Hallelujah

500 Greatest Songs of All Times

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta cùng thưởng thức bài hát Hallelujah rất nổi tiếng nhé.

Nội dung bài hát được lấy từ những giai thoại trong Kinh thánh, và cả trải nghiệm cuộc đời của tác giả. Tác giả bài hát là Leonard Norman Cohen, sinh ngày 21 tháng 9 năm 1934, là một ca sĩ – nhạc sĩ, nhà thơ và tiểu thuyết gia người Canada.

Cohen ghi âm bài hát và phát hành trong album Various Positions năm 1984 với một chút thành công. Nhờ đó John Dale ghi âm bài hát và làm bài hát thêm nổi tiếng, và gợi hứng cho Jeff Buckley hát và ghi âm phát hành bài hát trong album Grace 1994, đưa bài hát lên đến đỉnh ở Mỹ và nhiều quốc gia.

Bài hát này đã được dùng trong rất nhiều phim và chương trình ca nhạc khắp thế giới. Hiên nay có khoảng 300 phiên bản của bài này, với những cách hòa âm và trình diễn riêng của mỗi ca sĩ.

Báo nhạc Rolling Stone xếp Hallelujah (phiên bản Jeff Bukley) hạng 264 trong 500 Bài hát hay nhất trong mọi thời đại.

Ý nghĩa của từ Hallelujah

Hallelujah, Halleluyah, hoặc Alleluia là tán thán từ, dùng để ca ngợi Thiên Chúa, để bày tỏ niềm hân hoan vui mừng và cám ơn vì được nhiều ơn lành của Thiên Chúa.

Trong ngôn ngữ Hebrew của người Do Thái, từ Hallelujah là từ ghép của “hallelu” nghĩa là ca ngợi, chúc tụng và “Yah” là từ viết vắn tắt của “Yahweh” hoặc “Jehova” có nghĩa là Thiên Chúa.

Từ ghép này dùng để diễn tả sự vui mừng cuồng nhiệt đến tột độ và sự cảm tạ hết sức chân thành vì được Thiên Chúa luôn phù hộ và ban tràn đầy vô số ơn thiêng.

Hallelujah dịch ra tiếng Anh có thể là “Praise His Holy Name”, “Praise the Lord”, “Praise God”, “Praise our God”, hoặc”Thanks to our God”.

 Diễn giải một số câu trong bài hát (xem bài hát ở bên dưới):

Con có nghe ở đó có bản hợp âm bí mật
mà David đã chơi và điều đó làm vui lòng Chúa

I’ve heard there was a secret chord
that David played, and it pleased the Lord

David ở đây chính là vị vua thứ hai của Vương quốc Israel thống nhất và là tổ tiên của Chúa Jesus (Matthew 1:1-17).

David (~1040 TCN – 970 TCN), trị vì Judah từ khoảng năm 1010 TCN đến năm 1002 TCN, trị vì toàn Vương quốc thống nhất từ khoảng năm 1005 TCN đến năm 970 TCN.

Tượng vua David, do Nicolas Cordier tạc, tại nhà nguyện trong nhà thờ Santa Maria Maggiore, Ý.

Ông được miêu tả là một vị vua chính trực – tuy không phải không hề phạm sai lầm – và là một chiến binh, nhạc sĩ, và nhà thơ được tôn vinh (ông được cho là tác giả của nhiều bài Thánh Vịnh (Psalms). Cuộc đời và triều đại của ông, như được ghi lại trong Cựu Ước (Kinh thánh Hebrew), có tầm quan trọng trung tâm đối với văn hóa Do Thái và văn hóa Kitô giáo.

Theo Kinh thánh, David là người đã đánh bại tên khổng lồ Goliath, đem lại thắng lợi cho người Israel trước quân đội Philistines.

It goes like this
The fourth, the fifth
The minor fall, the major lift

Giai điệu ngân thế này
Quãng tư, quãng năm
Hợp âm thứ trầm, hợp âm trưởng cao

Câu này liên quan tới nhạc lý nhưng mình không hiểu để ghi ra đây (I’m sorry).

