Mệnh Lệnh Năng Lượng Bắt Buộc – CHƯƠNG 4 (PHẦN 11)

Người dịch: Đào Thị Bích Diệp
Biên tập: Đào Thu Hằng

MỆNH LỆNH NĂNG LƯỢNG BẮT BUỘC:
100% TÁI TẠO NGAY BÂY GIỜ

CHƯƠNG 4:  TĂNG TỐC (Phần 11) 

4D. Tài sản công: vai trò then chốt của việc cung cấp năng lượng cấp địa phương

Không ai tranh cãi rằng việc độc quyền kinh tế đang bị lạm dụng để tạo ra các rào cản thị trường cho các mặt hàng và tiện ích khác, thường là tốt hơn và hiệu quả hơn. Điều này xảy ra không phân biệt sự độc quyền đó là thuộc sở hữu của nhà nước hay tư nhân; cho đến nay, các công ty độc quyền nhà nước và tư nhân làm việc theo một cách thức tương tự nhau để ngăn chặn dòng chảy của năng lượng tái tạo. Do đó, việc tự do hóa các thị trường năng lượng, một đặc trưng lâu đời của công nghiệp dầu khí và được nhiều quốc gia đưa vào trong ngành điện và khí đốt của mình trong suốt những năm 1980, đã không làm tồi tệ hơn các điều kiện cho năng lượng tái tạo. Trong một chừng mực nào đó, nó thậm chí đã mang lại những cải thiện tối thiểu thông qua việc mở cửa thị trường cho các nhà sản xuất năng lượng xanh. Mặt khác, sự tự do hoá này cũng làm tăng lên những rào cản tâm lý cho năng lượng tái tạo, như đã được mô tả ở phần Hội chứng tự kỷ của thị trường, đòi hỏi năng lượng tái tạo phải bị yêu cầu tự thiết lập chỗ đứng của chính mình trong một thị trường đã bị bóp méo để làm lợi cho tình hình hiện tại của năng lượng truyền thống. Ngoài ra, những thay đổi này mới chỉ được thực hiện một cách nửa vời, điều này là rất rõ ràng trong ngành điện lực. Chìa khoá để tự do hoá hiệu quả là phải ngăn chặn các công ty độc lập nắm giữ quyền kiểm soát việc sản xuất, truyền tải và phân phối điện. Tuy nhiên, ở cấp độ đoàn thể, hiện vẫn chưa có yêu cầu nào để tách biệt các quan hệ sở hữu như vậy.

Một nhà sản xuất điện, đồng thời cũng là chủ sở hữu của một mạng lưới truyền tải điện không được phép tự đặt cho mình những ưu đãi trong truyền tải và bảng giá phân phối để mà phân biệt đối xử chống lại các đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, một mạng lưới lại là  một sự độc quyền một cách tự nhiên. Mạng lưới đều phải sử dụng bởi tất cả mọi người  và vì những lý do không gian và chức năng, việc cạnh tranh với các mạng lưới này là không thể. Điều này đúng với tất cả các hệ thống mạng lưới trên mặt đất như là mạng lưới đường bộ, đường sắt, truyền thông, nước, khí đốt và điện, và do đó mỗi mạng lưới đó được đòi hỏi phải hoạt động một cách trung lập và tôn trọng tất cả những người sử dụng. Điều này chỉ có thể được đảm bảo thật sự khi các mạng lưới này được sở hữu công khai và không cần phải tạo ra năng suất, bởi vì điều này nằm trong lợi ích công cộng tổng thể mà ngay cả các thành phần phi kinh tế của mạng lưới cũng phải được duy trì. Nếu chúng ta đã chỉ cần đối phó với bảng giá cả với những sự ưu đãi không phân biệt cho tất cả các mạng lưới, thì một cơ quan có thẩm quyền điều tiết đã là đủ rồi.

Nhưng có hai khía cạnh then chốt khác nữa đối với các mạng lưới điện. Một mặt, các lưới điện có chức năng kiểm soát, bởi vì tiện ích mà chúng vận chuyển và phân phối không phải là một thực thể vật chất về mặt vật lý, đồng thời số lượng tiện ích được cung cấp và tiêu thụ phải được đồng bộ. Do đó các nhà điều hành mạng quyết định dựa trên số lượng và nguồn năng lượng được cấp cho mạng lưới. Mặt khác, một nhà điều hành mạng phải thiết kế mạng lưới dựa trên các vị trí sản xuất. Tuy vậy, điều này có nghĩa là, nhà điều hành mạng có toàn quyền đối với việc liệu mạng lưới này có thể thích nghi,và sẽ thích nghi nhanh như thế nào, với sự thay đổi cấu trúc gắn với sự chuyển đổi sang năng lượng tái tạo, từ một vài  nhà máy điện tập trung với quy mô lớn đến rất nhiều máy phát điện phi tập trung, hay là việc họ có sẵn sàng để kết nối những máy phát điện mới với mạng lưới điện.  Nơi nào những nhà điều hành mạng trì hoãn hoặc từ chối làm việc đó, họ sẽ làm chậm hoăc ngăn chặn quá trình chuyển đổi mang tính cấu trúc này.

