Huyền sử Bồ tát Đông Hải – Chương 10: Địa lợi

Toàn tập 21 chương >>

Trong vòng ba tháng, làn sóng tình nguyện vào nữ quân đoàn ở huyện Hòa Cường lan sang các huyện lân cận, rồi các tỉnh lân cận. Con số tình nguyện tăng lên đến hơn ba ngàn người. Giờ thì mọi người cực kì bận rộn. Trại binh được dựng lên cấp tốc, với vách tre và mái tranh. Các nữ chiến binh được yêu cầu tự lo đồng phục bà ba đen. Quân đoàn chỉ phát đai thắt lưng theo cấp bậc. Thấp nhất là đai đen và cao nhất là đai trắng, theo thứ tự từ dưới lên: đen, xanh lá cây, vàng, đỏ, trắng, với ý nghĩa đen là cơ sở, xanh lá cây là hy vọng, vàng là màu da tức là võ công đã đến da, đỏ là võ công đã vào máu, và trắng là võ công đã đến xương tủy.

Các cô học võ công và các kỹ năng quân sự ba ngày một tuần, và làm việc đồng áng sản xuất ba ngày một tuần, ngày còn lại tu thiền. Không có ngày nghỉ, vì thiền chính là nghỉ ngơi.

Các cô được huấn luyện đầy đủ các kỹ năng cần thiết cho một chiến binh trinh sát. Về truyền tin thì các cô học cách liên lạc bằng tiếng chim, tiếng chó, tiếng gà gáy, tiếng cú… hay dấu hiệu bằng tay, lửa, khói, kính bằng đồng phản chiếu ánh sáng… hay liên lạc cộng đồng bằng tiếng trống, lửa, khói… Các cô cũng học nuôi và huấn luyện bồ câu để đưa tin.

Các cô học quan sát dấu vết của thú vật và người đi trong rừng. Học định phương hướng. Học mưu sinh thoát hiểm, tìm cách sống còn nếu bị lạc một mình trong rừng hay nơi hoang dã.

Học leo núi. Học đu dây. Học bơi lội và lặn dưới nước.

Học chèo thuyền và điều khiển thuyền bè. Học làm và lái “diều” một người điều khiển, từ đỉnh núi bay từ từ xuống chân núi.

Học hóa trang. Học ẩn mình trong mọi tình huống. Học tạo hỗn loạn hay khói mù để thoát thân.

Các cô còn học sử dụng cung tên, phóng dao, phóng ám khí.

Và đương nhiên là học võ công Thái cực quyền và Thái cực kiếm thâm hậu.

Về tình hình an ninh thì mọi sự có vẻ tạm yên ổn. Ở phía bắc, hoàng hậu Đoan Trang và hoàng tử cả Đức Chính đã an toàn với Hữu tướng quân Công Đức. Hữu tướng quân cũng không muốn đưa quân về kinh thành vội, vì canh giữ biên thùy đất nước là việc quan trọng hơn. Cho nên, Hữu tướng quân cho người về kinh gặp Lã Quý Phi để nói chuyện hơn thiệt.

Hữu tướng quân cũng biết là Lã Quý Phi và Tả tướng quân Mạnh Kha, mỗi người đều có tham vọng quyền lực riêng, cho nên cho sứ giả điều đình riêng với Lã Quý Phi mà chẳng nói gì với Tả tướng quân sẽ làm cho hai người nghi ngờ nhau. Hơn nữa, cứ để đó từ từ thì hai vị cũng sẽ tự nhiên tranh nhau và làm yếu nhau. Lúc đó thanh toán hai vị cũng không muộn.

Ở phương nam, Xiêm Bộ có lẽ cần thời gian chuẩn bị. Quan tri huyện và ni cô Trương Bình nghĩ rằng Xiêm Bộ cần ít nhất là 6 tháng để triệu tập binh mã và chuẩn bị tấn công, cho nên ta có một thời gian ngắn để chuẩn bị. Tin tình báo cho biết Xiêm Bộ đã ban lệnh động viên bắt trai tráng vào lính, cho nên ý đồ xâm lăng có lẽ đã chắc chắn.

