bài thiền thi của thiền sư Vạn Hạnh, dạy học trò, đã đăng trước đây trong PPS Thiền Thi (Lý Trần). Thiền sư Vạn Hạnh họ Nguyễn, sinh vào khoảng năm 932, người làng Cổ Pháp, phủ Thiên Đức (hiện nay là làng Đại Đình, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh). Ngài xuất giá ở chùa Lục Tổ, là học trò của Thiền Ông. Ngài thuộc thế hệ thứ 7 của dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi của chùa Pháp Vân.
Thiền Sư Vạn Hạnh đã từng giúp vua Lê Đại Hành trị quốc, nhưng khi thấy vua Lê Long Đĩnh không còn là minh quân, thiền sư Vạn Hạnh đã cùng với Đào Cam Mộc sắp xếp việc triều chính và đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua hiệu Lý Thái Tổ năm 1009.
Vào ngày rằm, tháng 5, năm Ất sửu, Thuận Thiên 16 (1025), ở chùa Lục Tổ, trước lúc qua đời, thiền sư đã gọi học trò đến dặn dò trong bài Thị đệ tử sau:
Thị đệ tử

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô
Việt dịch:
Dạy học trò
Thân như điện chớp, có thành không
Cỏ cây xuân thắm, thu héo tong
Suy thịnh vào tay, lòng không sợ
Thịnh suy như sương bám cỏ đồng
Thân như điện chớp có thành không.
Thời xưa người ta gọi ánh chớp trên trời là điện. Thân ta như điện chớp tức là có đó và biến mất ngay, có thành không. Tức là nói đến cái phù du tạm bợ của thân này.
“Có thành không” trong bản chữ Hán là “hữu hoàn vô”, tức là “có trở về không.” Trở về, như vậy có nghĩa là, trước là không, sau mới thành có, sau đó lại trở về không.
Tức là, “không” đây chẳng có nghĩa là “không có” theo nghĩa triệt tiêu, zero. “Không” đây là tên của bản tính nguyên thủy, bản tính đầu tiên, của tất cả mọi thứ trong vũ trụ. Vì vậy, ta nên viết hoa cho dễ hiểu–Không

Người ta hay dùng hình ảnh “nước và sóng” để diễn tả “Không và có”. Nước là bản tính nguyên thủy, sóng là hiện tượng bề mặt. Nước thì luôn ở đó, nhưng mỗi con sóng thì chỉ hiện ra vài mươi giây là biến mất. Sóng tan lại “trở về” nước. Thân ta tan biến, lại trở về Không.
Như vậy khi chết đi, cái thân như ánh chớp này lại trở về bản tính nguyên thủy của mình là “Không”. Chết chẳng phải là hết, mà là trở về bản tính nguyên thủy—Không.
Cỏ cây xuân thắm, thu héo tong

Có sinh thì có tử. “Thành, Trụ, Hoại, Không” là bốn thời kỳ sống của vạn vật—sinh ra, đứng vững, hư hại, tan biến.
Cây cỏ mùa xuân nẩy sinh mầm sống, hạ là thời sống mạnh, thu là vào giai đoạn héo úa, đông là chết.
Con người có sinh thì có tử, cũng là lẽ tự nhiên. Tử có nghĩa là thân này tan biến đi để trở về Không.
Vậy thì việc gì mà sợ chết? Việc gì mà các đệ tử phải sợ, phải buồn việc thầy chết?
Suy thịnh vào tay, lòng không sợ. Thịnh suy như sương bám cỏ đồng.
Khi xuống khi lên, khi thắng khi thua, khi thành khi bại, khi suy khi thịnh, cũng là lẽ tự nhiên. Cả một đời người cũng chỉ là một ánh chớp, thì bao nhiêu suy thịnh lên xuống trong đời đó còn nhỏ và nhanh hơn cả một ánh chớp. Mong manh phù du như giọt sương trên đầu cỏ, sẽ tan biến ngay dưới những ánh mặt trời đầu tiên. Có gì mà phải quan trọng hóa chúng? Có gì mà phải sợ?
Sống chết cũng chỉ là một tí lên xuống suy thịnh, như sóng lên sóng xuống, của vòng luân lưu “có hoàn Không, Không sinh có”, mà thôi. Có gì mà phải sợ?

