Nhà nông thời hội nhập – Kỳ I

Phóng sự 4 kỳ :

Hoàng Thiên Nga

Với gần 80 dân số sống bằng nghề nông, hình ảnh về nông dân Việt Nam trước đây gần như mặc định gắn với sự khó nghèo, lạc hậu. Thời hội nhập, nông sản xuất khẩu đòi hỏi phải chứng minh được nguồn gốc và tính bền vững, buộc tình thế phải đổi thay. Một thế hệ nông dân mới giàu có tri thức, kỹ năng cùng mối liên kết chín muồi giữa “nhiều nhà” đang cùng tạo nên một cuộc “cách mạng xanh” đầy ý nghĩa .  

Kỳ I- Nhìn từ các loại cây xuất khẩu tỉ đô

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu phục hồi chật vật, kim ngạch xuất khẩu nông sản riêng 7 loại cây trồng chủ lực ở nước ta năm 2014 đã đạt tới 14,25 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay. Trong đó, dẫn đầu là Cà phê 3,62 tỷ USD; Gạo- 3,04 tỷ ; Điều – 2 tỷ ; Cao su – 1,8 tỷ ; Rau quả – 1,47 tỷ ; Tiêu – 1,2 tỷ ; Sắn – 1,12 tỷ USD. Tuy đều vượt mốc tỉ đô, nhưng tiềm năng, thành quả, và dư địa- khoảng trống còn lại để tiếp tục điều chỉnh, phát huy của mỗi ngành, rất khác .

 I-Hành trình lên ngôi của nông sản

Cà phê trở thành mặt hàng nông sản xuất khẩu số 1 trong số các loại cây trồng của cả nước, là hệ quả tất yếu của quá trình đầu tư nhiều thập kỷ, với vô số điều chỉnh công phu, hợp lý và chặt chẽ, từ quy trình kỹ thuật đến phương thức quản lý, góp phần nâng cao dần năng suất, chất lượng, tạo đầu ra thuận lợi cho sản phẩm. Thời internet phủ sóng tới mọi ngõ ngách, người trồng cà phê năng động nào bây giờ cũng có thể nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ “nhiều nhà” liên quan: chủ trương chính sách của Nhà nước, giống mới cao sản và kỹ thuật thâm canh của nhà khoa học ở các Viện nghiên cứu và bộ máy khuyến nông, sự quan tâm đầu tư vùng nguyên liệu của các nhà doanh nghiệp, nguồn vốn vay từ ngân hàng (nhà băng), nguồn thông tin dồi dào từ các nhà đài, nhà báo !

Tuy vậy, giá trị kim ngạch của cà phê Việt được dự báo còn gấp chục lần hiện nay, trên mục tiêu tăng dần chế biến sâu, hạn thế tối đa xuất khẩu nguyên liệu thô, xây dựng thêm nhiều thương hiệu đủ sức cạnh tranh toàn cầu.

Tương tự, Hồ tiêu tuy xếp gần cuối hàng, nhưng nhờ năng suất, chất lượng vô địch, mà gia tăng lợi nhuận đáng kể, nhanh chóng đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới về loại hạt gia vị này. Rau quả lên ngôi với nhiều tiến bộ không ngừng về khoa học kỹ thuật, không chỉ ở Lâm Đồng và khu nông nghiệp công nghệ cao các thành phố lớn, mà còn len vào tận vùng xa xôi heo hút như huyện Đắk Glong-Đắk Nông, Kon Plông- Kon Tum, với sự xuất hiện và lao động thực thụ của các trí thức trẻ và nông dân nội địa, các chuyên gia nông nghiệp đến từ Israel, Hà Lan, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc…

Trồng hoa trong nhà lưới ở Kon Plông- Kon Tum.
Trồng hoa trong nhà lưới ở Kon Plông- Kon Tum.

Cũng là sắn, mà với nông dân Tây Ninh đã thông thạo kỹ năng thâm canh, mạng lưới nhà máy chế biến hiện đại đủ bảo đảm thu mua ổn định, thì đó là cây làm giàu; Còn những nơi trì trệ kiểu tận thu một chiều lạc hậu, sắn vẫn chỉ là cây xóa đói. Gạo, Cao su tuy doanh số và diện tích lớn nhưng cả năng suất, chất lượng, công nghệ lẫn giao dịch thương mại, tiếp cận thị trường vẫn còn trì trệ, mức sống người lao động còn thấp; Điều năng suất kém, diện tích ngày càng giảm, phải nhập khẩu quá nửa lượng hạt thô để chế biến, chủ yếu tận dụng nguồn nhân lực giá rẻ để lấy công làm lãi, lợi nhuận kém so với giá trị, mà nhu cầu thị trường chưa biết bao giờ mới đủ đáp ứng .

Người dân thu họach sắn
Người dân thu họach sắn

 

II- Liên kết đầy trách nhiệm và tính nhân văn

Thời hội nhập, để có sức cạnh tranh, loại nông sản nào cũng phải bảo đảm đáp ứng các tiêu chí sạch, ngon, số lượng lớn, giá thành hạ, chiến lược thị trường tốt. Để đạt được điều đó, nông dân buộc phải giã từ kiểu nông nghiệp truyền thống dựa dẫm vào kinh nghiệm, mạnh ai nấy làm, để tham gia xây dựng chuỗi liên kết mới, bảo đảm đủ các khâu: quy hoạch- cung ứng giống- vốn- kỹ thuật-sức lao động- chế biến sau thu hoạch- xây dựng thương hiệu- tiếp thị thương mại- bao tiêu sản phẩm.

