Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Thổ

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Thái, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Thổ của Dân tộc Thổ hôm nay.

Dân tộc Thổ có các tên gọi khác như Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Ly Hà, Tày Pọng, Con Kha, Xá Lá Vàng v.v. Tiếng Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt-Mường.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Thổ ở Việt Nam có dân số 74.458 người, có mặt tại 60 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Thổ cư trú tập trung tại các tỉnh:

Nghệ An (59.579 người, chiếm 80,0% tổng số người Thổ tại Việt Nam)
Thanh Hóa (9.652 người, chiếm 13,0% tổng số người Thổ tại Việt Nam)
Lâm Đồng (966 người)
Đồng Nai (657 người)
Đắk Lắk (541 người)
Bình Dương (510 người)
Sài Gòn (362 người)
Điện Biên (226 người)
Đắk Nông (216 người)
Hà Nội (211 người).

Ðịa bàn cư trú hiện nay của người Thổ vốn là giao điểm của các luồng di cư xuôi ngược. Do những biến động lịch sử ở những thế kỷ trước, những nhóm người Mường từ miền Tây Thanh Hoá dịch chuyển vào phía Nam gặp gỡ người Việt từ các huyện ven biển Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Thanh Chương ngược lên hoà nhập với cư dân địa phương có thể là gốc Việt cổ ở đây. Những người tha hương cùng chung cảnh ngộ ấy ngày một hoà nhập vào nhau thành một cộng đồng chung dân tộc Thổ. Người Thổ không có văn tự riêng, chỉ một số người biết chữ Hán. Ngày nay, tiếng Việt được phổ cập và sử dụng rộng rãi.

Thí sinh Nguyễn Thị Nhung, dân tộc Thổ, Nghệ An, trong một kỳ thi Hoa Hậu Dân Tộc.
Thí sinh Nguyễn Thị Nhung, dân tộc Thổ, Nghệ An, trong một kỳ thi Hoa Hậu Dân Tộc.

Ðơn vị hành chính nhỏ nhất trước kia của người Thổ là làng với một ông trùm làng đứng đầu. Trùm làng được bầu lại hàng năm và có nhiệm vụ đốc thúc công việc sưu dịch, thuế khoá, giải quyết các vụ việc xảy ra trong phạm vi của làng. Gia đình nhỏ phụ quyền là chủ yếu. Mối quan hệ trong gia đình cũng như làng xóm là tình tương trợ hữu ái. Tuy sống xen cài giữa nhiều dân tộc nhưng việc kết hôn giữa người Thổ với các dân tộc lân cận dường như không đáng kể, song quan hệ hôn nhân giữa các nhóm Thổ với nhau lại không có sự phân biệt nào.

Người Thổ quen sống trên nhà sàn, nhưng nhà của họ không có gì đặc biệt. ở vùng Lâm La nhà sàn của người Thổ giống hệt nhà người Mường. Ở những xã phía Nam, nhà người Thổ lại giống nhà người Thái. Nay nhiều nơi người ta đã chuyển sang nhà ở đất theo kiểu nhà người Việt.
Trong làng người Thổ, quan hệ gắn bó giúp đỡ lẫn nhau là nếp sống lâu đời. Theo tục cũ, toàn bộ đất đai, rừng núi, sông suối là của chung dân gian, mỗi người được quyền quản lý khi đang gieo trồng, được quyền khai thác khi là dân sống trong làng.

Người Thổ làm rẫy trên cả đất dốc, cả đất bằng, trồng lúa và gai là chính. Trong canh tác lúa, ngoài cách thức chọc lỗ tra hạt, người Thổ còn gieo vãi và dùng cày,bừa để lấp đất sau khi gieo. Cây gai cho sợi đan nhiều vật dụng cần thiết: túi, võng, lưới bắt cá, vó, lưới săn thú, v.v. Một tấm lưới săn thú cần đến 30–40 kg sợi gai.

thổ1

Cá, chim, thú là nguồn thực phẩm quan trọng đối với người Thổ, họ có kinh nghiệm săn bắn, đánh bắt cá. Bên cạnh đó, rừng cung cấp các loại rau, quả, củ làm thức ăn thông thường cũng như khi đói kém. Người Thổ trước đây có nghề dệt vải nhưng do điều kiện canh tác cũng như sự giao lưu với người Kinh đã làm cho nghề dệt bị mai một dần.

Người Thổ thờ rất nhiều loại thần, ma, đặc biệt là các vị thần có liên quan đến việc đánh giặc và khai khẩn đất đai. Trong phạm vi gia đình, ngoài việc thờ cúng tổ tiên, họ còn làm lễ cúng bà mụ mỗi khi trẻ em đau ốm và cúng vía cho người lớn vào dịp lễ, tết, khi đau ốm.

Người Thổ có tục “ngủ mái”: nam nữ thanh niên được nằm tâm tình với nhau, nhất là vào dịp tết, lễ hội, tuy nhiên không được có hành vi thiếu đúng đắn bởi dư luận và luật tục rất nghiêm minh. Từ những đêm “ngủ mái”, họ chọn bạn trăm năm. Trong hôn nhân, nhà trai phải tốn không ít tiền của và trước khi cưới, chàng trai phải năng đến làm việc cho nhà vợ tương lai.

thổ4

Đám tang của tộc Thổ có nhiều nét độc đáo và được tổ chức khá linh đình tốn kém. Trước đây có nhà đã giết tới 12 con trâu, người chết được quàn trong nhà hàng tuần. Quan tài của người Thổ là một cây gỗ nguyên, đục bụng, giống như cách làm thuyền, làm máng đập lúa. Khi đặt quan tài cho phía chân xuôi theo dòng nước chảy. Sau khi chôn cất, cúng người chết vào dịp 30 ngày, 50 ngày và 100 ngày. Người Thổ theo âm lịch.

Về trang phục truyền thống tộc Thổ khó nhận ra cá tính tộc người. Đồ mặc có nơi giống như y phục của người Kinh nông thôn nửa thế kỷ về trước, có nơi phụ nữ dùng cả váy mua của người Thái. Ở vùng Thổ phổ biến tập quán phụ nữ đội khăn vuông trắng, còn khăn tang là khăn trắng dài.