You saw her bathing on the roof
Her beauty in the moonlight overthrew you

Bạn thấy nàng đang tắm trên mái nhà
Vẻ đẹp của nàng dưới ánh trăng đánh bại bạn

Câu này đề cập tới câu chuyện của vua David và nàng Bethesda trong Kinh thánh Hebrew.

Chuyện kể rằng khi nhà vua đang đi dạo trên mái nhà thì bắt gặp nàng Bathesda đang tắm. Bathesda là vợ của Uriah, con của một trong các quân tướng của vua David. Vua David đem lòng khao khát Bathesda và đã khiến nàng có thai.

Vua David do không muốn nhận tội lỗi của mình đã cố gắng mọi cách buộc Uriah trở về với Bathesda từ chiến trường và hi vọng Uriah nghĩ rằng đứa trẻ là con mình.

Uriah trở về nhưng không về nhà với Bathesda mà ngủ ngoài trời gần cung điện vua để chia sẻ tình cảnh vất vả của quân sĩ đang ở ngoài mặt trận của mình. Vì thế vua David đã sai Uriah ra chiến trường khốc liệt nhất và ở đó Uriah đã hi sinh.

Vua David sau đó cưới Bathesda làm vợ. Hành động bất chính đó của vua David đã khiến Chúa trời phiền lòng nên đã trừng phạt vua David. Đứa trẻ sau khi sinh ra đã bị ốm nặng và qua đời sau vài ngày. Tuy sau đó vua David cùng nàng Bathesda có sinh ra vua Solomon vĩ đại, nhưng về già, vua David phải chứng kiến con cái làm rất nhiều trò tồi tệ, đảo chính, dâm loạn với thê thiếp của cha, vv,…

Vua David sau đó đã hối lỗi rất nhiều.

Mời các bạn đọc câu chuyện này ở đây:
2 Samuel Chapter 11 שְׁמוּאֵל ב

She tied you to a kitchen chair
She broke your throne, and she cut your hair

Nàng trói bạn vào cái ghế nhà bếp
Nàng lật đổ ngai vàng của bạn và cắt tóc bạn

Câu này đề cập đến một nhân vật khác của Kinh thánh là Samson.

Samson hay Shimshon (tiếng Tiberi hiện đại: Šimšôn có nghĩa là đứa con của mặt trời) là một trong 13 vị thẩm phán được đề cập đến trong Kinh thánh Thiên Chúa giáo. Đây là người mạnh nhất từng được mô tả trong Kinh thánh.

Theo Kinh thánh thì Samson được Thượng đế ban cho sức mạnh siêu nhiên, sức mạnh này ẩn chứa trong mái tóc dài của ông, ông ta đã dùng sức mạnh này đánh nhau một con sư tử châu Á và dùng tay không xé xác con vật. Sau đó Samson đã lập nhiều chiến công cho người Israelite, trong đó có một lần đã giết rất nhiều quân Philistine bằng xương hàm của con lừa.

Samson và người tình đang mặn nồng

Người Philistine chuyển sử dụng chiến thuật bằng việc dùng mỹ nhân kế, cho nàng Delilah một phụ nữ Philistine sống ở thung lũng Sorek quyến rũ Samson và Samson đã gục ngã trước sắc đẹp của Delilah. Sau khi ăn nằm với người đẹp và say ngủ, người đẹp đã cắt mái tóc dài của ông này và qua đó đã tước bỏ sức mạnh siêu nhiên của chàng dũng sĩ khiến sau này Samson lọt vào tay quân Philistine. Quân Philistine đã trả thù bằng cách chọc mù mắt và bắt Samson lao động khổ sai ở Gaza.

