Sứ điệp của Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhân ngày Hòa Bình Thế giới thứ 49 (1/1/2016) – Message of His Holiness Pope Francis for the celebration of the 49th World Day of Peace

 Đức Thánh Cha Phanxicô – Sứ Điệp Hòa Bình 1/1/2016

 Thắng Vượt Lãnh Đạm Chiếm Lấy Hòa Bình

1- Thiên Chúa không dửng dưng lạnh lùng! Thiên Chúa chăm sóc nhân loại! Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta! Mở màn cho một Tân Niên, tôi muốn chia sẻ chẳng những niềm xác tín sâu xa này mà còn cả những lời thân ái chúc nguyện tốt đẹp được thịnh vượng, bình an và viên trọn hết mọi niềm hy vọng của hết mọi con người nam nữ, của hết mọi gia đình, dân tộc và quốc gia ở khắp thế giới, bao gồm tất cả Quí Vị Lãnh Đạo Quốc Gia và Chính Quyền cũng như tất cả mọi vị lãnh đạo tôn giáo. Chúng ta tiếp tục tin tưởng rằng năm 2016 sẽ chứng kiến thấy tất cả chúng ta mãnh liệt và tin tưởng dấn thân ở các lãnh vực khác nhau trong việc theo đuổi công lý và hòa bình. Bình an vừa là tặng ân của Thiên Chúa vừa là việc đạt thành của loài người. Là tặng ân của Thiên Chúa, nó được trao phó cho tất cả mọi con người nam nữ được kêu gọi để thành đạt nó.

Việc bảo tồn những lý do chúng ta hy vọng

2- Thảm thương thay, chiến tranh và khủng bố, bao gồm cả việc bắt cóc, cả tình trạng bách hại sắc tộc và tôn giáo cùng với việc lạm dụng quyền lực, là những gì đã đánh dấu năm vừa qua từ đầu năm đến cuối năm. Ở nhiều phần đất trên thế giới, những sự ấy đã trở thành quá thông thường như thể tạo nên một thứ “thế chiến thứ ba diễn ra từng mảnh” thực sự vậy. Tuy nhiên, một số biến cố trong năm đang kết thúc này khiến tôi phấn khởi hướng đến năm mới để phấn khích hết mọi người đừng mất hy vọng vào khả năng của loài người trong việc chế ngự sự dữ và chống lại tình trạng thoái lui và dửng dưng lạnh lùng. Những biến cố ấy chứng tỏ khả năng của chúng ta biết đoàn kết và vượt lên trên tư lợi, trên thái độ hờ hững và dửng dưng lạnh lùng trước những tình trạng khẩn trương.

Ở đây tôi xin đề cập đến những nỗ lực qui tụ các vị lãnh đạo trên thế giới ở COP21 để tìm kiếm những cách thức mới trong việc chống lại tình trạng thay đổi khí hậu và bảo vệ trái đất là ngôi nhà chung của chúng ta này. Chúng ta cũng có thể nghĩ đến hai biến cố toàn cầu trước đó nữa: Cuộc Họp Thượng Đỉnh Assis Ababa về vấn đề tài trợ cho việc phát triển bền vững toàn cầu cũng như vấn đề chấp thuận Chương Trình Nghị Sự 2030 của Liên Hiệp Quốc về Phát Triển Bền Vững nhằm bảo đảm một mức sống xứng đáng hơn cho tất cả mọi dân tộc trên thế giới, nhất là cho người nghèo vào thời hạn năm đó.

Đối với Giáo Hội, năm 2015 là một năm đặc biệt, vì nó đã đánh dấu việc kỷ niệm 50 năm hai văn kiện của Công Đồng Chung Vaticanô II là những gì cho thấy cái cảm quan đoàn kết với thế giới của Giáo Hội một cách hùng hồn. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, khi khai mạc Công Đồng này, đã muốn mở rộng cửa của Giáo Hội và cải tiến việc đối thoại của Giáo Hội với thế giới. Hai văn kiện này, Nostra AetateGaudium et Spes, là những gì tiêu biểu cho mối liên hệ mới trong việc đối thoại, liên kết và hỗ trợ được Giáo Hội tìm cách để tái bừng lên trong gia đình nhân loại. Nơi Tuyên Ngôn Nostra Aetate, Giáo Hội đã bày tỏ việc Giáo Hội cởi mở để đối thoại với các tôn giáo ngoài Kitô giáo. Nơi Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et Spes, dựa vào việc nhận thức rằng “các niềm vui mừng và hy vọng, nỗi ưu phiền và sầu khổ của dân chúng trong thời đại chúng ta, nhất là của những ai nghèo khổ hay yếu kém, cũng là những niềm vui mừng và hy vọng, nỗi ưu phiền và sầu khổ của thành phần môn đệ Chúa Kitô nữa” (1), Giáo Hội đã có ý định đối thoại, như là một dấu hiệu đoàn kết, trân trọng và cảm mến với toàn thể gia đình nhân loại về các vấn đề của thế giới chúng ta. (2)

(Phụ dẫn của người dịch: “Nostra Aetate” có nghĩa là “Trong Thời Đại của Chúng Ta”, một văn kiện ở tầm mức Tuyên Ngôn chứ không phải Sắc Lệnh – Decree cần phải thi hành hay Hiến Chế – Constitution liên quan đến bản chất của thực thể, được 2.221 phiếu thuận và 88 phiếu bất đồng, và được ĐTC Phaolô VI ban hành ngày 28/10/1965. “Gaudium et Spes” có nghĩa là “Vui Mừng và Hy Vọng”, một văn kiện ở mức độ giáo huấn cao nhất trong 3 loại văn kiện của công đồng này, so với Sắc Lệnh và Tuyên Ngôn, một văn kiện về Mục Vụ của Giáo Hội, song song với Hiến Chế Lumen Gentium – Ánh Sáng Muôn Dân về Tín Lý của Giáo Hội, và Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng này được ban hành, sau cùng trong 4 Hiến Chế và sau cùng trong 16 văn kiện của công đồng Vaticanô II, vào ngày 7/12/1965, ngay trước khi công đồng bế mạc ngày 8/12/1965, với 2.307 phiếu thuận và 75 phiếu bất đồng, và là một văn kiện có thể nói đóng vai trò chính yếu nhất và tiêu biểu nhất cho tinh thần cũng như đường hướng mới của Giáo Hội ở vào thời điểm thập niên 1960, bắt đầu hậu bán thế kỷ 20, qua Công Đồng Chung thứ 21 này của Giáo Hội).

Theo những chiều hướng ấy, bằng Năm Thánh Tình Thương hiện nay, tôi muốn mời gọi Giáo Hội hãy cầu nguyện và hoạt động để hết mọi Kitô hữu có được một tâm can khiêm hạ và cảm thương, một tâm can có thể loan báo và làm chứng cho tình thương. Tôi hy vọng rằng tất cả chúng ta sẽ biết “tha thứ và ban tặng”, biết trở nên cởi mở hơn “với những ai sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh nhất trong xã hội – những nơi xa xôi hẻo lánh do chính xã hội tân tiến này tạo nên” (1), và không bị rơi vào “một thứ dửng dưng ô nhục hay một thứ nề nếp đơn điệu ngăn cản chúng ta trong việc khám phá thấy những gì mới mẻ! Chúng ta hãy loại bỏ đi chủ nghĩa yếm thế hủy hoại!” (3)

Có nhiều lý do tốt lành để tin vào khả năng của nhân loại trong việc cùng nhau tác hành theo tình đoàn kết, và theo mối tương liên hệ và tương liên thuộc, trong việc chứng tỏ mối quan tâm đối với thành phần mềm yếu nhất trong những người anh chị em của chúng ta cũng như với việc bảo vệ công ích. Thái độ tương trách này được xuất phát từ ơn gọi nền tảng của chúng ta về tình huynh đệ và một đời sống chung. Phẩm giá cá nhân và các mối quan hệ liên cá thể là những gì cấu tạo nên chúng ta như là những con người Thiên Chúa muốn tạo dựng nên theo hình ảnh của Ngài và tương tự như Ngài. Là những tạo vật được phú bẩm cho phẩm vị bất khả chuyển nhượng, chúng ta được liên hệ với tất cả mọi anh chị em chúng ta là những con người chúng ta có trách nhiệm và là những con người chúng ta liên kết tác hành. Thiếu mối liên hệ này, chúng ta sẽ không còn nhân bản mấy nữa. Bấy giờ chúng ta sẽ thấy cái dửng dưng lạnh lùng hiện lên như là một thứ đe dọa cho gia đình nhân loại. Vào lúc chúng ta đang tiến gần tới một năm mới đây, tôi xin hết mọi người hãy kiểm điểm về thực tại này để thắng vượt dửng dưng mà chiếm lấy hòa bình.