Xưa kia người Thổ có nhiều ca dao, tục ngữ, câu đố, truyện cổ, các điệu ca hát của người lớn, những bài đồng dao của trẻ, đặc biệt là những điệu hát ru, v.v. Song vốn văn nghệ dân gian Thổ đến nay đã bị quên lãng, mất mát nhiều.

Cứ vào dịp hội hè lễ tết thì người Thổ lại tập trung nhau lại các đôi trai gái lai cùng nhau uống rượu cần, cùng hát múa, tiếng cồng chiêng hoà chung với những câu hát đối tạo nên những âm thanh vang vọng trong đêm hội. Chiêng của người Thổ giống với người Thái về cấu tạo nhưng họ lại có những điệu đánh khác hẳn. Người Thổ có những câu hát đối rất đặc sắc.

Dưới đây mình có các bài:

– Mấy nét về dân ca dân tộc Thổ
– Đàn Tính của dân tộc Thổ
– Cồng chiêng trong đời sống tâm linh dân tộc Thổ, Nghệ An
– Các trò chơi dân gian độc đáo của người Thổ
– Trang phục dân tộc Thổ

Cùng với 4 clips tổng thể văn hóa tộc Thổ để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia & VOV)

thổ_Dân ca tộc Thổ

Mấy nét về dân ca dân tộc Thổ

(Thái Tâm)

Trong “Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam”, do tổng cục thống kê công bố ngày 2/3/1979, thì dân tộc/người “Thổ” mới thấy xuất hiện trong danh mục 54 dân tộc của nước ta; đó là tên gọi chính thức của một cộng đồng tộc người ở miền Tây xứ Nghệ, bao gồm các nhóm: Kẹo, Họ, Mọn, Cuối, Tày Poọng (Con kha, Xá lá vàng) và Đan Lai – Ly Hà. Đây là một trong những kết quả của việc điều tra, nghiên cứu dân tộc học ở các thập niên 60s, 70s thế kỷ trước.

Dân tộc Thổ có nhiều nét văn hóa rất phong phú và độc đáo, trong đó có dân ca.

Dân ca Thổ được hình thành bởi những đặc điểm về nguồn gốc, chủ yếu là mặt ngôn ngữ. Loại hình dân ca này luôn mang yếu tố phức hợp, có tính đặc thù, ít thấy phổ quát: Đó là loại hình dân ca vừa mang yếu tố cội nguồn tự thân, vừa mang yếu tố giao lưu (rất gần với dân ca dân tộc Mường ở vùng Hòa Bình), nhưng lại rất đặc trưng và hàm súc.

Nếu các nhà Folklore học sẽ rất hài lòng khi đến với đồng bào dân tộc Thái, được nghe họ hát các làn điệu “nhuôn”, “xuối”, “khắp” (hắp), “òn”… một cách tự nhiên, không cầu kỳ về mặt tổ chức, con người và địa điểm để cất lên tiếng hát, thì đối với đồng bào người Thổ ngày nay, dân ca đã gần như quá khứ. Muốn nghe họ hát, ta phải khơi lên, phải yêu cầu các làn điệu cụ thể, hoặc phải tổ chức luyện tập trước, đi vào những chương trình cụ thể và tìm kiếm cả những con người cụ thể (thường chỉ là những người có tuổi, người già là chính), may ra mới thành công được. Trai gái dân tộc Thổ ngày nay rất ít người biết hát, hoặc quan tâm tới những làn điệu dân ca của chính dân tộc mình, mặc dầu dân ca Thổ cũng rất phong phú, giầu nhạc điệu, đậm chất trữ tình giao duyên.

Những làn điệu dân ca Thổ bước đầu mà chúng tôi sưu tầm, cũng chưa nằm ngoài những làn điệu mà nhiều nhà nghiên cứu đã sưu tầm và nghiên cứu từ trước. Gần chục năm lại nay, việc sưu tầm văn hoá Thổ, nhất là về dân ca, dân nhạc, dân vũ, đã có nhiều khởi sắc, và đã có những con em của chính người Thổ làm việc này. Các làn điệu dân ca Thổ đang dần dần được sử dụng trở lại, phát triển, nâng cao lên một bước cả về giai điệu và lời ca để phục vụ đời sống văn hoá mới, nhằm mục đích xây dựng và bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc ở địa phương mình. Đó là một tín hiệu thật đáng mừng.

Sau đây là một số làn điệu dân ca quen thuộc, hầu như khắp các làng người Thổ ở miền Tây Nghệ An, ít nhiều ai cũng biết đến, đang được từng bước khôi phục, phát triển và lưu giữ lâu dài:

1. Đu đu điềng điềng:

Điệu hát này chỉ dành cho phụ nữ hát riêng lẻ trong gia đình, không mang tính tập thể và cũng không hát ở chỗ đông người. Thường là các bà, các mẹ, các chị, các em gái hát để ru cháu, ru con hoặc ru cho em bé ngủ, theo thang âm “đô-rê-fa-sol-la”. Điệu “đu đu điềng điềng” gần giống với những bài hát ru em bé ngủ của người Thái, nhưng khi hát, giọng điệu luyến láy ít hơn, độ ngân nga ngắn hơn và có pha thêm các làn điệu khác rất tự nhiên. Có thể nói “đu đu, điềng điềng” là thể dân ca ở giữa ca dao và đồng dao. Tuy nhiên, nếu chú ý nghe một cách kín đáo, không lộ diện và lộ ý định sưu tầm hoặc tìm hiểu, ta sẽ thấy người hát “đu đu điềng điềng” có rất nhiều sáng tạo từ chất giọng cho đến sự pha tạp trong cách vận dụng thêm các làn điệu dân ca khác vào làn điệu “đu đu điềng điềng” để hát.