Vì không chịu được vất vả, khó nhọc, Samson đã cầu nguyện Thượng đế để xin phục hồi sức mạnh. Sau khi cầu nguyện thượng đế khôi phục lại sức mạnh lần cuối và toại nguyện, Samson đã phá sập đền thờ Dagon, giết nhiều quân Philistine trước khi bị giết chết.

I’ve seen your flag on the marble arch

Tôi thấy lá cờ của em trên mái vòm cẩm thạch

Lá cờ treo trên mái vòm biểu hiện cho sự chiến thắng.

But all I’ve ever learned from love
was how to shoot at someone who outdrew you

Nhưng mọi thứ con học từ tình yêu
Là làm sao để bắn vào người rút súng nhanh hơn mình

“Outdrew” ám chỉ một hành động rút súng thường được thấy ở miền Viễn Tây. Trong một cuộc đấu súng (tay đôi), hai người đứng ở hai đầu và rút súng ra cùng một thời điểm, người nào rút súng nhanh hơn hiển nhiên sẽ bắn trước và giết người còn lại.

I’ve told the truth, I didn’t come to fool you
And even though it all went wrong
I’ll stand before the Lord of Song
With nothing on my tongue but Hallelujah

Con đã kể sự thật, con không đến để dối ngài
Và dẫu toàn bộ chuyện này là sai lầm
Con sẽ đứng trước Thiên Chúa của Bài ca
Chẳng có gì trên miệng lưỡi con ngoài Hallelujah

Đây là đoạn kết bài. Mình thấy kết bài thật là hay.

Bài hát như lời tỉ tê tâm sự của một người đàn ông với God. Ông tâm sự với God bắt đầu từ chuyện God hài lòng về bản nhạc mà vua David sáng tác và chơi. Đây là ông vua có đức tin rất mãnh liệt nhưng đã phạm tội. Vua đã không giữ điều răn của Chúa – là yêu Chúa và yêu người – mà giết chồng để cưới vợ người ta. Vua đã mất sức mạnh của mình như Samson bị cắt tóc.

Người đàn ông này sau khi kể chuyện vua David thì mới thổ lộ chuyện tình cảm của mình với God, mới thổ lộ những suy tư muốn giãi bày với người yêu dấu của mình với God.

Người đàn ông này cảm thấy rất đau khổ trong tình cảm và kể với God mọi sự. Ông khẳng định rằng, dẫu toàn bộ chuyện này là sai lầm (và chấp nhận God sẽ phán xét ông) thì ông vẫn tạ ơn God. Vì ông tin God luôn yêu ông như God vẫn yêu vua David, dù David đã phạm lỗi tày trời.

“Vì Thượng đế quá yêu thương loài người, nên đã cho đi con một và duy nhất của Ngài, vậy người nào tin vào con của Ngài sẽ không hư mất nhưng sẽ có cuộc sống vĩnh cửu.” (For God so loved the world that he gave his one and only Son, that whoever believes in him shall not perish but have eternal life. John 3:16).

Mình cảm thấy bài hát này thật sâu sắc. Mình hy vọng mình có thể cảm nhận những ý tứ sâu thẳm của bài hát này hơn.

Chúc các bạn một ngày tốt lành.

Thu Hương,

*****

Hallelujah

Con đã nghe có bản hợp âm bí ẩn
mà David đã chơi và điều đó làm vui lòng Chúa
Nhưng Ngài đâu thực sự để ý đến âm nhạc, phải không?
Giai điệu ngân thế này
Quãng tư, quãng năm
Hợp âm thứ xuống, hợp âm trưởng lên*
Ông vua rối rắm đang sáng tác Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

Đức tin của bạn mãnh liệt nhưng bạn cần thử thách
Bạn thấy nàng đang tắm trên mái nhà*
Vẻ đẹp của nàng dưới ánh trăng đánh bại bạn
Nàng trói bạn vào cái ghế nhà bếp
Nàng lật đổ ngai vàng của bạn và cắt tóc bạn *
Và từ môi bạn, nàng hút vào Hallelujah