Đại Diệu Tâm, Phạm Hồng và Trần Lý ngày đêm vừa học hỏi, vừa huấn luyện chiến binh, vừa suy nghĩ chiến lược cho trận chiến sắp tới. Các cô đã cho nhiều toán trinh sát nhỏ trấn đóng trên các hải đảo dọc đường biển từ Xiêm Bộ đến Hòa Cường, để có thể thấy được quân Xiêm Bộ sớm trên đường chuyển quân của họ.

Hôm nay Đại Diệu Tâm, Phạm Hồng và Trần Lý lại ngồi ăn cơm tối và nói chuyện chiến lược.

– “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa,” Đại Diệu Tâm nói. “Trận này thì Xiêm Bộ sẽ chọn thiên thời cho họ, vì họ chủ động tấn công, ta nằm ở thế phòng thủ. Họ đương nhiên sẽ tấn công mùa biển lặng, chẳng dại gì mà đi trong mùa bão. Nhân hòa thì về ta, quân dân ta quyết tâm bảo vệ đất nước. Quân lính họ đi xâm lăng, nên có lẽ cũng chẳng hứng khởi gì.”

Cô ngừng một chút rồi nói tiếp: “Địa lợi, đây sẽ là yếu tố quyết định. Quân địch đến nhà mình, đất mình. Đây là đất của mình, mình phải hiểu thế đất của mình, để dùng chính mảnh đất của mình làm khí giới chống địch. Địch chẳng biết đất của mình như mình biết, cho nên mình phải tận dụng tối đa địa hình để dàn trận và chủ động chiến trường.”

– “Dàn trận ở đâu thì hay nhất?” Tả nguyên soái Phạm Hồng hỏi.

– “Có lẽ nơi tốt nhất là vịnh Hòa Cường, điểm đến đầu tiên của họ,” Đại Diệu Tâm trả lời. “Bên ngoài vịnh là biển khơi, họ có tự do chuyển động, rất khó cho ta đối đầu các chiến thuyền lớn của họ. Ta cũng chẳng thể cho phép họ cập bờ và đổ bộ binh lính, vì để binh lính họ túa ra tứ phía thì đã khá trễ cho ta, tình thế sẽ thành nguy ngập. Trận địa tốt nhất là vịnh Hòa Cường. Nếu toàn hạm đội của họ vào vịnh Hòa Cường, tức là toàn bộ họ nằm trong một vòng tròn thiên nhiên của vịnh, như bị tù, họ sẽ chẳng còn khả năng chuyển động tự do. Trong lúc đó thì ta tự do chuyển động bên ngoài vòng tròn đó. Ta chỉ cần nghĩ cách dùng lợi thế đó để tiêu diệt họ.”

Cả ba cô ngồi trầm ngâm suy nghĩ. “Vịnh Hòa Cường là trận địa, thì mình phải nghĩ cách biến nó thành một bẫy sập vĩ đại cho cả một hạm đội. Đó chính là điều sống chết, thắng bại,” Đại Diệu Tâm nói. “Cứ tiếp tục suy nghĩ, mình sẽ có chiến lược tốt. Giờ thì cứ ăn cho no đi đã,” Đại Diệu Tâm nói và cả ba cô cười khúc khích.

Rồi một ngày, ba cô tìm ra được chiến lược. Ba cô âm thầm sắp đặt kế hoạch, nhưng chẳng nói với ai điều gì.