2. Tập tình tập tang:

Điệu hát này chủ yếu dành cho các nam nữ thanh niên là chính. Họ thường hát một mình trên nương rãy (giống như “xuối” của người Thái) để cho khuây khoả; hoặc hát cho vui cửa vui nhà vào những dịp nhàn rỗi được nghỉ ngơi ở nhà, những ngày trời mưa, giá rét, không đi làm việc được. Lúc đồng bào hát điệu “tập tình tập tang” một mình ở nhà thì nghe gần giống như điệu “òn” của người Thái (Tày Thanh). Thang âm làn điệu dân ca này chủ yếu cũng là “đồ-rê-fa-sol-la”. “Tập tình tập tang” còn được sử dụng như một làn điệu ru em bé ngủ. Đây là cách sáng tạo của người hát, tuỳ vào từng hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ như bài “ru ún” (ru em) có những câu (Nguyên văn tiếng Thổ):

Tập tình tập tang
ún téo tang cho chí bang khiêng
ún tập biệng cho chí ngâm bưa
ún tày tưa cho chí cáy khợm
ún ăn mớm cho chí ăn choi…

(Tạm dịch):

Tập tình tập tang
Em trèo cầu thang cho chị mang giỏ
Em lót lá cho chị ngâm bột
Em ngủ trưa cho chị dậy sớm
Em ăn mớm cho chị ăn nhai…

Với làn điệu ru em này, ta hiểu là đã có sự sáng tạo, không phải chỉ riêng cách nói lái độc đáo (Em ngủ trưa cho chị dậy sớm/ Em ăn mớm cho chị ăn nhai…), mà từ một điệu hát chỉ để khuây khoả nỗi buồn, chuyển sang mục đích là ru cho em bé ngủ. Người hát lúc này đã có một người nghe trực tiếp (đó là em bé), nhưng vì đối tượng nghe quá bé, cho nên người hát phải sáng tạo cách nói sao cho vừa khiến em bé ngủ, lại vừa nói được nỗi lòng, tâm sự của chính mình trong công việc phải làm ở nhà một mình với em bé, như: Mang giỏ, lót lá ngâm bột, dậy sớm, nhai mớm cơm cho em bé ăn… v.v… và… v.v, toàn là những công việc vụn vặt mà thường xuyên. Lời hát ru em đã thể hiện được cốt lõi của “tập tình tập tang” là tự động viên mình để cho công việc ở nhà với em bé không bị tẻ nhạt, buồn chán. Làn điệu này có vài nơi nói khác nhau, có nơi nói là “tập tĩnh tập tang”, có nơi lại nói “chập chĩnh chập chang”… nhưng khi họ hát lên thì đều giống nhau.

3. Dạ ời:

Là một làn điệu dân ca rất đặc trưng của dân tộc Thổ. Khác với hai làn điệu đã kể trên, “dạ ời” được sử dụng để hát giao duyên, có tính chất như “hát ghẹo”, hát đối đáp của người Kinh ở miền xuôi, với nhiều người cùng hát và chia phe để hát. “Dạ ời” được hát vào những dịp như: Đêm trăng sáng, trai gái trong làng tụ tập để gặp gỡ, giao duyên, hát đối cho vui; hát trong các dịp lễ hội, đám cưới, mừng nhà mới (ở những trường hợp này thường có kèn, chiêng trống phụ hoạ, đệm theo rất vui); hát trong các dịp đi chợ phiên, hoặc khi có trai gái từ nơi khác đến làng nghỉ trọ lại qua đêm… nghĩa là chỉ hát vào những dịp vui vẻ, chủ yếu là trai gái, nhưng các ông, các bà, các anh chị lớn tuổi cũng nhiều khi tham gia hát “dạ ời” để góp vui, và thường thì họ hát chủ đạo, bởi họ có nhiều kinh nghiệm hơn và có khi người nhiều tuổi lại có chất giọng hay hơn. Hát “dạ ời” (có nơi gọi là “dạo ời”, nhưng cách hát thì như nhau) là cách hát sử dụng giai điệu mượt mà, thướt tha, luyến láy bằng chính giọng hát được “tôi luyện” qua nhiều năm, hay là tự “thiên phú” của từng người cụ thể, tạo nên nét lôi cuốn, sự chú ý và sự đồng cảm, mến phục, dẫn tới có cảm tình rồi yêu nhau thực sự! Cách hát dạ ời có thể tóm tắt như sau: Trai gái thường chia đôi hai bên nam – nữ để hát. Người có chất giọng hay nhất thường được “bên chủ” phân công hát trước. Câu hát luôn theo thể thơ lục bát, ở dạng chào hỏi. Ví dụ: Mở đầu hát “dạ ời” chào hỏi khi có khách xa là con gái hoặc con trai đến làng:

Bên chủ hát:

Chào eng, chào chí tàng xa
Viềng thăm làng ún, thiết tha vô cùng

Bên chủ hát xong thì bên khách hát đối lại:

Chào eng, chào chí làng nhà
Có lời chào hỏi, xật là cảm ơn…

Cứ thế, cuộc hát phát triển lên mãi, từ chào hỏi đến các đích khác của đôi bên trai – gái. Hát “dạ ời” ít nhất mỗi bên cũng phải có từ ba, bốn người trở lên. Cuộc hát đối diễn ra theo trình tự tự do, người này hát, người kia không đối lại được thì người khác phải đối thay vì danh dự của “phe” mình, dứt khoát không chịu thua… bởi thế mà cuộc hát “dạ ời” có khi kéo dài suốt đêm. Những cuộc hát đối suốt đêm như vậy, nếu chỉ diễn ra ở một nơi, và chỉ có trai gái trong làng với nhau, thường liên quan đến tục “ngủ mái”. Tục “ngủ mái”, theo ông Trương Đình Thưởng – trưởng phòng văn hoá huyện Q.H (là người dân tộc Thổ) là cách gọi một cuộc hát “dạ ời” thâu đêm của trai chưa vợ, gái chưa chồng, quây quần trên một ngôi nhà sàn rộng, có sự chuẩn bị chu đáo, có mục đích rõ ràng. Ngày nay rất khó tổ chức lại được nữa.

Ngày trước, trong các làng người Thổ, hát “dạ ời – ngủ mái” giống như một nhu cầu tự nhiên của trai gái, không thể thiếu được! Sự sáng tạo trong cách hát “dạ ời” chủ yếu là sự sáng tạo lời ca, giọng ca, nhất là sự luyến láy để đưa nội dung chủ yếu của lời ca vào giữa trái tim của “đối tác” tham gia hát.