Những thứ dửng dưng lạnh lùng

3- Hiển nhiên là thái độ dửng dưng lạnh lùng không phải là cái gì mới mẻ; hết mọi giai đoạn lịch sử đã từng chứng kiến thấy thành phần đóng lòng mình lại trước các nhu cầu của người khác, thành phần nhắm mắt lại trước những gì đang xẩy ra chung quanh mình, thành phần quay mặt đi để tránh phải đối đầu với những vấn đề của người khác. Thế nhưng, trong thời đại của chúng ta đây, tình trạng lãnh đạm đã không còn là một vấn đề riêng tư cá nhân nữa mà đã có những tầm vóc bao rộng hơn, phát sinh ra “một thứ toàn cầu hóa lãnh đạm” nào đó.

Thứ lãnh đạm đầu tiên trong xã hội loài người đó là thứ lãnh đạm với Thiên Chúa, thứ lãnh đạm sau đó dẫn tới thứ lãnh đạm với tha nhân cũng như với môi sinh. Đó là một trong những hậu quả trầm trọng nhất của một thứ chủ nghĩa nhân bản sai lầm và của một thứ duy vật chủ nghĩa thực tiễn liên minh với tương đối chủ nghĩa và hư ảo chủ nghĩa. Chúng ta đã tiến tới chỗ nghĩ rằng mình là nguồn gốc và là hóa công của chính bản thân mình, của đời sống mình và của xã hội mình. Chúng ta cảm thấy tự mãn, sẵn sàng tìm cách chẳng những thay thế Thiên Chúa mà còn thực hiện hoàn toàn chẳng cần đến Ngài. Hậu quả xẩy ra là chúng ta cảm thấy rằng chúng ta chẳng nợ nần gì ai hết ngoài chính bản thân mình, và chúng ta chỉ đòi hỏi quyền lợi mà thôi (4). Để chống lại với nhận thức sai lầm này về con người, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã nhận định rằng chính con người hay việc phát triển của con người tự mình không thể giải đáp được vấn đề ý nghĩa tối hậu của chúng ta (5). Đức Phaolô VI cũng nói rằng “không có vấn đề thực sự nhân bản ngoài thứ nhân bản hướng về Đấng Tuyệt Đối, và ý thức được một thứ ơn gọi cống hiến cho cuộc sống của con người ý nghĩa đích thực của nó” (6).

Thái độ lãnh đạm với tha nhân của chúng ta tỏ hiện ở những cách thức khác nhau. Một số người theo dõi tin tức; họ nghe truyền thanh, đọc nhật báo hay xem truyền hình, nhưng họ làm như thế một cách máy móc và chẳng động đậy nhúc nhích gì hết. Họ mơ hồ nhận thức về những thảm nạn đang gây nhức nhối cho nhân loại, nhưng họ chẳng có cảm quan liên hệ hay cảm thương gì hết. Thái độ của họ là thái độ của những người biết thì biết vậy đấy nhưng chỉ chăm chú, nghĩ tưởng và tác hành cho bản thân mình thôi. Tiếc thay, cần phải nói rằng việc bùng nổ tín liệu ngày nay tự nó không dẫn đến chỗ gia tăng mối quan tâm đến các vấn đề của người khác là những gì cần phải cởi mở và một cảm quan liên kết (7). Thật vậy, cái dồi dào thừa thãi của tín liệu có thể làm cho các cảm quan của con người trở thành tê cứng, và ở một mức độ nào đó làm giảm thiểu tầm vóc trầm trọng của các thứ vấn đề. Có những người “chỉ cảm thấy mình là ngon lành bằng việc trách cứ chính người nghèo và các xứ sở nghèo về những trục trặc rắc rối của các thành phần này; bị yên trí với những thứ vơ đũa cả nắm một cách bấp bênh, họ cho rằng vấn đề cần giải quyết đó là một ‘thứ giáo dục’ có thể trấn an những thành phần ấy, làm cho những người ấy trở nên thuần thục và vô hại. Tất cả những điều này càng khiến những người sống bên lề xã hội hận dữ hơn nữa trước tình trạng băng hoại lan rộng và sâu nặng ở nhiều xứ sở – ở các chính quyền, các thứ thương vụ và các cơ cấu tổ chức mà họ thấy được – bất chấp ý hệ chính trị của các nhà lãnh đạo họ” (8).

Ở những trường hợp khác, thái độ lãnh đạm tỏ hiện nơi sự thiếu quan tâm về những gì đang xẩy ra chung quanh chúng ta, nhất là nều nó không trực tiếp đụng chạm đến chúng ta. Một số người không thích đặt vấn đề hay tìm câu giải đáp; họ sống cuộc đời tiện nghi thoải mái, bịt tai trước tiếng kêu của những người đau khổ. Hầu như vô nhận thức, chúng ta càng ngày càng không thể cảm thương người khác và các vấn đề của người khác; chúng ta không chú trọng tới việc chăm sóc cho họ, như thể các rắc rối trục trặc của họ thuộc về trách nhiệm của riêng họ, chẳng liên can gì đến chúng ta (9). “Khi chúng ta được lành mạnh và thoải mái, chúng ta quên mất những người khác (một điều mà Thiên Chúa là Cha chẳng bao giờ làm): chúng ta chẳng quan tâm đến các vấn đề của những người ấy, các khổ đau cũng như các bất công những người này phải chịu… Tâm can của chúng ta trở nên lạnh lùng. Miễn là tôi tương đối lành mạnh và thoải mái thì tôi chẳng nghĩ đến những ai kém may mắn hơn tôi” (10).

Vì chúng ta ở trong một ngôi nhà chung, chúng ta không thể nào không tự vấn về tình trạng sức khỏe của ngôi nhà chung này, như tôi đã tìm cách làm như thế trong Thông Điệp Laudato Sí. Nước và tình trạng ô nhiễm không khí, việc khai thác bừa bãi các rừng cây và việc hủy hoại môi sinh thiên nhiên vạn vật thường gây ra bởi tình trạng con người lãnh đạm với con người, vì hết mọi sự đều có liên hệ với nhau. Bởi thế, cả đến cách thức chúng ta đối xử với các con thú vật nữa, cũng ảnh hưởng tới cách thức chúng ta đối xử với người khác (11), và có những trường hợp mà dân chúng tha hồ làm ở các nơi khác những gì họ lại chẳng bao giờ dám làm ở nhà của họ (12).

Trong những trường hợp này hay trường hợp nọ, tình trạng lãnh đạm sẽ dẫn đến chỗ quyện lấy bản thân mình và chẳng biết dấn thân là gì. Bởi thế nó mới góp phần vào tình trạng thiếu vắng hòa bình với Thiên Chúa, với tha nhân và với môi sinh.

Hòa Bình bị tình trạng toàn cầu hóa lãnh đạm đe dọa

4- Tình trạng lãnh đạm đối với Thiên Chúa vượt qua lãnh vực thuần túy tư riêng cá nhân và ảnh hưởng tới lãnh vực quần chúng và xã hội. Đức Benedict XVI đã cho thấy rằng: “Việc toàn cầu hóa về Thiên Chúa và hòa bình của con người là những gì liên hệ chặt chẽ với nhau” (13). Thật vậy, “không hướng về siêu việt thể, loài người sẽ trở thành con mồi cho tương đối chủ nghĩa và cảm thấy khó lòng tác hành một cách chính đáng và hoạt động cho hòa bình” (14). Thái độ coi thường và chối bỏ Thiên Chúa, một thái độ khiến cho con người không công nhận một chuẩn định nào trên mình mà chỉ chấp nhận duy bản thân mình mà thôi, đã làm phát sinh ra tình trạng hung dữ tàn độc và bạo lực không thể nào tưởng tượng nổi (15).

Cả về phương diện cá nhân hay cộng đồng, thái độ lãnh đạm với tha nhân của mình, xuất phát từ việc lãnh đạm với Thiên Chúa, được thể hiện nơi tính cách không tha thiết quan tâm và thiếu vắng việc tham gia, là những gì chỉ thêm kéo dài những trường hợp bất công và bất quân bình trầm trọng về xã hội. Những điều ấy từ đó có thể gây ra những xung khắc, hay ở bất cứ trường hợp nào, làm phát sinh một bầu khí bất mãn có nguy cơ không sớm thì muộn làm bùng lên những hành động bạo lực và bất ổn.

Tình lãnh đạm và thiếu dấn thân là những gì tạo nên một thứ xao lãng trầm trọng nhiệm vụ mà mỗi người chúng ta cần phải làm việc theo khả năng và vai trò của mình trong xã hội đối với việc cổ võ cho công ích, nhất là cho hòa bình là một trong những sự thiện quí báu nhất của nhân loại (16).