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

Em yêu, tôi đã ở đây trước đây
Tôi biết căn phòng này, tôi đã bước trên sàn này
Tôi đã từng sống một mình trước khi biết em
Tôi đã thấy lá cờ của em trên mái vòm cẩm thạch*
Tình yêu đâu phải hành khúc chiến thắng
Mà là lạnh lẽo và là Hallelujah vụn vỡ

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

Đã có lần em cho tôi biết
Điều gì thực sự đang diễn ra ở dưới
Nhưng giờ em chẳng còn cho tôi thấy nữa, phải không em?
Và nhớ lúc tôi chuyển động trong em
Bồ câu linh thánh cũng động đậy theo
Và mỗi hơi thở chúng ta hít vào là Hallelujah

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

Có lẽ có Thượng đế ở trên
Nhưng mọi thứ con học từ tình yêu
Là làm sao để bắn người rút súng nhanh hơn mình*
Không phải là tiếng khóc ngài có thể nghe về đêm
Không phải là người đã thấy ánh sáng
Mà là lạnh lẽo và một Hallelujah vụn vỡ

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

Ngài nói con xưng tên [Ngài] vô cớ
con thậm chí chẳng biết tên [Ngài]
Nhưng nếu con đã biết [tên Ngài], vậy, thực sự, có nghĩa lý gì với Ngài?
Có ánh sáng chói lói trong mỗi lời
Chẳng can hệ Ngài nghe lời nào
Halllelujah thiêng liêng hoặc Hallelujah vụn vỡ

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

Con đã làm hết sức, không nhiều lắm
Con chẳng thể cảm nhận, nên con cố chạm vào
Con đã kể sự thật, con không đến để dối ngài
Và dẫu toàn bộ chuyện này là sai lầm
Con sẽ đứng trước Thiên Chúa của Bài ca
Với chẳng có gì trên miệng lưỡi con ngoài

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah

(PTH dịch)

*****

Hallelujah

I’ve heard there was a secret chord
That David played, and it pleased the Lord
But you don’t really care for music, do you?
It goes like this
The fourth, the fifth
The minor fall, the major lift
The baffled king composing Hallelujah

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

Your faith was strong but you needed proof
You saw her bathing on the roof
Her beauty in the moonlight overthrew you
She tied you to a kitchen chair
She broke your throne, and she cut your hair
And from your lips she drew the Hallelujah

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

Baby I have been here before
I know this room, I’ve walked this floor
I used to live alone before I knew you.
I’ve seen your flag on the marble arch
Love is not a victory march
It’s a cold and it’s a broken Hallelujah

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

There was a time when you let me know
What’s really going on below
But now you never show it to me, do you?
And remember when I moved in you
The holy dove was moving too
And every breath we drew was Hallelujah

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

Maybe there’s a God above
But all I’ve ever learned from love
Was how to shoot at someone who outdrew you
It’s not a cry you can hear at night
It’s not somebody who has seen the light
It’s a cold and it’s a broken Hallelujah

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

You say I took the name in vain
I don’t even know the name
But if I did, well, really, what’s it to you?
There’s a blaze of light in every word
It doesn’t matter which you heard
The holy or the broken Hallelujah

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

I did my best, it wasn’t much
I couldn’t feel, so I tried to touch
I’ve told the truth, I didn’t come to fool you
And even though it all went wrong
I’ll stand before the Lord of Song
With nothing on my tongue but Hallelujah

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah

Jeff Buckley – Hallelujah

Leonard Cohen – Hallelujah

Hallelujah – Alexandra Burke

Bon Jovi – Hallelujah

8 cảm nghĩ về “Hallelujah”

  1. Em cám ơn cả nhà đã động viên em. Một mình em thì không làm được như vậy đâu ạ. Anh Hoành đã chỉnh sửa phần dịch bài hát và God đã cầm tay em trong từng từ để tạo nên bài viết này đó ạ. 🙂

    Chúc cả nhà một ngày tốt lành. 🙂

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s