Ngày nay, để khôi phục cách hát “dạ ời” truyền thống của dân tộc Thổ là việc làm rất khó khăn và khá tốn kém. Nhưng khó mà làm được mới là cố gắng, nếu không “dạ ời” sẽ mất đi vĩnh viễn.

4. Ta ta tún:

Thực chất của “ta ta tún” là điệu hát dành cho mẹ nựng con, bà nựng cháu, chị nựng em bé. “Ta ta tún” thường dựa vào những lời ca dí dỏm, ngộ nghĩnh để tạo nên những phút vui đùa với em bé trước khi nó ngủ. Nhạc điệu của “ta ta tún” đơn giản, không có giới hạn về thời gian, bài hát ngắn hay dài là tuỳ thuộc vào em bé: Em bé chưa ngủ, hát tiếp; em bé ngủ rồi thì dừng lại. Người hát “ta ta tún” thường phải chú ý đến nhịp điệu, theo kiểu hát nói, dựa vào lời ca bốn chữ có vần (thường là chữ thứ tư của câu đầu vần với chữ thứ hai của câu tiếp theo… cứ thế, tiếp nối mãi), nhấn giọng, vào nhịp mạnh (tuỳ theo tính cách của mỗi người hát), kết hợp làm một số động tác cần thiết để em bé thích thú mà cười vui trước khi ngủ.Ví dụ, một bài “ta ta tún” tương đối phổ biến trong cộng đồng người Thổ (Nguyên văn tiếng Thổ):

Ta tun ta tún…
Con ún pe pông
Con rông pe pải
Con mái lợp nhà
Ké khà tô cơm
Con đẹt chưm chơm…

Trong sáu câu thơ trên, trừ năm câu đầu có vần theo trình tự: Tún – ún; pông – rông; pải – mái; nhà – khà, ra… đến câu thứ sáu thì từ “chơm” đã không còn ở vị trí vần theo trình tự nữa, mà được đẩy lên ở vị trí thứ tư: Cơm – chơm. Đó là cách tạo cao trào, buộc em bé phải cười trước khi ngủ (vì đa số trẻ em trước khi buồn ngủ thường hay quấy khóc).

Về cách hát, thường là chân đưa nôi, hoặc vỗ vỗ hai bàn tay vào nhau theo nhịp hát nhấn giọng khi cao, khi thấp, thường có chữ “là” đệm vào gữa câu hát ,ví dụ: “Con đẹt (là) chưm chơm…”(trẻ em (thì) lấy củi), chữ “là” chỉ đóng vai trò là đệm theo, hay như một dấu cách tạo nhấn, làm cho em bé chú ý người đang hát mà thôi, không phải kết cấu chính thức trong câu thơ, và cũng không phải bất cứ người hát “ta ta tún” nào cũng đệm thêm chữ “là” (thì) trong khi hát.
Có thể nói “ta ta tún” (có thang âm: Rê-fa-sol-la-đô), là điệu hát rất đặc trưng của đồng bào dân tộc Thổ, chúng ta vẫn còn được nghe các em bé hát nựng em mình trước khi đưa nôi bằng chính làn điệu như đã nói ở trên.

5. Đồng dao:

Cũng giống như các dân tộc khác, nhất là người Thái và người Kinh sống gần gũi bên cạnh, đồng bào Thổ đã sáng tạo nhiều bài đồng dao rất hay, rất đặc sắc. Phương pháp sáng tác cũng dựa trên nguyên tắc: Vui nhộn, dễ hát, dễ nghe, đơn giản, có tính “nhảy cóc”, rất phù hợp với tâm lý của trẻ con. (Đồng là đứa trẻ con. Dao là bài hát dân gian. Đồng dao có nghĩa là bài hát dân gian của trẻ con). Ví dụ, một bài đồng dao rất phổ biến ở người Thổ các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp

(Nguyên văn tiếng Thổ):

Khai khai rế

Cô kế đối lêng
Thành phủ tá lêng
Đối lêng cho chắng
Nấp cửa nha vắng
Cho mế bố vang…
Cách đó cách giang
Mụ cái ti ngược
Ông tược theo khâu
Rù rì nhập nhau
Nhập nhau… nhập nhau… rế!

Trong bài “khai khai rế” nguyên văn tiếng Thổ trên đây, ta thấy rõ tính đồng dao rất đặc trưng của người Thổ, nghĩa là cũng thể đồng dao, nhưng sự biến đổi lại luôn ở câu cuối cùng. Những bài đồng dao như trên, thường chỉ trẻ em nam hát, có tính chất nghịch ngợm, triêu đùa. Chúng hát khi đi chăn trâu ngoài nương, ngoài bãi ven khe suối, hoặc chơi trăng sáng ở giữa làng. Chúng hát để trêu ghẹo nhau, có khi dăm sáu đứa cùng hát, cuối cùng chúng reo to lên đồng loạt, cùng chụm đầu vào hay chạy toá ra mỗi người một nơi rồi cười như nắc nẻ. Tiếng reo cuối cùng ấy đã thêm ra một chữ “rế” trong bài đồng dao ngỡ như vô lý như ta thấy ở ví dụ trên.

Đồng dao cho ta thấy tính hiếu động, đầu óc khoáng đạt và hài hước của một tộc người có nguồn gốc đa dạng về mặt văn hoá…

Ngoài các làn điệu cơ bản như đã nêu ở trên, đồng bào Thổ còn có nhiều điệu hát biểu hiện một tâm hồn người Thổ giầu cảm xúc, và mang một sắc thái tình cảm riêng biệt mà chỉ dân tộc Thổ mới có, mới cảm nhận hết cái hay, cái đẹp của các làn điệu dân ca do chính họ sáng tạo nên từ trong cuộc sống, lao động, đấu tranh để sinh tồn và phát triển. Cần phải có thời gian và sự gắn bó mật thiết với đồng bào hơn nữa, mới mong tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực này.