Về phương diện cơ cấu tổ chức, tính lãnh đạm với những người khác và với phẩm giá của họ, với các quyền lợi căn bản của họ và quyền tự do của họ, một khi nó thuộc về một thứ văn hóa chỉ theo đuổi lợi lộc và khoái lạc chủ nghĩa, có thể cổ võ và thậm chí biện minh cho những hành động cùng với các chính sách cuối cùng chỉ nhắm tới chỗ đe dọa hòa bình. Tính lãnh đạm thậm chí còn có thể dẫn tới chỗ biện minh cho các chính sách kinh tế tồi bại dung dưỡng bất công, chia rẽ và bạo động để bảo đảm phúc lợi cho các cá nhân hay các quốc gia. Không phải là không thường xẩy ra là có các dự án kinh tế và chính trị nhắm đến chỗ bảo đảm hay bảo tồn quyền lực và giầu sang, bất chấp có chà đạp lên các thứ quyền lợi và nhu cầu căn bản của những người khác. Khi dân chúng chứng kiến thấy các thứ quyền lợi căn bản của mình bị chối bỏ, như quyền được có lương thực, có nước nôi, được chăm sóc sức khỏe hay có được công ăn việc làm, họ có khuynh hướng sử dụng võ lực để chiếm lấy những thứ ấy (17).

Hơn nữa, tính lãnh đạm đối với môi trường thiên nhiên, bằng việc khuyến khích phá rừng, phóng uế và những thiên tai khiến đảo lộn guồng máy kinh tế nơi toàn thể cộng đồng của họ và gây ra tình trạng bất ổn trầm trọng, cuối cùng tiến đến chỗ tạo nên những hình thức bần cùng mới và những tình trạng bất công mới, thường kèm theo những hậu quả thảm khốc cho vấn đề an ninh và hòa bình. Biết bao nhiêu là trận chiến và sẽ còn bao nhiêu chiến trận nữa về tình trạng thiếu hụt sản vật hay xuất phát từ một nỗi khát khao khôn thỏa về các nguồn tài nguyên thiên nhiên? (18).

Từ lãnh đạm đến thương xót: việc hoán cải tâm can

5- Một năm trước đây, trong Sứ Điệp của tôi cho Ngày Thế Giới Hòa Bình 2015, nhan đề “Không Còn là Những Kẻ Nô Lệ mà là Anh Chị Em”, tôi đã gợi lên một hình ảnh thánh kinh đầu tiên về tình huynh đệ nhân loại, hình ảnh về Cain và Abel (xem Khởi Nguyên 4:1-16). Tôi có ý muốn chú trọng tới chỗ làm thế nào mà ngay từ ban đầu tình huynh đệ nguyên khôi này đã bị phản bội. Cain và Abel là anh em với nhau. Cả hai đều xuất thân từ cùng một lòng mẹ, họ bình đẳng về phẩm giá và được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa và tương tự như Thiên Chúa; thế nhưng mối liên hệ anh em của họ đã bị hủy hoại. “Cain chẳng những không chấp nhận được Abel; anh ta còn vì ghen tương mà sát hại em mình nữa” (19). Cảnh huynh đệ tương tàn là thứ hình thức phản bội, và việc Cain từ chối không nhìn nhận Abel là người em của mình đã biến thành một cuộc khủng hoảng đầu tiên nơi các mối liên hệ gia đình về tình huynh đệ, tình đoàn kết và niềm tương kính.

Thế rồi Thiên Chúa đã can thiệp để nhắc nhở con người về trách nhiệm của họ đối với đồng loại của mình, như Ngài đã thực hiện khi Adong và Evà là phụ mẫu tiên khởi của chúng ta gây gián đoạn mối liên hệ của các vị với Ngài, Tạo Hóa của các vị. “Bấy giờ Chúa đã hỏi Cain rằng: ‘Abel em của ngươi đâu?’ Hắn đáp: ‘Tôi không biết; chẳng lẽ tôi là người canh giữ em tôi hay sao?’ Thế nhưng Chúa phán: ‘Ngươi đã làm gì rồi? Tiếng máu của em ngươi từ trái đất đã vang lên tới Ta đây” (Khởi Nguyên 4:9-10).

Cain đã nói rằng hắn không biết những gì đã xẩy ra cho người em của hắn, rằng hắn không phải là người canh giữ em của hắn. Hắn không cảm thấy mình có trách nhiệm về mạng sống em hắn, về số phận của em hắn. Hắn cảm thấy chẳng có dính dáng gì. Hắn tỏ ra lãnh đạm với em hắn cho dù cả hai đều có cùng một nguồn gốc. Thật là thảm! Một câu chuyện đáng tiếc biết bao về anh em, về gia đình, về nhân loại! Đó là cảnh đầu tiên về tính lãnh đạm giữa anh em với nhau. Tuy nhiên, Thiên Chúa lại không phải là Đấng lãnh đạm. Máu của Abel có một giá trị trọng đại trước nhan Ngài, và Ngài đã hỏi Cain phải trả lẽ về máu ấy. Ở ngay khởi nguyên của loài người, Thiên Chúa đã chứng tỏ Ngài dự phần vào định mệnh của con người. Sau đó, khi con cái Israel bị làm tôi ở Ai Cập, Thiên Chúa lại ra tay can thiệp mà nói cùng Moisen rằng:”Ta đã thấy cảnh khốn khổ của dân Ta nơi Ai Cập, và đã nghe thấy tiếng kêu của họ vì họ phải chịu đựng thành phần đốc công của họ; Ta thấy những nỗi khổ đau của họ và Ta đến để giải cứu họ khỏi tay của người Ai Cập, mà mang họ ra khỏi mảnh đất này đến một miền đất tốt tươi rộng rãi, một miền đất chảy sữa và mật” (Xuất Hành 3:7-8). Chúng ta cần phải chú ý tới những động từ cho thấy việc can thiệp của Thiên Chúa: Ngài nhìn thấy, nghe thấy, biết được, đến với và giải cứu. Thiên Chúa không tỏ ra dửng dưng lãnh đạm. Ngài chú trọng và ra tay hành động.

Cũng thế, nơi Giêsu Con của Ngài, Thiên Chúa đã xuống ở giữa chúng ta. Ngài đã mặc lấy xác thịt và đã tỏ ra Ngài liên kết với nhân loại trong hết mọi sự ngoại trừ tội lỗi. Chúa Giêsu đã đồng hóa mình với chúng ta: Người đã trở nên “trưởng tử giữa nhiều anh em” (Roma 8:29). Người không chỉ giảng dạy cho đám đông dân chúng mà còn quan tâm đến phúc lợi của họ nữa, nhất là khi Người thấy họ đói (xem Marco 6:34-44), hay không có việc làm (xem Mathêu 20:3). Người tỏ ra quan tâm chẳng những đối với những con người nam nữ mà còn đối với cả cá biển, chim trời, cây cối, tất cả mọi sự lớn nhỏ. Người đã thấy và bao gồm tất cả thiên nhiên tạo vật. Thế nhưng Người không phải chỉ nhìn thấy; Người đã chạm đến đời sống của dân chúng, Người đã nói với họ, đã giúp họ và tỏ lòng nhân hậu với những ai đang cần đến Người. Chẳng những thế, Người đã có những cảm xúc mãnh liệt và đã khóc (xem Gioan 11:33-44). Người đã làm việc để chấm dứt khổ đau, sầu thương, khốn cực và chết chóc.

Chúa Giêsu đã dạy chúng ta hãy thương xót như Cha trên trời của chúng ta (xem Luca 6:36). Trong dụ ngôn Người Samaritanô Nhân Lành (xem Luca 10:29-37), Người đã lên án những ai không chịu giúp đáp người khác khi họ đang cần giúp, những ai “tránh sang bên kia đường” (xem Luca 10:31-32). Với dụ ngôn này, Người đã dạy cho những ai nghe Người, đặc biệt là các môn đệ của Người, hãy dừng lại và hãy làm nhẹ bớt những nỗi khổ đau của thế giới này, cũng như những nỗi đau đớn của anh chị em chúng ta, bằng cách sử dụng bất cứ phương tiện nào sẵn có trong tầm tay của mình, bắt đầu bằng chính thời gian của mình, cho dù chúng ta có bận đến đâu chăng nữa. Thái độ lãnh đạm thường tìm đủ lý do châm chước: nào là cần phải tuân giữ các qui định về nghi thức, nào là cần phải chú ý tới tất cả những gì cần phải làm, nào là những hận thù và thành kiến nghi kỵ kín đáo.