Chúng ta cần ghi chú thêm ở đây rằng, “không sợ” là một đức hạnh rất quan trọng trong đường tu Phật. Người Giác Ngộ có tâm tĩnh lặng, không sợ, không có bất kỳ nỗi sợ nào gây sóng gió trong tâm.
Trong 6 đường tu của Bồ tát (lục độ ba-la-mật), đường đầu tiên là bố thí—bố thí tiền (tài thí), bố thí Phật pháp (pháp thí), và bố thí tính không-sợ (vô úy thí). Trong ba loại bố thí này, thì bố thí cao quí nhất là “vô úy thí”, tức là “bố thí tính không-sợ,” là mang cho người ta sự can đảm và đức bình tĩnh.
Tóm lại, bài thơ này, nhắn nhủ đệ tử trước khi chết, rằng sống chết là lẽ tự nhiên. Thân này cũng chỉ phù du như ánh chớp. Đang có và sẽ trở về Không. Cũng chỉ là thịnh suy của sóng lên sóng xuống, sóng sinh và sóng tan, trên mặt biển. Chẳng có gì phải lo sợ.
Binh thản đối diện cái chết.
Bình thản đối diện thịnh suy thắng bại ở đời.
Bình thản đối diện cuộc đời.
Không sợ.
Không sợ thắng bại, thịnh suy, được mất, sống chết.
Tâm tĩnh lặng.
Chúc các bạn một ngày vui,
Mến,
Hoành
© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com
Chào các bạn,
Nếu một người sinh ra với thủy tinh thể mắt màu đỏ, người đó chỉ có thể thấy một màu cho cả thế giới—đỏ nhạt, đỏ trung bình, đỏ đậm, đỏ đậm hơn… Tương tự như thế với người có thủy tinh thể màu xanh, màu tím, màu cam… Với những người này, họ chỉ có thể nhìn thế giới một màu, và dù bạn có giải thích thế nào về hàng chục màu khác, họ cũng không thể nào hiểu được. Thế giới thật muôn màu không thể hiện diện với họ.

Đó là hậu quả của cái mà ta gọi là thành kiến, hay nhà Phật gọi là chấp. Cái tâm của ta, hay còn gọi là cá tính của ta, là màu thủy tinh thể của ta. Với người hay ganh tị, cả thế giới chỉ có một màu ganh tị–mọi người ganh tị nhau và chèn ép nhau để sống. Với người có máu tham lam, thế giới chỉ là những con người tham lam tranh giành nhau. Người có máu kiêu căng, thì thế giới chỉ là những cái tôi lớn tìm cách đè bẹp nhau và tự trương phình mình. Người có máu ghen tương thì thế giới chỉ là những con người giành giật tình yêu nhau. Người có máu nghi ngờ thì thế giới chỉ là một sự dối trá lớn. Người có máu thiếu an ninh thì thế giới chỉ là một cái nhà bằng giấy carton có thể sụp đổ bất kỳ lúc nào…
Chính ta tạo ra thế giới của mình. Không ai tạo ra thế giới của mình cho mình được.
Trừ khi các người này tự cởi bỏ màu thủy tinh thể của mình, các công sức của người khác để giải thích cho họ về bản chất thật của cuộc đời thường chẳng đem lại tí kết quả nào cả. Lại có thể làm mất lòng nhau.
Vấn đề lại càng phức tạp hơn vì mỗi chúng ta không chỉ có một màu thủy tinh thể, mà lại có rất nhiều màu—tùy lúc và tùy người đối diện, màu thủy tinh thể của ta tự động đổi. Ví dụ: Gặp ông A thì màu thủy tinh thể ta tự động đổi ra màu “ghét”—ông này làm điều gì ta cũng thấy sai, cũng thấy dốt, cũng thấy có hại cho xã hội. Gặp ông B thì màu đổi ra thành nghi ngờ–ông này nói gì thì cũng nhất định nghĩ là ông ta nói dối. Gặp bà C thì lại tự động đổi ra màu ganh tị–bà này làm gì ta cũng muốn làm hơn và luôn luôn thầm mong cho bà ta không khá…