Ngày xưa, người Thổ cũng ở nhà sàn là chủ yếu. Mọi cuộc hát đối giao duyên đều diễn ra ở trên nhà sàn. Nhà sàn nay không còn bóng dáng trong các làng của người Thổ nữa, vì vậy, việc khôi phục các làn điệu dân ca Thổ phải theo hướng nào để đồng bào tự giác sinh hoạt và tự giác hát hò như xưa, chứ không phải chỉ dựa vào vài ba tiết mục cải biên, hoặc chạy theo phong trào thi đua cho gọi là có “bản sắc văn hoá”, rồi thôi?

Tục ngữ người Thổ có câu: “Của được là đất; của mất là vàng”. Chưa dám nói người Thổ sắp mất, hay đã mất đi cái gì trong lĩnh vực dân ca, nhưng chắc chắn cái mất đó sẽ là “vàng” thực sự!

Anh Trương Thanh Hải bên cây đàn tính kiểu mới.
Anh Trương Thanh Hải bên cây đàn tính kiểu mới.

Đàn Tính của dân tộc Thổ

(Cao Duy Thái)

Là một dân tộc có đời sống tinh thần hết sức phong phú với vốn dân ca, dân nhạc, dân vũ mang đậm nét bản sắc; tự ngàn xưa, từ cây tre, cây nứa, đồng bào dân trộc Thổ đã sáng tạo nên cây đàn tính. Để rổi thanh âm của đàn tính trở thành một phần không thể thiếu được trong những cuộc hội vui…

Không biết tự bao giờ và ai là người đã sáng tạo nên cây đàn tính, nhưng theo các bậc cao niên thì đàn tính của dân tộc Thổ đã có từ lâu lắm, từ rất nhiều đời truyền lại. Cuộc sống tự cung tự cấp, nên đàn tính xưa cũng được làm một cách giản đơn từ những vật liệu sẵn có. Bà con thường lấy một ống tre (hoặc mét, bương, nứa) có thân to và dài lóng để làm đàn tính. Lấy đúng một lóng cùng với hai đốt hai đầu. Tre được chọn để làm đàn phải là tre vừa đủ tuổi, tre già quá sợi dây đàn sẽ giòn, dễ gãy; tre non quá, ống đàn sẽ dễ teo tóp, âm thanh phát ra không hay.

Chọn được ống tre như ý rồi, sẽ bắt đầu công đoạn chế tạo đàn. Ống tre được tỉ mẩn cắt gọt hai đầu sao cho thật bằng, cạo bỏ tinh tre chỉ để lại phần cật tre sau đó cắt một phần phía dưới, cắt dọc theo thân, thường là khoảng 1/3 để tạo đế đàn. Lúc tạo đế đàn bao giờ cũng phải chú ý làm sao để hai mắt tre mằm so le hai bên, có như vậy lúc chế dây đàn, vị trí dây đàn không “rơi” vào phần mắt tre khiến dây dễ đứt.

Xong các công đoạn trên, bây giờ đến một phần rất quan trọng, đòi hỏi tài hoa của người làm đàn tính, đó là chế dây đàn. Nhiều người lầm tưởng dây đàn được làm từ thân cây tre khác rồi nối vào thân đàn nhưng kỳ thực là không phải vậy. Dây đàn được làm từ chính ống tre thân đàn, người chế tạo đàn sẽ tỉ mẫn khoét gọt bỏ bớt phần thân, chừa lại dây đàn. Nếu trong việc chế tạo kèn, việc làm dăm kèn là khó nhất thì ở chế tạo đàn tính việc làm dây đàn cũng vậy. Phải chọn con dao mũi thật nhọn, mài mũi dao sao cho sắc ngọt; cộng với đó là mắt phải tinh, tay thật khéo mới làm được những sợi dây đàn như ý. Bởi sợi dây to quá, khi đánh lên tiếng đàn sẽ trầm đục, dây mảnh quá sẽ không bền, tiếng không chuẩn. Cả quá trình chế dây đàn chỉ cần sơ sểnh chút thôi, mũi dao khoét lẹm chút chút là dây đàn sẽ đứt và như thế thì bao công sức coi như đổ xuống sông xuống biển…

Nghệ nhân Trương Sông Hương với dàn đàn tính truyền thống.
Nghệ nhân Trương Sông Hương với dàn đàn tính truyền thống.

Rong ruổi tìm hiểu về cây đàn tính, ngõ hầu giới thiệu cùng mọi người những gì mình gom nhặt được, tôi đã gặp anh Trương Thanh Hải- một người con của dân tộc Thổ suốt nhiều năm qua rất dày công sưu tầm, nghiên cứu bản sắc văn hóa của tổ tiên. Anh cho biết, đàn tính có 3 dây, các dây đàn được điều chỉnh âm thanh bằng các “then gà”. Then gà được làm bằng tre, một đầu dày, một đầu mỏng. Lúc thẩm âm, người chơi đàn sẽ tùy theo tiếng từng dây đàn phát ra mà “nêm” then gà để dây đàn căng hơn hoặc chùng hơn, người chơi đàn thường dùng “móng” làm từ vảy con trút (tê tê) để gảy đàn.

Trải qua thời gian, đàn tính cũng dần được sáng tạo thêm những hình dáng mới. Hiện anh Trương Thanh Hải còn lưu giữ được một cây đàn mà theo anh thì chính là cây đàn tính kiểu mới, đây là một trong hai cây đàn mà cụ Trương Văn Thố ở Làng Mo, xã Nghĩa Xuân (Quỳ Hợp) làm để lưu lại cho con cháu trước lúc qua đời (cụ qua đời năm 1997). Cùng với các nghệ nhân như cụ Tuân ở làng La (Minh Hợp), cụ Trà ở Đột Tân (Nghĩa Xuân)… cụ Trương Văn Thố là người nức tiếng giỏi đàn hát và làm đàn tính đẹp nhất vùng trước đây. Nhìn qua thì cây đàn này này giống đàn tính của dân tộc Tày mạn Cao Bằng. Khác chăng là thùng đàn không làm tròn mà làm hộp hình chữ nhật và có khoét lỗ vuông phía dưới thùng, cần đàn ước dài chừng 1,2 mét; đàn có 3 dây được làm bằng sợi tơ.