Tình thương là con tim của Thiên Chúa. Tình thương cũng cần phải là con tim của các phần tử thuộc một đại gia đình duy nhất của con cái Ngài: một con tim lại càng rung động mạnh hơn hơn bất cứ khi nào phẩm giá của con người – như là một phản ảnh dung nhan của Thiên Chúa nơi các tạo vật của Ngài – đang bị vi phạm. Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng tình yêu thương đối với những người khác – những kiều cư xa lạ, bệnh nhân, tù nhân, vô gia cư, thậm chí cả đến kẻ thù của chúng ta – là thước đo được sử dụng để Thiên Chúa phán xét chúng ta. Định mệnh đời đời của chúng ta lệ thuộc vào điều ấy. Bởi thế, chẳng lạ gì Tông Đồ Phaolô đã nói với Kitô hữu Giáo đoàn Rôma là hãy vui với người vui và khóc với người khóc (xem Roma 12:15), hay ngài đã phấn khích Kitô hữu Giáo đoàn Côrintô thực hiện các cuộc quyên góp như là một dấu hiệu của tình đoàn kết với các phần tử đau khổ của Giáo Hội (xem 1Corinto 16:2-3). Và Thánh Gioan viết: “Bất cứ ai có được các sản vật trên thế gian này mà thấy anh chị em mình đang thiếu thốn lại không chịu giúp thì làm sao tình yêu của Thiên Chúa ở trong họ được chứ?” (xem 1Gioan 3:17; xem Giacôbê 2:15-16).

Thế nên đó là lý do tại sao “thật là hết sức thiết yếu cho Giáo Hội cũng như cho tính chất đáng tin nơi sứ điệp của Giáo Hội đó là chính Giáo Hội sống và làm chứng cho tình thương. Ngôn từ của Giáo Hội và các cử chỉ của Giáo Hội cần phải truyền đạt tình thương, nhờ đó mới chạm đến cõi lòng của mọi người và tác động họ tìm lại con đường dẫn về cùng Cha. Sự thật tiên khởi của Giáo Hội là tình yêu của Chúa Kitô. Giáo Hội biến mình thành một người tôi tớ phục vụ cho tình yêu này và làm môi giới chuyển nó cho tất cả mọi người: một tình yêu thương tha thứ và tỏ hiện nơi việc trao tặng bản thân mình. Bởi thế, bất cứ nơi nào có Giáo Hội thì tình thương của Chúa Cha cần phải hiện lộ ở đó. Nơi các giáo xứ của chúng ta, các cộng đồng, các hiệp hội và các phong trào, tóm lại, bất cứ nơi đâu có Kitô hữu thì hết mọi người cần phải làm sao tìm thấy được một nơi trù phú về tình thương” (20).

Vậy, cả chúng ta nữa cũng được kêu gọi để tỏ ra cho thấy lòng cảm thương, tình yêu, tình thương và tình đoàn kết là một lối sống chân thật, là một qui luật tác hành trong các mối liên hệ của chúng ta với nhau (21). Điều ấy đòi phải thực hiện việc hoán cải tâm can chúng ta, ở chỗ, ân sủng của Thiên Chúa cần phải biến những con tim chai đá của chúng ta thành những con tim bằng thịt (xem Êzêkiên 36:26), cởi mở với những người khác trong tình đoàn kết thực sự. Vì tình đoàn kết không phải chỉ là “một cảm giác mơ hồ thương hại hay buồn bã nông cạn trước những bất hạnh của rất nhiều người, cả gần lẫn xa” (22). Tình đoàn kết là “một quyết tâm mạnh mẽ và kiên trì dấn thân cho công ích; tức là cho thiện ích của tất cả mọi người và của từng người, vì tất cả chúng ta thực sự có trách nhiệm đối với tất cả mọi người” (23), vì lòng cảm thương xuất phát từ tình huynh đệ.

Hiểu như thế thì tình đoàn kết tiêu biểu cho thái độ luân lý và xã hội tương xứng nhất, bằng một nhận thức thấy được các tai ương hoạn nạn của thời đại chúng ta đây, cũng như bằng tính cách liên thuộc đang gia tăng, nhất là ở một thế giới toàn cầu hóa, giữa đời sống của các cá nhân và cộng đồng được ban tặng với đời sống của những con người nam nữ khác còn lại trên thế giới đây (24).

Xây dựng một thứ văn hóa đoàn kết và tình thương để thắng vượt tính lãnh đạm

6- Tình đoàn kết, một nhân đức luân lý và là một thái độ xã hội xuất phát từ việc hoán cải bản thân, đòi phải dấn thân nơi những ai hữu trách về vấn đề giáo dục và huấn luyện.

Trước hết tôi nghĩ đến các gia đình, được kêu gọi thực hiện một sứ vụ chính yếu và quan trọng trong việc giáo dục. Các gia đình là nơi đầu tiên sống và truyền đạt các giá trị về yêu thương và tình huynh đệ, về việc chung sống và chia sẻ, về mối quan tâm và chăm sóc cho người khác. Các gia đình cũng là môi trường đặc biệt để truyền đạt đức tin, bắt đầu bằng những cử chỉ đơn giản đầu tiên của lòng tôn sùng được các bà mẹ dạy cho con cái của mình (25).

Các thày cô, thành phần đảm nhận một công việc thách đố để huấn luyện trẻ em và giới trẻ ở các học đường hay ở các môi trường khác, cần phải ý thức rằng trách nhiệm của họ còn bao gồm cả những khía cạnh khác của đời sống về mặt luân lý, tinh thần và xã hội. Các giá trị về tự do, về sự tương kính và về tình đoàn kết có thể được truyền đạt từ tuổi ấu thơ. Khi nói với các nhà giáo dục, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã lưu ý họ rằng: “Hết mọi môi trường giáo dục đều có thể trở thành một nơi hướng về siêu việt thể và về những người khác; một nơi của việc đối thoại, gắn bó và chuyên chú lắng nghe, nơi giới trẻ cảm thấy các khả năng của họ và các kho tàng nội tâm của họ được cảm nhận, và có thể biết cảm nhận đối với anh chị em của mình. Chớ gì giới trẻ được dạy cho biết thưởng thức niềm vui xuất phát từ việc thực hành bác ái và lòng cảm thương hằng ngày đối với người khác, cũng như từ việc chủ động dự phần vào việc xây dựng một xã hội nhân bản hơn và huynh đệ hơn” (26).

Các nhà truyền thông cũng có trách nhiệm giáo dục và huấn luyện nữa, nhất là hiện nay, khi mà các phương tiện về tín liệu và về truyền đạt quá ư là rộng rãi. Phận sự của họ trước hết và trên hết là phục vụ chân lý, chứ không phải các thứ lợi lộc riêng tư. Vì việc truyền thông đại chúng “chẳng những thông tin mà còn khuôn đúc trí khôn của thành phần khán thính giả của mình nữa, và vì thế chúng có thể góp phần quan trọng vào việc giáo dục giời trẻ. Vấn đề quan trọng ở đây là không bao giờ được quên rằng mối liên hệ giữa việc giáo dục và việc truyền thông là những gì hết sức chặt chẽ: giáo dục thể hiện nhờ truyền thông, thứ truyền thông gây ảnh hưởng tốt hơn hoặc xấu hơn nơi việc đào luyện con người” (27).

Các nhà truyền thông cũng cần phải nhớ rằng cách thức nhờ đó có được tín liệu và phổ biến tín liệu bao giờ cũng là những gì khả chấp về pháp lý và luân lý.

Hòa Bình là hoa trái của một nền văn minh đoàn kết, nhân hậu và cảm thương xót

7- Trong khi ý thức về mối đe dọa gây ra bởi một thứ toàn cầu hóa tính cách lãnh đạm, chúng ta cũng cần phải công nhận rằng, ở cái kịch bản tôi vừa diễn tả, cũng còn nhiều khởi động tích cực chứng tỏ lòng cảm thương, tình nhân hậu và mối kết liên là những gì chúng ta có thể thực hiện.

Ở đây tôi muốn cống hiến một số thí dụ điển hình về việc dấn thân đáng ca ngợi này, những trường hợp chứng tỏ cho thấy rằng tất cả chúng ta đều có thể thắng vượt lãnh đạm để không cố tình nhắm mắt làm ngơ trước tha nhân của chúng ta. Những trường hợp này tiêu biểu cho các việc hành sử tốt đẹp đang diễn tiến cho một xã hội nhân bản hơn.