Ba cô cho người chặt nhiều cây tre, vót nhọn và bịt sắt vào đầu nhọn, rồi cho cắm hàng loạt ở cửa cảng, chĩa đầu nhọn ra phía ngoài cảng, không cho tàu bè cập bến. Các cô rõ là không muốn hạm đội Xiêm Bộ có dịp vào cảng để đổ quân. Ngoài cảng ra thì phần còn lại của vịnh là đầm lầy nước đọng, chẳng thể đổ quân được. Dù vậy các cô cũng có quân mai phục trong vùng đầm lầy, đề phòng địch đổ quân bất ngờ khi tuyệt vọng.

Bên ngoài những hàng tre nhọn đó, các cô lại đặt nhiều phao nổi lớn bằng gỗ, bên trên là những đống vải cuộn thấm dầu để đốt.

Rồi ba cô cho thợ rèn làm những đoạn dây xích sắt dài cả vài trăm bước mỗi đoạn, và cho một toán quân người nhái của nữ quân đoàn đang đêm bí mật mang ra trải những đoạn xích này dọc ngang trên đáy vịnh Hòa Cường. Vịnh Hòa Cường giờ đã trở thành một bẫy sập với những sợi dây xích rất dài dọc ngang đáy vịnh, chờ hạm đội Xiêm Bộ.

Đến tháng Ba, tức là sáu tháng sau khi tiên đế băng hà, tiết trời mát mẻ và biển lặng, như đã tiên đoán, hạm đội Xiêm Bộ bắt đầu hành trình xâm lược. Trinh sát cho biết địch có khoảng 100 chiến thuyền, mỗi chiến thuyền có khoảng 100 binh lính, tổng cộng có khoảng 10 ngàn quân. Mỗi chiến thuyền có 20 tay chèo. Vận tốc khá nhanh. Có lẽ chỉ trong 3 ngày là có thể đến vịnh Hòa Cường. Một vài chiến thuyền của họ có súng thần công, có lẽ tổng cộng chỉ 5, 7 súng thần công cho cả hạm đội.

Nữ Quân đoàn Trinh sát Thần Ưng có khoảng 4 ngàn chiến binh, không có chiến hạm lớn. Thuyền của các cô là thuyền nhỏ như thuyền độc mộc, thuyền ba lá, và các thuyền lớn hơn một chút, nhưng dễ chuyển động nơi chật hẹp.

Đại Diệu Tâm đoán là hạm đội Xiêm Bộ sẽ bắt đầu tấn công từ tờ mờ sáng vì họ muốn có ánh sáng cả ngày để vừa tấn công vừa đổ bộ. Kế hoạch của ba cô thì lại dùng ban đêm, tức là ba cô cần phải cầm chân giặc khoảng nửa ngày. Hải đoàn người nhái, khoảng 300 người, đã chuẩn bị sẵn sàng trói địch.

Tờ mờ sáng ngày Ất Mùi hạm đội hùng hậu của địch xuất hiện che kín chân trời, lặng lẽ tiến vào vịnh Hòa Cường. Chúng bắt đầu đổi từ hàng ngang dài thành hàng dọc, chỉ ba bốn chiến thuyền một hàng ngang, và hạm đội biến thành một hàng dọc dài như rắn.

Nữ Quân đoàn Thần Ưng, cả 4 ngàn người, đã ẩn nấp đầy vòng bờ vịnh. Cả vịnh lặng như tờ. Đột nhiên mấy tiếng thần công nổ từ hàng hạm đội đầu tiên. Địch đang nổ súng thị uy. Nhưng nữ quân lặng yên chờ đợi.

Ba hàng chiến hạm đầu của địch, cỡ chục chiến thuyền, tiến sâu vào vịnh, hướng đến bờ cảng. Đại Diệu Lâm đưa tay ra hiệu, hàng chục mũi tên lửa bay đến các phao vải tẩm dầu, một hàng rào lửa vĩ đại trỗi lên trước cửa cảng. Các chiến thuyền địch chậm lại và dừng. Họ chẳng biết phải làm gì với hàng rào lửa đó. Họ cho nổ thần công, có lẽ nhắm vào hàng rào lửa, nhưng những viên đạn thần công vĩ đại cũng chỉ rơi vào nước làm bắn nước tung tóe, chẳng ảnh hưởng gì mấy đến những chiếc phao lửa. Nhiều chiến thuyền khác tiến vào vịnh, nhưng dừng lại đứng yên sau lưng những thuyền vào trước, và chẳng làm gì cả.