Cũng sáng tạo trên cơ sở cây đàn tính truyền thống, nghệ nhân Trương Sông Hương ở xã Thọ Hợp (Quỳ Hợp) lại ghép 8 cây đàn tính đơn lẻ thành một đàn tính mới trông giống như đàn T’ Rưng ở Tây Nguyên. Đàn không dùng móng để gãy mà dùng dùi để gõ. Nhờ sự hòa trộn cung bậc của các cây đàn đơn lẻ mà cây đàn tính đầy chất sáng tạo này có âm thanh rất đặc trưng những nhạc cụ khác khó bề có được.

Sưu tầm tư liệu về đàn tính.
Sưu tầm tư liệu về đàn tính.

Khác với kèn và một số loại nhạc cụ khác của đồng bảo dân tộc Thổ có thể cất lên thanh âm trong cả việc vui, nghi lễ và cả việc buồn như ma chay, tang lễ. Đàn tính chỉ được dùng trong việc vui như ngày Tết, Lễ cưới hỏi, Hội làng… mà thôi. Tiếng đàn làm cho các làn điệu dân ca dân tộc Thổ như Dạ ời, Tập tính tập tang, Đu đu điềng điềng… trong ngày hội vui thêm phần cuốn hút. Chả thế mà trước đây khi các loại nhạc cụ điện tử, nhạc cụ hiện đại chưa đến với dân làng, đàn tính là nhạc cụ không thể thiếu trong các cuộc vui.

Như đã đề cập ở những bài viết trước, chung thực trạng cùng không ít nhạc cụ truyền thống khác của cộng đồng các dân tộc anh em, hiện nay đàn tính cũng đang có nguy cơ ít người biết đến. Theo khảo sát của chúng tôi, những người biết làm đàn tính, biết đánh đàn tính hiện còn rất ít, cả vùng Nghĩa Xuân, Minh Hợp hiện không có ai biết làm loại đàn này. Ở vùng Tam Hợp, Thọ Hợp cũng chỉ có mỗi nghệ nhân Trương Sông Hương biết làm và sử dụng được.

Đàn tính đã trở thành một phần bản sắc văn hóa của cộng đồng dân tộc Thổ, rất nhiều bậc cao niên đến giờ vẫn luôn đau đáu nhớ về tiếng đàn tính, nhớ về những đêm hội làng đông vui. Ngày xưa ấy, chính cây đàn tính, tiếng đàn tính chở nặng tình đất tình người đã xe duyên cho rất nhiều trai tài gái sắc nên duyên chồng vợ… Để bảo tồn được đàn tính, để tiếng đàn tính mãi còn vang ngân chắc hẳn cần lắm sự chung tay của cả cộng đồng.

Biểu diễn công chiêng dân tộc Thổ (Nghệ An).
Biểu diễn công chiêng dân tộc Thổ (Nghệ An).

Cồng chiêng trong đời sống tâm linh dân tộc Thổ, Nghệ An

(TH-Cinet-DTV)

Với người Thổ ở làng Đong, huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An), cồng chiêng được xem như một vật thiêng, là sợi dây nối kết giữa người trần và các đấng linh thiêng, là nơi họ gửi gắm những tâm tư tình cảm…

Là một huyện miền núi, nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An, nơi đây gồm 3 dân tộc cùng chung sống là Kinh, Thái và Thổ, Nghĩa Đàn tự hào có một đời sống văn hóa phong phú, trong đó có văn hóa cồng chiêng của người Thổ.

Với gần 8% đồng bào dân tộc Thổ sinh sống, bà con nơi đây vẫn còn lưu giữ những nét đẹp tinh hoa trong văn hóa cồng chiêng của dân tộc mình. Cồng chiêng được xem như một vật thiêng, là sợi dây nối kết giữa người trần và các đấng linh thiêng, là nơi họ gửi gắm những tâm tư tình cảm, vì vậy cồng chiêng gắn bó mật thiết trong cuộc sống tâm linh của đồng bào Thổ. Mỗi bản nhạc cồng chiêng được đánh lên lại biểu hiện cho một sự kiện quan trọng trong sinh hoạt văn hóa của họ.

Bà con dân tộc Thổ ở làng Đong này ngày xưa chỉ có khoảng mười hộ gia đình cùng nhau lập bản giữa chốn rừng núi rậm rạp, con thú dữ thường về phá phách. Già làng lúc đó đã cử những chàng trai khỏe mạnh tìm cách xua đuổi mà không được. Khi đó, có một thanh niên trong đám trai bản lấy cồng ra đánh. Nghe tiếng cồng, con thú dữ khiếp sợ chạy một mạch về rừng sâu.

Từ đó, âm thanh tiếng cồng, tiếng chiêng vang lên như là một thứ vũ khí để chống lại thú dữ và xua đuổi tà ma. Lâu dần, bà con thường mang cồng, chiêng ra đánh rồi hát cho nhau nghe những điệu ví, câu hò, những làn điệu dân ca Thổ… dưới ánh trăng rằm sáng vằng vặc sau những ngày làm việc mệt nhọc trên nương rẫy.

Ngày nay, cứ vào các dịp lễ tết, lễ mừng lúa mới hay lễ xuống đồng, bà con dân tộc Thổ lại mở hội cồng chiêng. Thường vào các ngày đầu năm của tết âm lịch bà con lại chọn làm ngày đẹp để tổ chức hội cồng chiêng với mong muốn xua đuổi tà ma, cầu cho một năm mới mưa thuận gió hòa, nhà nhà đủ cái ăn, cái mặc, làng bản yên vui…

Không khí lễ hội trở nên rộn ràng tươi vui khi tiếng cồng chiêng hòa lẫn với tiếng hát và tiếng hò reo cổ vũ cho những thành viên tham gia các trò chơi. Điều này thể hiện tính cộng đồng của cộng đồng dân tộc Thổ trong sinh hoạt thường ngày cũng như trong các dịp lễ hội.

Cồng chiêng có ý nghĩa lớn lao trong đời sống tinh thần của bà con dân tộc và là một di sản vô giá. Vì vậy mà chính quyền địa phương luôn quan tâm và đặt công tác bảo tồn, phát triển lên hàng đầu. Tại đây, bà con được hỗ trợ kinh phí tổ chức những lễ hội của mình, trẻ nhỏ trong bản được các già làng dạy lại cách đánh cồng chiêng, những điệu múa, bản nhạc phù hợp với sự kiện tổ chức của dân tộc mình.