Có nhiều tổ chức bác ái không phải của chính quyền, cả trong lẫn ngoài Giáo Hội, có những phần tử, giữa những hoàn cảnh dịch bệnh, những tai họa và các cuộc xung đột võ trang, đã bất chấp những khó khăn và nguy hiểm để chăm sóc cho những ai bị thương tích và bệnh nạn cũng như trong việc chôn cất kẻ chết. Tôi cũng muốn đề cập tới những cá nhân và các hiệp hội trợ giúp những người di dân là thành phần băng qua sa mạc và biển khơi để tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn. Những nỗ lực này là các việc làm của tình thương về thể lý cũng như về tinh thần nhờ đó chúng ta sẽ được xét xử khi kết thúc cuộc đời của chúng ta.
Tôi cũng nghĩ đến các phóng viên và nhiếp ảnh gia là những người ảnh hưởng tới công luận ở những trường hợp khó khăn gây bối rối lương tâm, và tất cả những ai dấn thân cho việc bênh vực nhân quyền, nhất là những quyền lợi của các thành phần thiểu số về sắc tộc và tôn giáo, thành phần dân bản xứ, phụ nữ và trẻ em, cũng như những ai yếu hèn dễ bị tổn thương nhất trong anh chị em của chúng ta. Giữa những con người dấn thân ấy còn có các linh mục và thừa sai, đóng vai trò là các vị mục tử nhân lành, vẫn tiếp tục ở với đàn chiên của mình và hỗ trợ họ, bất chấp hiểm nguy và khốn khó, nhất là trong những cuộc xung đột võ trang.

Biết bao nhiêu là gia đình, giữa những khó khăn về nghề nghiệp và xã hội, đã thực hiện những hy sinh cao cả để cung cấp cho con cái của mình một thứ giáo dục “văn hóa gặp gỡ” về các giá trị của tình đoàn kết, của lòng cảm thương và của tình huynh đệ! Biết bao nhiêu là gia đình mở lòng mình và nhà mình ra cho những ai đang thiếu thốn và cần đến, như những người tị nạn và di dân! Tôi muốn đặc biệt cám ơn những cá nhân ấy, những gia đình ấy, những giáo xứ ấy, những cộng đoàn tu trì ấy, những đan viện và những đền thánh ấy, là tất cả những nơi đã sẵn sàng đáp ứng lời kêu gọi của tôi trong việc đón nhận một gia đình tị nạn (28).

Sau hết, tôi muốn đề cập đến giới trẻ là thành phần bắt tay thực hiện các công việc của tình đoàn kết, cũng như tất cả những ai quảng đại giúp tha nhân thiếu thốn ở thành phố của mình và xứ sở của mình cùng các nơi khác trên thế giới. Tôi xin cám ơn và phấn khích hết mọi người tham gia vào những nỗ lực thường không được nhận thấy ấy. Nỗi đói khát công lý của họ sẽ được thỏa đáng, tình thương của họ sẽ dẫn họ đến chỗ tìm thấy tình thương, và như thành phần kiến tạo hòa bình, họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa (xem Mathêu 5:6-9).

Hòa Bình nơi dấu hiệu Năm Thánh Tình Thương

8- Theo tinh thần của Năm Thánh Tình Thương, tất cả chúng ta đều được kêu gọi để nhận thấy cách thức mà tính lãnh đạm có thể tỏ hiện nơi đời sống của chúng ta mà hoạt động một cách cụ thể để cải tiến thế giới chung quanh chúng ta, bắt đầu từ gia đình của chúng ta, hàng xóm của chúng ta và công sở của chúng ta.

Xã hội dân sự cũng được kêu gọi để thực hiện những cử chỉ quan tâm đặc biệt và can đảm đối với những phần tử yếu kém dễ bị tổn thương nhất của mình, như các tù nhân, những người di dân, những ai thất nghiệp và những ai yếu bệnh.

Đối với các tù nhân, nơi nhiều trường hợp dường như rất cần phải có những phương sách cụ thể để cải tiến các điều kiện sống của họ, quan tâm đặc biệt đến những ai bị giam giữ chờ ngày xét xử (29). Cần phải nhớ rằng những biện pháp trừng phạt là để phục hồi, còn các luật lệ quốc gia thì phải quan tâm đến việc thay vì giam nhốt bằng cách thiết lập những thứ trừng phạt khác. Theo đó, tôi kêu gọi một lần nữa với các vị thẩm quyền trong chính phủ là hãy loại bỏ hình phạt tử hình ở đâu vẫn còn hiệu lực, và hãy xem xét tới vấn đề khả dĩ của việc ân xá.

Đối với những người di dân, tôi xin hãy xét lại luật di dân, để nhờ đó, trong khi tỏ ra tôn trọng các quyền lợi và trách nhiệm hỗ tương, luật này có thế phản ảnh việc sẵn sàng đón nhận những người di dân và giúp cho việc di dân của họ được dễ dàng hơn. Cần phải đặc biệt quan tâm đến những điều kiện cư trú hợp pháp, vì việc phải sống một cách lén lút có thể dẫn đến hành vi tội ác.

Trong Năm Thánh này, tôi xin kêu gọi các vị lãnh đạo quốc gia hãy thực hiện những cử chỉ cụ thể thuận lợi cho những người anh chị em đang không có công ăn việc làm, đất đai và nơi cư trú. Tôi đang nghĩ đến việc tạo ra những công việc xứng đáng để chiến đấu với nạn xã hội thất nghiệp đang ảnh hưởng đến nhiều gia đình và giới trẻ, gây tác dụng trầm trọng cho chung xã hội. Tình trạng thất nghiệp đang gây tác hại sâu đậm đến cảm quan của dân chúng về phẩm giá và niềm hy vọng, và chỉ có thể được bù đắp một phần nào nhờ các phúc lợi an sinh, cho dù những phúc lợi ấy có cần thiết chăng nữa, được cung cấp cho những người bị thất nghiệp và gia đình của họ. Cần đặc biệt quan tâm đến phụ nữ – thành phần tiếc thay vẫn phải đối diện với tình trạng kỳ thị ở công sở – cũng như đến một số loại nhân viên làm việc ở trong các điều kiện liều lĩnh hay nguy hiểm, mà lợi tức của họ lại không tương xứng với tầm quan trọng nơi sứ vụ xã hội của họ.

Sau hết, tôi hy vọng rằng sẽ thực hiện một cách hiệu nghiệm việc cải tiến những điều kiện sống của bệnh nhân, bằng việc bảo đảm rằng tất cả đều có thể được hưởng việc điều trị bệnh lý và thuốc men thiết yếu cho sự sống cũng như việc có thể được chăm sóc tại gia.

Nhìn ra bên ngoài biên cương bờ cõi của mình, các vị lãnh đạo quốc gia cũng được kêu gọi hãy canh tân đổi mới những liên hệ của mình với các dân tộc khác và giúp họ có thể thực sự tham phần và bao gồm vào đời sống của cộng đồng quốc tế, để bảo đảm được tình huynh đệ trong gia đình chư quốc nữa.

Ý thức như vậy, tôi xin có một kêu gọi tam diện đối với các vị lãnh đạo quốc gia như sau: hãy kiềm chế việc lôi kéo các dân tộc khác vào những cuộc xung đột hay chiến tranh là những gì hủy hoại chẳng những di sản về thể chất, văn hóa và xã hội của họ, mà còn – về lâu về dài – tính chất nguyên tuyền về luân lý và tinh thần của họ nữa; hãy tha cho hay hành sử một cách khả trợ nợ nần quốc tế của các quốc gia nghèo khổ; và hãy chấp nhận những chính sách hợp tác, thay vì cúi đầu khuất phục trước cái độc đoán của một số ý hệ nào đó, sẽ tỏ ra tôn trọng những giá trị của dân chúng địa phương, và trong bất cứ trường hợp nào, không gây thiệt hại cho quyền sống căn bản và bất khả nhượng của thai nhi.

Tôi xin ký thác những suy tư này, cùng với những nguyện chúc Năm Mới tốt đẹp nhất của tôi, cho việc chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của chúng ta, Vị chăm sóc những nhu cầu của gia đình nhân loại chúng ta, để Mẹ có thể xin Con Mẹ là Hoàng Tử Hòa Bình, đáp lời cầu nguyện của chúng ta và chúc lành cho những nỗ lực hằng ngày của chúng ta về một thế giới huynh đệ và hiệp nhất.

Tại Vatican ngày 8/12/2015

Lễ Trọng Kình Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm

Mở màn cho Năm Thánh Ngoại Lệ về Tình Thương

 

 

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch 

 


[1] SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Pastoral Constitution Gaudium et Spes, 1.

[2] Cf. ibid., 3.

[3] Bull of Indiction of the Extraordinary Jubilee of Mercy Misericordiae Vultus, 14-15.

[4] Cf. BENEDICT XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate, 43.

[5] Cf. ibid., 16.

[6] Encyclical Populorum Progressio, 42.

[7] “As society becomes ever more globalized, it makes us neighbours but does not make us brothers. Reason, by itself, is capable of grasping the equality between men and of giving stability to their civic coexistence, but it cannot establish fraternity” (BENEDICT XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate, 19).

[8] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium, 60.

[9] Cf. ibid., 54.

[11] Cf. Encyclical Letter Laudato Si’, 92.