Kẹt một nỗi là thủy tinh thể thì không phải là kính đeo mắt để ta biết là ta có đeo một màn màu to tướng trước mắt. Thủy tinh thể chính là mắt và ta không biết được là ta đang bị màu mắt che hình ảnh của thế giới.
Chính vì thế mà ta thấy rất nhiều người trên thế giới nói năng điên rồ, hành động điên rồ, suy nghĩ điên rồ, làm hại cho bao nhiêu người chung quanh, để khổ cho bao nhiêu người chung quanh, nhưng không thể nào ta có thể giải thích cho họ hiểu để họ tự biết điều khiển màn màu mắt cả. Họ đơn giản là không thể tưởng tượng được họ đang bị màn màu che mắt.
Bởi vì sự cực kỳ khó khăn trong việc nhận thấy và xóa bỏ thành kiến của mình như thế, các truyền thống tâm linh đều có những từ đặc biệt để chỉ khả năng thấy được màu mắt mình và tự biến đổi màu mắt thành không màu. Khả năng đó gọi là Giác Ngộ (hay Ngộ) trong Phật giáo, và trong các tôn giáo thuộc truyền thống Moses (Do Thái giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo) thì gọi là Mặc Khải của Thượng đế (Relevatlion of God) hay Mặc khải của Thánh Linh (Revelation of the Holy Spirit).
Người ta phải dùng các từ lạ thường như thế, thay vì các từ thông thường như “hiểu biết”, “thấy được”, “tìm ra”… vì tinh cách lạ lùng của “sự mở mắt” này. Nó chẳng liên hệ gì đến sự thông minh của một người , hay thời gian học tập nghiên cứu, hay mức cố gắng tìm hiểu luyện tập, hay họ siêng đi nhà thờ hay đi chùa, hay họ siêng cầu nguyện mỗi ngày… Giác Ngộ hay Mặc Khải thường đến một cách bất ngờ, dưới những điều kiện không ly’ giải được bằng các tính toán thông thường. Vì vậy người ta thường nói đến Giác Ngộ và Mặc Khải như là một hiện tượng tâm linh, hơn là một kết quả tìm kiếm khoa học.
Dù khó khăn như thế, qua các kinh nghiệm Mặc Khải hay Giác Ngộ của nhiều người kể lại, cũng như qua kinh nghiệm của bản thân chúng ta, ta có thể nhận thấy vài điểm căn bản trên con đường đi đến Giác Ngộ hay Mặc Khải.

1. Phải có ước muốn, thật sự và mạnh mẽ, để hiểu được Sự Thật. Sự Thật viết hoa. Những người cho rằng tôi đã hiểu rõ con người tôi, tôi đã thánh thiện trước mặt Chúa, thế gian chỉ toàn người dối trá chỉ tôi là thành thật, thế gian say chỉ mình ta tỉnh, “thế” là “gian” tôi đi tu quách cho được việc…, những người như thế thường là sẽ mù suốt đời, vì họ hoàn toàn không có một mong ước nào để biết gì về họ. Họ tự mãn về kiến thức của mình về mình như thế, họ sẽ không bao giờ thấy con người thực của mình, không bao giờ thấy được tình yêu thực sự (ngoài “tình yêu” cho những người và những cái họ “yêu”), không bao giờ nghe được lời thầm thì của Thượng đế, không bao giờ nghe được tiếng sét của Thượng đế đánh ngang mày… Tự cho là mình biết đủ, hiểu đủ, tốt đủ về chính mình và về Sự Thật là màn Vô Minh lớn nhất và dày nhất–mà nhà Phật gọi là “cái Ngã” và Thiên chúa giáo gọi là Tội Đầu số một (The First Cardidnal Sin)—tội kiêu ngạo.
2. Các màu mắt của mình là do “Cái Tôi” biến hóa ra mà thành. Muốn cất hết các màu mắt thì chỉ có một cách duy nhất là cất đi cái tôi. Và ta có thể thấy hàng nghìn quyển sách chỉ ta cách giảm đi cái tôi. Mình không muốn lập đi lập lại các điều đó ở đây.
Mình chỉ muốn chia sẻ với các bạn một cách mà theo quan sát của mình thì nó vừa dễ để thực hiện vừa có công hiệu tốt cho mọi người. Trong truyền thông Thiên chúa giáo có câu: What Would Jesus Do? (Chúa Giê Su sẽ làm gì trong trường hợp tương tự?) Ở Mỹ ta thường thấy bán các lắc đeo tay có khắc bốn chữ WWJD, đó là câu What Would Jesus Do?