Các chiến thuyền đầu tiên có lẽ mất kiên nhẫn, bắt đầu tiến thẳng vào hàng rào lửa. Đại Diệu Tâm ra hiệu, từ trên bờ các súng ná lớn bắn đá bắt đầu bắn những trái cầu lửa khổng lồ, làm bằng đá và rơm tẩm dầu, lên những chiến thuyền đó. Người ta thấy binh sĩ Xiêm Bộ chạy lăng xăng trên thuyền tìm cách dập lửa. Hàng thuyền đầu của Xiêm Bộ lại ngừng. Đại Diệu Tâm ra hiệu ngưng bắn cầu lửa.

Rõ ràng là Đại Diệu Tâm không muốn đánh nhau nhiều với địch, mà chỉ muốn địch không vào được cửa cảng, không thể đổ bộ quân. Trong khi đó thì các chiến thuyền của địch vào vịnh càng lúc càng nhiều. Chỉ khoảng hai canh giờ là mọi chiến thuyền của địch đã vào vịnh. Cả hạm đội nằm kín vịnh. Hàng chiến thuyền đầu tiên vẫn còn đứng yên đó.

Cuộc chiến cứ kéo dài như thế. Nếu thuyền địch cố tiến qua hàng rào lửa, các nữ chiến binh phóng cầu lửa chận lại. Nếu họ ngừng, các nữ chiến binh ngừng. Xem ra các nữ chiến binh chỉ chiến đấu cầm chừng, và chiến thuyền địch cũng chẳng cảm thấy cần gấp gáp. Có lẽ hạm đội địch thích thú với kiểu đánh nhau chậm rãi này, vì họ vừa đi xa mệt mỏi, giờ được nghỉ ngơi một lúc.

Rồi trời bắt đầu vào đêm. Vịnh Hòa Cường lặng yên. Cả hai bên chẳng bên nào buồn làm gì. Hạm đội địch đèn đuốc chập chờn đầy vịnh, như hội thuyền hoa. Nếu không có bức tường lửa vẫn cháy rực thì có lẽ người ta tưởng lầm đó là một hội thuyền hoa.

Bỗng nhiên Đại Diệu Tâm đưa tay ra hiệu lệnh, tiếng trống trận nữ quân vang rền, và nữ quân đoàn bắn cầu lửa ồ ạt vào các chiến thuyền của địch trên khắp vịnh. Quân địch chạy lăng xăng lo dập những loạt cầu lửa liên tục mưa trên hạm đội. Vài chiến thuyền địch nổ thần công lên bờ, nhưng có lẽ đạn chỉ đụng đất trống. Bên hạm đội địch có tiếng tù và dập dồn, như là một hiệu lệnh gì đó.

Nhưng trận mưa lửa đang rơi chỉ là trận pháp dương đông kích tây. Dưới bóng đêm và sự bận rộn cuống cuồng trên hạm đội địch, hải đoàn người nhái của Nữ Quân đoàn Thần Ưng âm thầm làm việc. Họ ngậm ống sậy để thở, bơi dưới mặt nước, ra đến từng tàu địch. Ba người nhái đến mỗi chiếc tàu. Đến nơi, họ lặn xuống đáy vịnh, nhặt dây xích, nổi lên, buộc dây xích vào bánh lái thuyền, rồi tiếp tục lần theo dây xích, đến nơi có thuyền khác và buộc tiếp như thế, buộc thuyền này vào với thuyền kia, xích này vào với xích kia. Chỉ trong thời gian tàn cây nhang, 300 cô người nhái đã dùng dây xích buộc chặt 100 bánh lái và buộc 100 thuyền địch lại với nhau thành một khối. Rồi các cô lặng lẽ bơi về. Quân địch chẳng hay biết gì vì mải lăng xăng dập lửa.