[12] Cf. ibid., 51.

[14] Ibid.

[16] Cf. Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium, 217-237.

[17] “Until exclusion and inequality in society and between peoples are reversed, it will be impossible to eliminate violence. The poor and the poor peoples are accused of violence, yet without equal opportunities the different forms of aggression and conflict will find a fertile terrain for growth and eventually explode. When a society – whether local, national or global – is willing to leave a part of itself on the fringes, no political programmes or resources spent on law enforcement or surveillance systems can indefinitely guarantee tranquility. This is not the case simply because inequality provokes a violent reaction from those excluded from the system, but because the socioeconomic system is unjust at its root. Just as goodness tends to spread, the toleration of evil, which is injustice, tends to expand its baneful influence and quietly to undermine any political and social system, no matter how solid it may appear” (Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium, 59),

[18] Cf. Encyclical Letter Laudato Si’, 31 and 48.

[20] Bull of Indiction of the Extraordinary Jubilee of Mercy Misericordiae Vultus, 12.

[21] Cf. ibid., 13.

[22] JOHN PAUL II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 38.

[23] Ibid.

[24] Cf. ibid.

[27] Ibid.

 

 

MESSAGE OF HIS HOLINESS
POPE FRANCIS
FOR THE CELEBRATION OF THE
XLIX WORLD DAY OF PEACE

1 JANUARY 2016

Overcome Indifference and Win Peace

  1. God is not indifferent! God cares about mankind! God does not abandon us! At the beginning of the New Year, I would like to share not only this profound conviction but also my cordial good wishes for prosperity, peace and the fulfilment of the hopes of every man and every woman, every family, people and nation throughout the world, including all Heads of State and Government and all religious leaders. We continue to trust that 2016 will see us all firmly and confidently engaged, on different levels, in the pursuit of justice and peace. Peace is both God’s gift and a human achievement. As a gift of God, it is entrusted to all men and women, who are called to attain it.

Maintaining our reasons for hope

  1. Sadly, war and terrorism, accompanied by kidnapping, ethnic or religious persecution and the misuse of power, marked the past year from start to finish. In many parts of the world, these have became so common as to constitute a real “third world war fought piecemeal”. Yet some events of the year now ending inspire me, in looking ahead to the new year, to encourage everyone not to lose hope in our human ability to conquer evil and to combat resignation and indifference. They demonstrate our capacity to show solidarity and to rise above self-interest, apathy and indifference in the face of critical situations.

Here I would mention the efforts to bring world leaders together at COP21 in the search for new ways to confront climate change and to protect the earth, our common home. We can also think of two earlier global events: the Addis Ababa Summit for funding sustainable development worldwide and the adoption of the United Nations 2030 Agenda for Sustainable Development, aimed at ensuring a more dignified standard of living for all the world’s peoples, especially the poor, by that year.

For the Church, 2015 was a special year, since it marked the fiftieth anniversary of two documents of the Second Vatican Council which eloquently expressed her sense of solidarity with the world. Pope John XXIII, at the beginning of the Council, wanted to open wide the windows of the Church and to improve her communication with the world. The two documents, Nostra Aetate and Gaudium et Spes, are emblematic of the new relationship of dialogue, solidarity and accompaniment which the Church sought to awaken within the human family. In the Declaration Nostra Aetate, the Church expressed her openness to dialogue with non-Christian religions. In the Pastoral Constitution Gaudium et Spes, based on a recognition that “the joys and hopes, the grief and anguish of the people of our time, especially of those who are poor or afflicted, are the joys and hopes, the grief and anguish of the followers of Christ as well”,[1] the Church proposed to enter into dialogue with the entire human family about the problems of our world, as a sign of solidarity, respect and affection.[2]

Along these same lines, with the present Jubilee of Mercy I want to invite the Church to pray and work so that every Christian will have a humble and compassionate heart, one capable of proclaiming and witnessing to mercy. It is my hope that all of us will learn to “forgive and give”, to become more open “to those living on the outermost fringes of society – fringes which modern society itself creates”, and to refuse to fall into “a humiliating indifference or a monotonous routine which prevents us from discovering what is new! Let us ward off destructive cynicism!”[3]

There are many good reasons to believe in mankind’s capacity to act together in solidarity and, on the basis of our interconnection and interdependence, to demonstrate concern for the more vulnerable of our brothers and sisters and for the protection of the common good. This attitude of mutual responsibility is rooted in our fundamental vocation to fraternity and a life in common. Personal dignity and interpersonal relationships are what constitute us as human beings whom God willed to create in his own image and likeness. As creatures endowed with inalienable dignity, we are related to all our brothers and sisters, for whom we are responsible and with whom we act in solidarity. Lacking this relationship, we would be less human. We see, then, how indifference represents a menace to the human family. As we approach a new year, I would ask everyone to take stock of this reality, in order to overcome indifference and to win peace.

Kinds of indifference

  1. Clearly, indifference is not something new; every period of history has known people who close their hearts to the needs of others, who close their eyes to what is happening around them, who turn aside to avoid encountering other people’s problems. But in our day, indifference has ceased to be a purely personal matter and has taken on broader dimensions, producing a certain “globalization of indifference”.

The first kind of indifference in human society is indifference to God, which then leads to indifference to one’s neighbour and to the environment. This is one of the grave consequences of a false humanism and practical materialism allied to relativism and nihilism. We have come to to think that we are the source and creator of ourselves, our lives and society. We feel self-sufficient, prepared not only to find a substitute for God but to do completely without him. As a consequence, we feel that we owe nothing to anyone but ourselves, and we claim only rights.[4] Against this erroneous understanding of the person, Pope Benedict XVI observed that neither man himself nor human development can, on their own, answer the question of our ultimate meaning.[5] Paul VI likewise stated that “there is no true humanism but that which is open to the Absolute, and is conscious of a vocation which gives human life its authentic significance”.[6]

Indifference to our neighbour shows itself in different ways. Some people are well-informed; they listen to the radio, read the newspapers or watch television, but they do so mechanically and without engagement. They are vaguely aware of the tragedies afflicting humanity, but they have no sense of involvement or compassion. Theirs is the attitude of those who know, but keep their gaze, their thoughts and their actions focused on themselves. Sadly, it must be said that today’s information explosion does not of itself lead to an increased concern for other people’s problems, which demands openness and a sense of solidarity.[7] Indeed, the information glut can numb people’s sensibilities and to some degree downplay the gravity of the problems. There are those who “simply content themselves with blaming the poor and the poor countries themselves for their troubles; indulging in unwarranted generalizations, they claim that the solution is an ‘education’ that would tranquilize them, making them tame and harmless. All this becomes even more exasperating for the marginalized in the light of the widespread and deeply rooted corruption found in many countries – in their governments, businesses and institutions – whatever the political ideology of their leaders.”[8]

In other cases, indifference shows itself in lack of concern for what is happening around us, especially if it does not touch us directly. Some people prefer not to ask questions or seek answers; they lead lives of comfort, deaf to the cry of those who suffer. Almost imperceptibly, we grow incapable of feeling compassion for others and for their problems; we have no interest in caring for them, as if their troubles were their own responsibility, and none of our business.[9] “When we are healthy and comfortable, we forget about others (something God the Father never does): we are unconcerned with their problems, their sufferings and the injustices they endure… Our heart grows cold. As long as I am relatively healthy and comfortable, I don’t think about those less well off.”[10]

Because we dwell in a common home, we cannot help but ask ourselves about the state of its health, as I sought to do in Laudato Si’. Water and air pollution, the indiscriminate exploitation of forests and the destruction of the natural environment are often the result of man’s indifference to man, since everything is interrelated. Then too, there is the way we treat animals, which has an effect on the way we treat other people[11], and the cases where people freely do elsewhere what they would never dare do at home.[12]

In these and in other situations, indifference leads to self-absorption and a lack of commitment. It thus contributes to the absence of peace with God, with our neighbour and with the environment.

Peace threatened by globalized indifference

  1. Indifference towards God transcends the purely private sphere of the individual and affects the public and social sphere. As Benedict XVI pointed out, “the glorification of God and human peace on earth are closely linked”.[13] Indeed, “without openness to the transcendent, human beings easily become prey to relativism and find it difficult to act justly and to work for peace.[14] Disregard and the denial of God, which lead man to acknowledge no norm above himself and himself alone, have produced untold cruelty and violence.[15]

On both the individual and communitarian levels, indifference to one’s neighbour, born of indifference to God, finds expression in disinterest and a lack of engagement, which only help to prolong situations of injustice and grave social imbalance. These in turn can lead to conflicts or, in any event, generate a climate of dissatisfaction which risks exploding sooner or later into acts of violence and insecurity.