Điều này gây hậu quả rõ rệt với mục tiêu thay đổi năng lượng nhanh chóng. Sự độc quyền tự nhiên được thừa hưởng bởi các mạng lưới điện phải được nắm trong tay cộng đồng và được kiểm soát  một cách dân chủ. Điều này đặc biệt là trường hợp của  các mạng lưới đô thị đang hoạt động ở mức điện thế thấp hoặc trung bình, và cũng là nơi mà có hầu hết các nhà sản xuất điện phi tập trung được kết nối với nhau. (Ở đây sự liên kết giữa các nhà sản xuất phi tập trung với mạng lưới có thể được thiết lập một cách nhanh nhất, vì đường dây tải điện cần thiết thường rất ngắn). Tuy vậy chưa có thêm bằng chứng rằng con đường ngắn nhất để thay đổi năng lượng là thông qua sự phát điện phi tập trung, các quá trình có thể kiểm soát được và các chính quyền thành phố có một sự quan tâm đến phi tập trung hoá sự sản xuất điện nhiều hơn so với các nhà điều hành mạng lưới hoặc nhà sản xuất điện tập trung – đó đều là những tranh luận cho mạng lưới được sở hữu bởi thành phố. Những thành phố nơi bỏ đi quyền sở hữu các mạng lưới địa phương  làm chậm lại quá trình của sự chuyển đổi năng lượng, việc đưa các mạng lưới này trở lại cho quyền sở hữu thành phố sẽ làm tăng tốc quá trình thay đổi hệ thống năng lượng.

Mạng lưới truyền tải, cũng cần phải được xã hội hoá theo một cách thức dân chủ, không chỉ trở thành tài sản công, mà còn phải được kiểm soát một cách dân chủ và hiệu quả. Đây là trường hợp xảy ra, ví dụ như, ở Đan Mạch và Thuỵ Điển nơi mà mạng lưới truyền tải được tuyệt đối sở hữu công. Những mạng lưới đang tồn tại không thể thành một sân chơi cho các tập đoàn, được niêm yết trên thị trường chứng khoán và cần phải tạo ra suất cho các cổ đông và không có lợi ích nào trong việc đầu tư do giá cả vận chuyển được quy dịnh bởi cơ quan quản lý. Một mạng lưới điện và khí đốt điều hành bởi cộng đồng chỉ cần trang trải đủ các chi phí của nó, và việc kiểm toán thường xuyên sẽ đảm bảo hiệu suất hoạt động của mạng lưới. Tất cả các luận điểm chống lại sự tư nhân hoá  mạng lưới đường sắt có thể được sử dụng để lập luận rằng các mạng lưới vận chuyển năng lượng cũng phải nằm trong tay của cộng đồng- “sự độc quyền một cách  tự nhiên” nằm trong tay sở hữu công cho các mạng lưới sẽ tạo ra việc sử dụng tối ưu năng lượng tái tạo thuộc sở hữu công. Vì thế chính phủ Đức bị buộc tội cho một sự thiếu sót lớn về chính trị vì đã không mua mạng lưới truyền tải được bán vào những năm 2009/2010 bởi hai công ty năng lượng Đức E.ON và Vattenfall và thành lập một công ty mạng sở hữu quốc gia. Thậm chí cả hai đảng chính trị ủng hộ sự thay đổi năng lượng ở Đức là Đảng Dân chủ Xã hội và Đảng Xanh cũng không thúc đẩy mạnh mẽ việc tiếp quản quốc doanh cho mạng lưới này. Đã không hề có một tranh luận rộng và công khai tương tự như trong việc tư nhân hoá mạng lưới đường sắt, cứ như thể hệ thống truyền tải năng lượng kém quan trọng hơn trong cộng đồng.

Sự hiệp lực của các cơ sở hạ tầng

Có một lý do sâu xa hơn nữa cho việc sở hữu công các mạng lưới. Điều này liên quan đến thiết kế tương lai tổng thể trong  tất cả các cơ sở hạ tầng trên đất liền, mà cho đến nay, đã được xây dựng và vận hành một các độc lập: mạng lưới điện, mạng lưới đường bộ, mạng lưới đường sắt, đường thuỷ và mạng lưới cấp nước, tất cả đều cho rằng mình có quyền đòi hỏi và định hình cảnh quan. Một hệ thống cung cấp điện năng dựa trên sự đa dạng công nghệ vốn có trong năng lượng tái tạo làm cho sự phối hợp này là khả thi và có năng suất về mặt xã hội: các tuyến đường chính với hệ thống dây điện được tích hợp,  dưới hình thức các loại cáp ngầm chạy dọc ở giữa hay ở mép các xa lộ; mạng lưới cấp nước tích hợp vào các nhà máy thuỷ điện và các nhà máy điện bằng bơm lưu trữ. Các giải pháp tích hợp như thế này đảm bảo năng suất về mặt kinh tế và giảm thiểu được gánh nặng cho cảnh quan. Tình trạng lý tưởng nhất cho những tích hợp này chính là một công ty vận hành mạng lưới quốc doanh cho tất cả các mạng lưới cơ sở hạ tầng, tuân theo cơ chế kiểm soát không chỉ bao gồm đại diện của nhà nước, trong vai trò là sở hữu công cộng, mà còn bao gồm các đại diện độc lập của các nhóm lợi ích khác nhau  trong cộng đồng: các hiệp hội thành phố, hiệp hội môi trường, hiệp hội người tiêu dùng, hiệp hội và liên đoàn công nghiệp. Phải thừa nhận rằng, điều này có thể dẫn đến các vấn đề của một tổ chức cố định với kích thước khổng lồ. Do đó, điều cần phải làm là việc nhận ra sự hiệp lực này thông qua một liên minh cơ quan điều hành mạng lưới, mà sẽ đưa ra báo cáo hàng năm về cơ sở hạ tầng công cộng và đề xuất các quyết định cụ thể về đầu tư cơ sở hạ tầng tích hợp.

(còn tiếp)

© 2014 copyright Verlag Antje Kunstmann GmbH

Permission granted for translating into Vietnamese and publishing solely on dotchuoinon.com for non-commercial purposes.

Bản quyền bản dịch:  dotchuoinon.com

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s