Có thể nói, văn hóa cồng chiêng của đồng bào dân tộc Thổ ở làng Đong là một di sản văn hóa tinh thần vô cùng quý giá. Việc gìn giữ và phát huy bản sắc này là việc làm quan trọng và cần có sự quan tâm hơn nữa của các cấp các ngành.

Trò chơi ném còn tộc Thổ.
Trò chơi ném còn tộc Thổ.

Các trò chơi dân gian độc đáo của người Thổ

(TH-Cinet-DTV)

Đến bản làng của đồng bào Thổ vào những ngày lễ hội, tiếng cồng chiêng, tiếng hát luôn âm vang khắp cả núi rừng. Trong những ngày hội đầu năm mới của đồng bào không thể thiếu được các trò chơi dân gian như trèo rải, đánh đu, ném Còn…

Lễ hội của người Thổ bắt đầu từ ngày mồng 3 tết Nguyên đán. Trong không khí vui xuân, đón tết, hòa lẫn trong tiếng cồng chiêng là những đôi nam nữ cùng hát Dạ ời, hay còn gọi là hát giao duyên. Với người lớn tuổi, đã có gia đình thì hát để chúc nhau sức khỏe, chúc năm mới gặp nhiều may mắn, làm ăn phát đạt. Đối với những đôi nam nữ thanh niên chưa có gia đình thì hát Dạ ời để thay lời tỏ tình.

Cùng với hát Dạ ời, thì người Thổ cũng rất thích múa sạp vào các dịp lễ hội. Múa sạp xuất hiện từ lâu trong đời sống cộng đồng dân tộc Thổ. Chị em phụ nữ thường mặc trang phục truyền thống khi múa sạp. Điệu múa này không chỉ vui mà còn luyện cơ thể dẻo dai, khỏe mạnh.

Hòa lẫn với lời ca, tiếng hát là những trò chơi dân gian. Với người Thổ thì trò chơi ném còn thường được tổ chức vào các dịp lễ hội và ngày tết. Trò vui này mang ý nghĩa cầu mong mùa màng tươi tốt, nhà nhà sung túc, yên vui. Đây cũng là dịp để nam nữ thanh niên tìm bạn đời.

Quả còn của dân tộc Thổ có hình cầu to bằng nắm tay trẻ nhỏ, được khâu bằng nhiều múi vải màu, bên trong nhồi hạt thóc và bông. Giữa sân cỏ rộng, người ta trồng một cây nêu bằng tre. Gần đỉnh cây nêu được treo một vòng tròn. Chiếc vòng tròn này được gọi là “phông còn”. Ném còn làm cho người trong cuộc hào hứng, người đứng ngoài hò reo cổ vũ khiến không khí cuộc chơi rất sôi nổi, hấp dẫn.

Có lẽ trong số các trò chơi dân gian của người Thổ, thì trò chơi trèo rải là được đông đảo bà con dân bản chờ đợi nhất. Trò chơi này được làm bằng một cây chuối to trồng ngọn xuống đất ở giữa sân cỏ. Trên đỉnh được khoét một lỗ sâu đổ nước vào để khi trèo lên, nước từ trên đỉnh cây chuối đổ xuống làm trơn thân cây tạo thêm sự khó khăn cho người chơi. Bởi vậy người chơi trèo rải đòi hỏi phải có sức khỏe. Người thắng cuộc sẽ nhận được những phần thưởng cắm ở trên đỉnh cây chuối. Trò chơi này thể hiện bản lĩnh của người đàn ông Thổ dù khó khăn, vất vả đến đâu cũng phải chinh phục và chiến thắng.

Không khí lễ hội trở nên rộn ràng tươi vui khi tiếng cồng chiêng hòa lẫn với tiếng hát và tiếng hò reo cổ vũ cho những thành viên tham gia các trò chơi. Điều này thể hiện tính cộng đồng của cộng đồng dân tộc Thổ trong sinh hoạt thường ngày cũng như trong các dịp lễ hội. Những trò chơi, những bài hát, tiếng khèn như kết nối mọi người gần nhau hơn, tăng thêm tình đoàn kết đồng bào khắp thôn bản. Đây cũng là điều kiện để đồng bào Thổ gìn giữ những phong tục, nghi lễ, những nét văn hóa độc đáo của dân tộc mình.

Trang phục nam, nữ dân tộc Thổ.
Trang phục nam, nữ dân tộc Thổ.

Trang phục dân tộc Thổ

(TQ-DTV)

Do tình trạng du canh du cư kéo dài nên nghề dệt truyền thống của người Thổ không phát triển, họ không tự dệt may trang phục của mình, kỹ thuật nhuộm vải hầu như không có, dẫn đến tình trạng may mặc của đồng bào Thổ mang tính chất lệ thuộc và thiếu sự đồng nhất, không có bản sắc riêng.

Trong khi hầu hết đàn ông Thổ mặc tương tự người Việt với chiếc quần trắng cạp vấn, áo dài lương đen và đầu đội khăn nhiễu tím thì phụ nữ lại sử dụng váy của người Thái để mặc trong ngày thường và cả hội hè, đình đám.

Người Thổ có truyền thuyết: Xưa kia, có 2 chị em sinh ra trong một gia đình người Thái -Thanh. Họ càng lớn, càng xinh đẹp. Rồi cô em đi lấy chồng là người dân tộc Thổ ở làng khác, nhưng do kinh tế quá khó khăn nên phải về nhà ngoại xin chị áo mặc. Người chị cũng nghèo nhưng thương em nên đã cắt cho em vạt dưới chiếc áo của mình. Vì vậy, áo phụ nữ Thái –Thanh hiện nay rất ngắn, còn áo của phụ nữ Thổ thì phải vá phần trên. Đó là kiểu áo 5 thân, phần trên khác màu.

Thí sinh Nguyễn Thị Nhung, tộc Thổ, trong một kỳ thi Hoa Hậu Dân Tộc.
Thí sinh Nguyễn Thị Nhung, tộc Thổ, trong một kỳ thi Hoa Hậu Dân Tộc.