Nhiều nơi lần lượt xuất hiện những mô hình nông nghiệp công nghệ cao do chuyên gia xây dựng, truyền bá, nông dân tiếp thu rồi thực hiện thành công, cộng thêm những sáng tạo mới trong quá trình va đập, khi lan truyền có sức động viên, cổ vũ nhiều người khác noi gương, tự mở cho mình hướng đi mới.

Trong sản xuất cà phê ( CP) , sau những chuyến đi thực tế về vùng nguyên liệu, rồi dự cuộc gặp gỡ giao lưu đầu tiên với các thành viên tiêu biểu mạng lưới “hợp tác xã thương mại công bằng” ( HTXTMCB) trên các tỉnh Tây Nguyên tại Buôn Ma Thuột giữa tháng 3 này, tôi (phóng viên) được nghe nhiều chia sẻ thú vị.

Là “nông dân chính hiệu” ở xã vùng sâu, đường đất bụi mù cách Buôn Ma Thuột hơn 70km, sau khi Việt Nam gia nhập WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới), được nhóm chuyên gia Green Fairtrade tiếp cận tổ chức tập huấn về phương thức sản xuất bền vững, năm 2010 ông Nguyễn Văn Phúc đã liên kết hàng trăm hộ có rẫy CP thành lập Hợp tác xã Nông nghiệp Dịch vụ Công bằng Ea Kiết (huyện Cư Mgar- Đắk Lắk). Được ngân hàng ADB và Cty cà phê Đắk Man bắt tay tài trợ một dàn máy sơ chế CP ướt trị giá gần 6 tỉ đồng, HTX dành dụm xây thêm nhà kho, sân phơi, đủ điều kiện sản xuất CP sạch chất lượng cao, doanh nghiệp bao tiêu toàn bộ sản phẩm với giá cộng thêm vài chục USD mỗi tấn, mọi thu chi của HTX luôn công khai trước toàn thể xã viên.

Ông Phúc giới thiệu các sản phẩm của nông dân Ea Kiết
Ông Phúc giới thiệu các sản phẩm của nông dân Ea Kiết

Ông Phúc cho biết : Với mối liên kết chặt chẽ này, nông dân chúng tôi hiểu rõ cơ hội tiếp cận tốt với người tiêu dùng toàn cầu không chỉ ở chất lượng sản phẩm, cách canh tác gìn giữ sự trong sạch cho môi trường, mà còn bao gồm những tiêu chí về nguồn gốc sản phẩm, trong đó có yếu tố đạo đức, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho những nhóm người yếu thế trong xã hội, như dân nghèo vùng sâu.

Từ HTX TMCB thành công đầu tiên ở Ea Kiết, mô hình được tiếp tục nhân rộng. Riêng ngành CP có thêm các HTX nữa được thành lập ở Đắk Lắk, Đắk Nông, Kon Tum, với hơn 500 hộ nông dân và đồng bào dân tộc thiểu số tham gia, xuất khẩu khoảng 3.500 tấn/năm, tương ứng với nguồn quỹ phúc lợi khoảng 1,3 triệu USD/vụ được hệ thống Fairtrade bảo đảm. Ngoài ra các HTX TMCB cho những mặt hàng nông sản khác như trà, điều, gạo, chanh leo cũng tiếp tục được thành lập v…v… thể hiện phương thức cộng sinh mới đầy trách nhiệm giữa các tổ chức thương mại, xã hội, doanh nghiệp với nông dân.

Anh Võ Khanh ( Sn 1972, nông dân vùng Cầu Đất, xã Xuân Trường, TP.Đà Lạt, Lâm Đồng) giới thiệu với tôi một loại cà phê Moka vô cùng đặc biệt, ít người biết : Khi chín, trái không đỏ mọng như mọi giống CP khác mà lại ngả sang màu vàng tươi rực rỡ. Anh kể : Loài cà phê vàng- tên quốc tế là Yellow Bourbon này sót  lại hiếm hoi từ những đồn điền người Pháp trồng hàng trăm năm trước. Tôi tìm kiếm di thực về vườn được vài chục cây, năng suất tính ra cỡ 3 tấn nhân/ ha. Yên tâm với lợi nhuận bảo đảm cuộc sống từ HTX TMCB, tôi đã nghiên cứu, nhân giống, đang ươm hạt đủ trồng 1 ha vào năm tới. Nhiều bạn hàng khen chất lượng tốt, có bao nhiêu họ mua hết với giá 150.000đ/ ký CP nhân, gấp rưỡi giá CP Arabica, cao hơn 3 lần giá CP Robusta mà Việt Nam đang xuất khẩu nhiều nhất thế giới.

Moka chín vàng hiếm hoi xen lẫn giữa những cây Moka chín đỏ
Cà phê Moka vàng do anh Khanh phát hiện, nhân giống ở Cầu Đất

Anh Khanh liên tục trả lời điện thoại hỏi về cà phê Moka vàng

Anh Khanh liên tục trả lời điện thoại hỏi về cà phê Moka vàng

                                                                                                                 H.T.N.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s