Hải đội người nhái bắn một chiếc pháo hoa màu xanh lá cây lên trời làm hiệu. Đại Diệu Tâm ra lệnh nổi trống tổng tấn công. Tiếng trống trận dồn dập ồ ạt vang lừng khắp vịnh. Súng bắn đá giờ xuất hiện tràn ngập quanh vịnh, chẳng chỉ là một ít như trước đó, bắn cầu lửa và bắn cả những thùng dầu lớn vào hạm đội địch. Các thùng dầu rơi trên mặt thuyền địch, vỡ tung tóe, bắt lửa, cháy lên phừng phừng. Mặt biển bỗng sáng bừng ánh lửa khắp nơi. Toàn hạm đội địch bốc lửa. Vịnh Hòa Cường giờ đã thành một biển lửa ngợp trời đêm. Binh lính địch cuống cuồng dập lửa, nhưng các chiến thuyền bốc cháy càng ngày càng mạnh. Gió biển thổi lửa phừng phừng. Trống trận của nữ quân thúc giục nhịp tấn công ồ ạt. Súng bắn cầu lửa và dầu vẫn ráo riết bắn đến các mục tiêu giờ đang chết đứng giữa vịnh.

Hạm đội không di chuyển đâu được và đang bốc cháy. Địch quân bắt đầu kinh hoàng và nhiều người bắt đầu lao xuống biển. Từ trong bờ, nữ quân trên thuyền độc mộc và thuyền ba lá lao ra, cung tên và giáo mác lăm lăm. Binh lính địch lội bì bõm, chẳng vũ khí gì trên tay, chẳng chiến đấu, chỉ đưa hai tay lên hàng.

Cả một hạm đội bị cháy rụi, và cả một hạm đội đầu hàng.

Nữ binh trên những chiến thuyền con, và nữ binh trên bờ, điều khiển 10 ngàn lính địch lên bờ, ngồi đầy các bờ cảng.

Bên ta chẳng mất một người. Bên địch cũng còn nguyên vẹn, có lẽ ngoại trừ vài người không biết bơi bị chết đuối.

Đó là một cuộc đại chiến dịu dàng. Cảm ơn Phật tổ đã đưa đến một kết cuộc dịu dàng như thế.

Đại Diệu Tâm ra lệnh: “Xiềng hai chân các tù binh lại. Nhưng hãy đối xử với họ tử tế. Họ cũng là chiến binh như mình.”

Ba cô nguyên soái bá vai nhau đứng nhìn trận địa, lòng tràn đầy vui sướng. Đại Diệu Tâm nói với hai cô em: “Đó là địa lợi. Biết rõ đất mình, và mình sẽ thắng.”

***

© copyright 2020
Trần Đình Hoành & Phạm Thu Hương
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Một suy nghĩ 3 thoughts on “Huyền sử Bồ tát Đông Hải – Chương 10: Địa lợi”

  1. Em thấy trong mỗi bài viết của anh Hoành đều chứa 1 câu là chân lý, triết lý sâu sắc. Em rất thích điều này ở các bài của anh. Và e nghĩ rằng mọi người cũng vậy.

    Em cảm ơn anh Hoành, chị Hương đã viết truyện.
    Em xin cầu nguyện để anh Hoành, chị Hương, gia đình anh, chị và gia đình Đọt Chuối Non luôn mạnh khỏe ạ.

    Số lượt thích

  2. Đọc chương này lại thấy như hội hoa đăng, một màn biểu diễn nghệ thuật hơn là đánh nhau. Em thấy rất nhiều sắc màu tươi sáng ^^

    Một bức tranh đẹp!

    Cảm ơn anh chị đã vẽ tranh trong chuyện.

    Em Phương

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s