Phụ nữ Thổ còn mặc váy vải sợi bông màu đen, có thêu hai đường chỉ màu từ cạp tới gấu váy, mặc áo 5 thân màu nâu hoặc trắng. Người Thổ ở vùng Qùy Hợp (Nghệ An), váy phụ nữ thường được mua hoặc đổi của người Thái. Váy bằng vải sợi bông nhuộm chàm, dệt kẻ sọc ngang, khi mặc những đường sọc đó tạo thành vòng tròn song song quanh thân. Áo cánh trắng cổ viền, tay hẹp như áo cánh người Việt. Phụ nữ đều đội khăn vuông trắng giống như người Mường và để tang bằng khăn dài trắng giống người Việt.

Chân váy của người Thổ sẽ dày hơn thân váy do người phụ nữ thường đệm thêm một lớp vải trắng phía trong chân váy để giữa váy được bền và thằng nếp. Phần trên được nổi thêm một đoạn vải trắng dài khoảng 30 phân làm thành cạp váy.

Phụ kiện trang phục đi với áo và váy là chiếc thắt lưng có màu xanh hoặc màu vàng thắt quanh hông, buộc hai đầu vào cạnh hông chứ không buộc thắt nút. Đối với những phụ nữ thuộc gia đình khá giả thì mặc những loại váy bằng chất liệu tơ tằm, một phần ba thân váy và gấu đều dệt hoa văn mỹ miều.

Phụ nữ Thổ không dùng nón, mũ che mưa, nắng mà chủ yếu dùng chiếc khăn vuông khổ rộng khoảng 80 cm bằng vải phin trắng, gấp lại để đội đầu.

Trong đám tang, đồ lễ của người Thổ là mặc áo trái, gấu áo xổ ra te tua. Khi để tang, phụ nữ Thổ thường đeo khăn dài trắng tương tự như người Kinh.

Ngày nay, chỉ trong những ngày thực sự quan trọng đối với bản làng, phụ nữ Thổ mới mặc trang phục truyền thống. Còn nam giới thì hoàn toàn mặc như người Kinh trong ngày thường cũng như hội, lễ.

"Bánh đầu chó" trong mâm cỗ của người Thổ.
“Bánh đầu chó” trong mâm cỗ của người Thổ.

“Đầu chó”- Món bánh truyền thống đồng bào dân tộc Thổ, Nghệ An

(TH-Cinet-DTV)

“Đầu chó” là một loại bánh không thể thiếu trong mâm cỗ của các gia đình đồng bào dân tộc Thổ (Nghệ An) vào những dịp lễ, tết…

Vào mỗi dịp Tết, đồng bào dân tộc Thổ lại dùng nếp trắng vừa thơm, vừa dẻo để gói bánh chưng và “bánh đầu chó”. Họ còn làm lễ, cho trâu bò ăn bánh, để trả ơn cho con trâu suốt năm vất vả giúp người.

Quy trình gói bánh đầu chó rất đơn giản, không cầu kỳ, tốn kém… dễ làm, hầu như ai cũng có thể tự tay gói cho mình và gia đình những chiếc bánh dân giã này – nhất là các bà, các chị phụ nữ Thổ vốn khéo tay, chịu thương chịu khó.

Để gói bánh, cần chuẩn bị trước một lượng gạo nếp tùy theo nhu cầu mỗi gia đình, lạt giang và lá gói – nhất thiết phải là lá chít (lá cây chổi đót – thuộc họ lau, có nhiều ở các triền núi, bờ khe). Đặc biệt, bánh chỉ sử dụng rặt nếp không có nhân như bánh chưng, bánh tét.

Nếp vo kỹ, xóc qua muối vừa đủ, để ráo nước. Lá chít còn tươi, lấy về rửa sạch xếp thành lớp. Mỗi chiếc bánh đầu chó chỉ dùng hai lá để gói. Lá được xếp thành hình phễu, xúc gạo nếp đã vo đổ vào (mỗi chiếc độ một muôi nếp) dùng tay nén chặt khéo léo cuộn lá thật chặt thành hình đầu con chó, xong buộc chặt bằng một sợi lạt giang dẻo.

Bánh gói xong, xếp vào nồi, đổ ngập nước và nấu kỹ trong khoảng 2 giờ. Bánh chín, vớt ra để ráo và bảo quản nơi thoáng mát. Thường trong mâm cỗ cúng những ngày tết, đĩa bánh đầu chó với dăm ba chiếc nằm khiêm tốn bên những xôi, thịt, rau dưa… cũng toát lên không khí lễ hội.

Ngoài chức năng là phẩm vật trong mâm cỗ cúng gia tiên, những ngày tết cùng với bánh chưng, bánh dày… bánh đầu chó còn là món quà mừng tuổi cho lũ trẻ. Nếu như trong quan niệm đồng bào Thái, con trâu được xem là con vật thân thiết gần gũi với mỗi gia đình nên những ngày tết họ gói bánh sừng trâu với mong muốn sức khỏe như trâu mộng… Ở đồng bào dân tộc Thổ, con chó lại được xem là con vật trung thành, gần gũi… vậy nên chiếc bánh đầu chó còn mang ý nghĩa gắn kết, gần gũi trong cộng đồng.

Sẽ là may mắn cho bất cứ ai trong những ngày xuân sang, tết đến… đến các xóm đồng bào Thổ trong bữa cơm đón tết được chủ nhà trang trọng mời đĩa bánh đầu chó… Không là sơn hào hải vị, nhưng từ trong sâu xa tâm thức dân gian qua chiếc bánh dân giã, cũng cảm hết giá trị chân tình của chủ nhà qua món quà quê bình dị…

Từ xưa đồng bào các dân tộc Thổ đã biết tạo ra những nét ẩm thực độc đáo để phục vụ bữa ăn cho chính mình; ngày nay, những nét ẩm thực độc đáo ấy đã và đang được giữ gìn và phát huy.

oOo

Những người ngược ngàn – Phóng sự dân tộc Thổ:

 

Dân tộc Thổ:

 

Tìm hiểu về võng gai của dân tộc Thổ:

 

Người lưu giữ văn hoá Thổ:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s