Tức là mỗi khi đối diện với một tình huống hay một suy tư nào đó trong đầu, ta tự hỏi “Chúa Giê Su sẽ làm gì nếu người là ta lúc này?” Người Thiên chúa giáo (nếu có đọc Thánh Kinh), hiểu được cách sống của Chúa Giê Su, đương nhiên là biết Chúa Giê Su sẽ làm gì, và noi gương người mà hành động như thế.
Ta cũng nên có một cái lắc tay ghi WWBD – What Would Buddha Do? Phật Thích Ca sẽ làm gì trong tình huống tương tự?
Nếu chúng ta thực hành cách này hàng ngày, trong tất cả mọi tình huống trong ngày, ngưng lại một giây và hỏi câu đó, thì từ từ ta sẽ rất khiêm tốn, cái tôi sẽ biết mất, và các màu mắt từ từ biến đi luôn…
Các bạn a, để mình nói cho các bạn nghe nhé. Các bạn đang còn đi học và chỉ nghĩ đến các mảnh bằng và công việc kiếm tiền. Không trường nào dạy các bạn các điều chúng ta đang bàn cả. Và các bạn có thể nghĩ là mảnh bằng và công việc là việc khó khăn và quan trọng nhất trên đời. Mình đã qua đoạn đó để biết là mấy thứ đó quan trọng và khó khăn, nhưng không “nhất.” Quan trong và khó khăn nhất là khả năng không để cho chính mình lừa dối và làm mù mắt mình. Và điều đó chẳng có đại học nào dạy bạn cả.
Các đại gia tham nhũng, dốt nát, hiếp dân hại nước nhất ngày nay, thường là người có bằng cấp cao và đã từng là những sinh viên trẻ trong sạch và nhiều nhiệt huyết.
Họ chỉ không học những điều cần thiết nhất trong khi họ trưởng thành.
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com
Chào các bạn,
Ai nghe nhạc guitar cổ điển cũng đều biết đến Andres Segovia, người mang cây guitar bình dân của Gypsies Tây Ban Nha trên đường phố vào thính phòng và những đại hí viện với những dàn đại hòa tấu, thành cây vương cầm, ngang hàng với violon và piano trong thính phòng.

Andrés Torres Segovia sinh ngày 21 tháng 2 năm 1893 ở Tây Ban Nha, học đàn Flamenco từ lúc 6 tuổi. Tuy nhiên khi lớn lên Segovia không chơi Flamenco, nhưng mang một số kỹ thuật Flamenco vào nhạc cổ điển, và do đó phong phú hóa kỹ thuật cũng như âm điệu guitar cổ điển. Kỹ thuật cao độ của Segovia cộng với các phát minh mới về kỹ thuật thu đĩa và thu băng, radio, và TV, giúp cho cây guitar cổ điển trở thành cây đàn được ưa chuộng và kính trọng khắp thế giới.
Năm 1958 Segovia được giải Grammy về Best Classical Performance (trình tấu cổ điển hay nhất), cho đĩa nhạc Segovia Golden Jubilee. Ngày 24 tháng 6 năm 1981, vua Tây Ban Nha Juan Carlos phong chức hoàng tộc cho Segovia “Marqués de Salobrena” (hầu tước của Salobrena).
Segovia vẫn trình diễn khi đã hơn 80 tuổi. Ông mất ngày 2 tháng 6 năm 1987, thọ 94 tuổi và được chôn cất tại lâu đài Casa Museo de Linares, ở Andalusia.
Một người bạn cùa mình, guitarist Trịnh Bách, là học trò yêu của Segovia. Bức ảnh cuối cùng của Segovia là do Trịnh Bách chụp một tháng trước khi Segovia qua đời.
Mình nhớ lúc mẹ Bách bị bệnh trong khoảng đầu thập niên 90, Bách bỏ tập và bỏ trình diễn guitar để lo cho mẹ. Những năm về sau này Bách về giúp phục dựng các hiện vật cung đình triều Nguyễn. Các bạn có thể theo dõi công việc phục hồi di sản văn hóa tốn kém tiền bạc và công sức này của Trịnh Bách tại đây. Hiện nay Trịnh Bách đang ở Hà Nội.
Sau đây mời các bạn xem một số video trình tấu của Segovia.
Chúc các bạn một ngày dịu dàng cổ điển.
Hoành
.
Andres Segovia – Asturias – Isaac Albeniz
.
Andres Segovia – The Song of the Guitar
.
Segovia plays Bach (Gavotte 1 & 2)
.
Frederico Moreno Torroba (1891-1982): Suite Castellana, I. Fandango.
.
Torroba Sonatina 1St Mov.mpg
Chào các bạn,

Truyên ngắn này mình đã đăng trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số 43-96 (677), 3.11.1996-9.11.1996, dưới bút danh Trần Đình. Vậy là lúc này đang nằm trong bệnh viện ở Singapore. Mình nhớ là viết bài này lúc còn ở Hà Nội. Gởi vào Tuổi Trẻ cho Nguyễn Đông Thức thì phải. Sau đó đi qua Singapore thì bị bệnh luôn.
Bản dưới đây đã được scanned và đặt trên Scribd.com. Các bạn có thể điều khiển màn ảnh cho dễ đọc. Click vào “Fullscreen” (ở phía trên) để xem màn ảnh lớn. Rồi dùng “Zoom – +” (ở cuối màn ảnh) để phóng đại chữ.
Tờ báo cũ quá nên đã hoen ố vài nơi. Mong các bạn thông cảm.
Chúc cả nhà một ngày vui.
Hoành
.