Indifference and lack of commitment constitute a grave dereliction of the duty whereby each of us must work in accordance with our abilities and our role in society for the promotion of the common good, and in particular for peace, which is one of mankind’s most precious goods.[16]

On the institutional level, indifference to others and to their dignity, their fundamental rights and their freedom, when it is part of a culture shaped by the pursuit of profit and hedonism, can foster and even justify actions and policies which ultimately represent threats to peace. Indifference can even lead to justifying deplorable economic policies which breed injustice, division and violence for the sake of ensuring the wellbeing of individuals or nations. Not infrequently, economic and political projects aim at securing or maintaining power and wealth, even at the cost of trampling on the basic rights and needs of others. When people witness the denial of their elementary rights, such as the right to food, water, health care or employment, they are tempted to obtain them by force.[17]

Moreover, indifference to the natural environment, by countenancing deforestation, pollution and natural catastrophes which uproot entire communities from their ecosystem and create profound insecurity, ends up creating new forms of poverty and new situations of injustice, often with dire consequences for security and peace. How many wars have been fought, and how many will continue to be fought, over a shortage of goods or out of an insatiable thirst for natural resources?[18]

From indifference to mercy: the conversion of hearts

  1. One year ago, in my Message for the 2015 World Day of Peace, with the motto “No Longer Slaves, but Brothers and Sisters”, I evoked the first biblical icon of human brotherhood, that of Cain and Abel (cf. Gen 4:1-16). I meant to draw attract attention to how from the very beginning this original brotherhood was betrayed. Cain and Abel were brothers. Both came forth from the same womb, they were equal in dignity and created in the image and likeness of God; but their relationship as brothers was destroyed. “It was not only that Cain could not stand Abel; he killed him out of envy.”[19] Fratricide was the form of betrayal, and Cain’s refusal to acknowledge Abel as his brother became the first rupture in the family relations of fraternity, solidarity and mutual respect.

God then intervened to remind man of his responsibility towards his fellows, as he had also done when Adam and Eve, our first parents, ruptured their relationship with him, their Creator. “Then the Lord said to Cain: “Where is Abel your brother?” He said, “I do not know; am I my brother’s keeper?” But the Lord replied: “What you have you done? The voice of your brother’s blood is crying to me from the ground” (Gen 4:9-10).

Cain said he did not know what had happened to his brother, that he was not his brother’s keeper. He did not feel responsible for his life, for his fate. He did not feel involved. He was indifferent to his brother, despite their common origin. How sad! What a sorry tale of brothers, of families, of human beings! This was the first display of indifference between brothers. God, however, is not indifferent. Abel’s blood had immense value in his eyes, and he asked Cain to give an account of it. At the origin of the human race, God shows himself to be involved in man’s destiny. Later, when the children of Israel were slaves in Egypt, God once more intervened to tell Moses: “I have seen the affliction of my people who are in Egypt, and have heard their cry because of their taskmasters; I know their sufferings, and I have come down to deliver them out of the hand of the Egyptians, and to bring them up out of that land to a good and broad land, a land flowing with milk and honey” (Ex 3:7-8). We should note the verbs which describe God’s intervention: he sees, hears, knows, comes down and delivers. God does not remain indifferent. He is attentive and he acts.

In the same way, in Jesus his Son, God has come down among us. He took flesh and showed his solidarity with humanity in all things but sin. Jesus identified with us: he became “the first-born among many brethren” (Rom 8:29). He was not content merely to teach the crowds, but he was concerned for their welfare, especially when he saw them hungry (cf. Mk 6:34-44) or without work (cf. Mt 20:3). He was concerned not only for men and women, but also for the fish of the sea, the birds of the air, plants and trees, all things great and small. He saw and embraced all of creation. But he did more than just see; he touched people’s lives, he spoke to them, helped them and showed kindness to those in need. Not only this, but he felt strong emotions and he wept (cf. Jn 11:33-44). And he worked to put an end to suffering, sorrow, misery and death.

Jesus taught us to be merciful like our heavenly Father (cf. Lk 6:36). In the parable of the Good Samaritan (cf. Lk 10:29-37), he condemned those who fail to help others in need, those who “pass by on the other side” (cf. Lk 10:31-32). By this example, he taught his listeners, and his disciples in particular, to stop and to help alleviate the sufferings of this world and the pain of our brothers and sisters, using whatever means are at hand, beginning with our own time, however busy we may be. Indifference often seeks excuses: observing ritual prescriptions, looking to all the things needing to be done, hiding behind hostilities and prejudices which keep us apart.

Mercy is the heart of God. It must also be the heart of the members of the one great family of his children: a heart which beats all the more strongly wherever human dignity – as a reflection of the face of God in his creatures – is in play. Jesus tells us that love for others – foreigners, the sick, prisoners, the homeless, even our enemies – is the yardstick by which God will judge our actions. Our eternal destiny depends on this. It is not surprising that the Apostle Paul tells the Christians of Rome to rejoice with those who rejoice and to weep with those who weep (cf. Rom 12:15), or that he encourages the Corinthians to take up collections as a sign of solidarity with the suffering members of the Church (cf. 1 Cor 16:2-3). And Saint John writes: “If any one has the world’s goods and sees his brother or sister in need, yet refuses help, how does God’s love abide in him? (1 Jn 3:17; cf. Jas 2:15-16).

This then is why “it is absolutely essential for the Church and for the credibility of her message that she herself live and testify to mercy. Her language and her gestures must transmit mercy, so as to touch the hearts of all people and inspire them once more to find the road that leads to the Father. The Church’s first truth is the love of Christ. The Church makes herself a servant of this love and mediates it to all people: a love that forgives and expresses itself in the gift of oneself. Consequently, wherever the Church is present, the mercy of the Father must be evident. In our parishes, communities, associations and movements, in a word, wherever there are Christians, everyone should find an oasis of mercy.”[20]

We too, then, are called to make compassion, love, mercy and solidarity a true way of life, a rule of conduct in our relationships with one another.[21] This requires the conversion of our hearts: the grace of God has to turn our hearts of stone into hearts of flesh (cf. Ezek 36:26), open to others in authentic solidarity. For solidarity is much more than a “feeling of vague compassion or shallow distress at the misfortunes of so many people, both near and far”.[22] Solidarity is “a firm and persevering determination to commit oneself to the common good; that is to say to the good of all and of each individual, because we are all really responsible for all”,[23] because compassion flows from fraternity.

Understood in this way, solidarity represents the moral and social attitude which best corresponds to an awareness of the scourges of our own day, and to the growing interdependence, especially in a globalized world, between the lives of given individuals and communities and those of other men and women in the rest of the world.[24]

Building a culture of solidarity and mercy to overcome indifference

  1. Solidarity, as a moral virtue and social attitude born of personal conversion, calls for commitment on the part of those responsible for education and formation.

I think first of families, which are called to a primary and vital mission of education. Families are the first place where the values of love and fraternity, togetherness and sharing, concern and care for others are lived out and handed on. They are also the privileged milieu for transmitting the faith, beginning with those first simple gestures of devotion which mothers teach their children.[25]

Teachers, who have the challenging task of training children and youth in schools or other settings, should be conscious that their responsibility extends also to the moral, spiritual and social aspects of life. The values of freedom, mutual respect and solidarity can be handed on from a tender age. Speaking to educators, Pope Benedict XVI noted that: “Every educational setting can be a place of openness to the transcendent and to others; a place of dialogue, cohesiveness and attentive listening, where young people feel appreciated for their personal abilities and inner riches, and can learn to esteem their brothers and sisters. May young people be taught to savour the joy which comes from the daily exercise of charity and compassion towards others and from taking an active part in the building of a more humane and fraternal society”.[26]

Communicators also have a responsibility for education and formation, especially nowadays, when the means of information and communication are so widespread. Their duty is first and foremost to serve the truth, and not particular interests. For the media “not only inform but also form the minds of their audiences, and so they can make a significant contribution to the education of young people. It is important never to forget that the connection between education and communication is extremely close: education takes place through communication, which influences, for better or worse, the formation of the person.”[27]

Communicators should also be mindful that the way in which information is obtained and made public should always be legally and morally admissible.

Peace: the fruit of a culture of solidarity, mercy and compassion

  1. While conscious of the threat posed by a globalization of indifference, we should also recognize that, in the scenario I have just described, there are also many positive initiatives which testify to the compassion, mercy and solidarity of which we are capable.

Here I would offer some examples of praiseworthy commitment, which demonstrate how all of us can overcome indifference in choosing not to close our eyes to our neighbour. These represent good practices on the way to a more humane society.

There are many non-governmental and charitable organizations, both within and outside the Church, whose members, amidst epidemics, disasters and armed conflicts, brave difficulties and dangers in caring for the injured and sick, and in burying the dead. I would also mention those individuals and associations which assist migrants who cross deserts and seas in search of a better life. These efforts are spiritual and corporal works of mercy on which we will be judged at the end of our lives.

I think also of the journalists and photographers who shape public opinion on difficult situations which trouble our consciences, and all those devoted to the defence of human rights, especially the rights of ethnic and religious minorities, indigenous peoples, women and children, and the most vulnerable of our brothers and sisters. Among them are also many priests and missionaries who, as good pastors, remain at the side of their flock and support them, heedless of danger and hardship, especially during armed conflicts.

How many families, amid occupational and social difficulties, make great sacrifices to provide their children with a “counter-cultural” education in the values of solidarity, compassion and fraternity! How many families open their hearts and homes to those in need, such as refugees and migrants! I wish to thank in a particular way all those individuals, families, parishes, religious communities, monasteries and shrines who readily responded to my appeal to welcome a refugee family.[28]

Finally, I would mention those young people who join in undertaking works of solidarity, and all those who generously help their neighbours in need in their cities and countries and elsewhere in the world. I thank and encourage everyone engaged in such efforts, which often pass unobserved. Their hunger and thirst for justice will be satisfied, their mercy will lead them to find mercy and, as peacemakers, they will be called children of God (cf. Mt 5:6-9).

Peace in the sign of the Jubilee of Mercy

  1. In the spirit of the Jubilee of Mercy, all of us are called to realize how indifference can manifest itself in our lives and to work concretely to improve the world around us, beginning with our families, neighbours and places of employment.

Civil society is likewise called to make specific and courageous gestures of concern for their most vulnerable members, such as prisoners, migrants, the unemployed and the infirm.

With regard to prisoners, it would appear that in many cases practical measures are urgently needed to improve their living conditions, with particular concern for those detained while awaiting trial.[29] It must be kept in mind that penal sanctions have the aim of rehabilitation, while national laws should consider the possibility of other establishing penalties than incarceration. In this context, I would like once more to appeal to governmental authorities to abolish the death penalty where it is still in force, and to consider the possibility of an amnesty.

With regard to migrants, I would ask that legislation on migration be reviewed, so, while respecting reciprocal rights and responsibilities, it can reflect a readiness to welcome migrants and to facilitate their integration. Special concern should be paid to the conditions for legal residency, since having to live clandestinely can lead to criminal behaviour.

In this Jubilee Year, I would also appeal to national leaders for concrete gestures in favour of our brothers and sisters who suffer from the lack of labour, land and lodging. I am thinking of the creation of dignified jobs to combat the social plague of unemployment, which affects many families and young people, with grave effects for society as a whole. Unemployment takes a heavy toll on people’s sense of dignity and hope, and can only be partially compensated for by welfare benefits, however necessary these may be, provided to the unemployed and their families. Special attention needs to be given to women – who unfortunately still encounter discrimination in the workplace – and to some categories of workers whose conditions are precarious or dangerous, and whose pay is not commensurate to the importance of their social mission.

Finally, I express my hope that effective steps will be taken to improve the living conditions of the sick by ensuring that all have access to medical treatment and pharmaceuticals essential for life, as well as the possibility of home care.

Looking beyond their own borders, national leaders are also called to renew their relations with other peoples and to enable their real participation and inclusion in the life of the international community, in order to ensure fraternity within the family of nations as well.

With this in mind, I would like to make a threefold appeal to the leaders of nations: to refrain from drawing other peoples into conflicts or wars which destroy not only their material, cultural and social legacy, but also – and in the long term – their moral and spiritual integrity; to forgive or manage in a sustainable way the international debt of the poorer nations; and to adopt policies of cooperation which, instead of bowing before the dictatorship of certain ideologies, will respect the values of local populations and, in any case, not prove detrimental to the fundamental and inalienable right to life of the unborn.

I entrust these reflections, together with my best wishes for the New Year, to the intercession of the Blessed Virgin Mary, our Mother, who cares for the needs of our human family, that she may obtain from her Son Jesus, the Prince of Peace, the granting of our prayers and the blessing of our daily efforts for a fraternal and united world.

From the Vatican, 8 December 2015
Solemnity of the Immaculate Conception of the Blessed Virgin Mary
Opening of the Extraordinary Jubilee of Mercy

[1] SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Pastoral Constitution Gaudium et Spes, 1.

[2] Cf. ibid., 3.

[3] Bull of Indiction of the Extraordinary Jubilee of Mercy Misericordiae Vultus, 14-15.

[4] Cf. BENEDICT XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate, 43.

[5] Cf. ibid., 16.

[6] Encyclical Populorum Progressio, 42.

[7] “As society becomes ever more globalized, it makes us neighbours but does not make us brothers. Reason, by itself, is capable of grasping the equality between men and of giving stability to their civic coexistence, but it cannot establish fraternity” (BENEDICT XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate, 19).

[8] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium, 60.

[9] Cf. ibid., 54.

[10] Message for Lent 2015.

[11] Cf. Encyclical Letter Laudato Si’, 92.

[12] Cf. ibid., 51.

[13] Address to the Diplomatic Corps accredited to the Holy See, 7 January 2013.

[14] Ibid.

[15] Cf. BENEDICT XVI, Intervention during the Day of Reflection, Dialogue and Prayer for Peace and Justice in the World, Assisi, 27 October 2011.

[16] Cf. Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium, 217-237.

[17] “Until exclusion and inequality in society and between peoples are reversed, it will be impossible to eliminate violence. The poor and the poor peoples are accused of violence, yet without equal opportunities the different forms of aggression and conflict will find a fertile terrain for growth and eventually explode. When a society – whether local, national or global – is willing to leave a part of itself on the fringes, no political programmes or resources spent on law enforcement or surveillance systems can indefinitely guarantee tranquility. This is not the case simply because inequality provokes a violent reaction from those excluded from the system, but because the socioeconomic system is unjust at its root. Just as goodness tends to spread, the toleration of evil, which is injustice, tends to expand its baneful influence and quietly to undermine any political and social system, no matter how solid it may appear” (Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium, 59),

[18] Cf. Encyclical Letter Laudato Si’, 31 and 48.

[19] Message for the 2015 World Day of Peace, 2.

[20] Bull of Indiction of the Extraordinary Jubilee of Mercy Misericordiae Vultus, 12.

[21] Cf. ibid., 13.

[22] JOHN PAUL II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis, 38.

[23] Ibid.

[24] Cf. ibid.

[25] Cf. Catechesis for the General Audience of 7 January 2015.

[26] Message for the 2012 World Day of Peace, 2.

[27] Ibid.

[28] Cf. Angelus Address of 6 September 2015.

[29] Cf. Address to Delegates of the International Association of Penal Law, 23 October 2014.

Source: https://w2.vatican.va/content/francesco/en/messages/peace/documents/papa-francesco_20151208_messaggio-xlix-giornata-mondiale-pace-2016.html

 

© Copyright – Libreria Editrice Vaticana

Một suy nghĩ 3 thoughts on “Sứ điệp của Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhân ngày Hòa Bình Thế giới thứ 49 (1/1/2016) – Message of His Holiness Pope Francis for the celebration of the 49th World Day of Peace”

  1. Đây là đoạn quan trọng nhất cho các bạn Kitô hữu:

      Thứ lãnh đạm đầu tiên trong xã hội loài người đó là thứ lãnh đạm với Thiên Chúa, thứ lãnh đạm sau đó dẫn tới thứ lãnh đạm với tha nhân cũng như với môi sinh.

      Đó là một trong những hậu quả trầm trọng nhất của một thứ chủ nghĩa nhân bản sai lầm và của một thứ duy vật chủ nghĩa thực tiễn liên minh với tương đối chủ nghĩa và hư ảo chủ nghĩa. Chúng ta đã tiến tới chỗ nghĩ rằng mình là nguồn gốc và là [tạo hóa] của chính bản thân mình, của đời sống mình và của xã hội mình. Chúng ta cảm thấy tự mãn, sẵn sàng tìm cách chẳng những thay thế Thiên Chúa mà còn thực hiện hoàn toàn chẳng cần đến Ngài. Hậu quả xẩy ra là chúng ta cảm thấy rằng chúng ta chẳng nợ nần gì ai hết ngoài chính bản thân mình, và chúng ta chỉ đòi hỏi quyền lợi mà thôi (4).

      Để chống lại với nhận thức sai lầm này về con người, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã nhận định rằng chính con người hay việc phát triển của con người tự mình không thể giải đáp được vấn đề ý nghĩa tối hậu của chúng ta (5). Đức Phaolô VI cũng nói rằng “không có vấn đề thực sự nhân bản ngoài thứ nhân bản hướng về Đấng Tuyệt Đối, và ý thức được một thứ ơn gọi cống hiến cho cuộc sống của con người ý nghĩa đích thực của nó” (6).

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s