Cung Cấp Năng Lượng Cho Trái Đất – Chương 12: Năng lượng tại Mỹ (Phần 1)

Powering Planet Earth:
Energy Solutions for the Future 

by Nicola Armaroli, Vincenzo Balzani, Nick Serpone 

Chapter 12: Energy USA – Chương 12: Năng lượng tại Mỹ (Phần 1)

Hãy bước ra phía trước đến với ánh sáng của muôn vật, hãy để thiên nhiên làm thầy của bạn.

Come forth into the light of things, let nature be your teacher.
William Wordsworth– 

Trước khi rời vị trí đương nhiệm, Tổng thống Nixon đã được nhắc đến với một câu nói rằng giá xăng sẽ không bao giờ quá một đô cho một gallon (gasoline will never exceed $1.00 per gallon). Để khỏi lép vế, Tổng thống Carter đã tuyên bố rằng nước Mỹ sẽ không bao giờ nhập khẩu thêm dầu thô nhiều đến mức như đã nhập vào năm 1977 (the United States will never again import as much oil as it did in 1977).

Rõ ràng là sau đó thì cả hai vị Tổng thống đều đã bị chứng minh là sai lầm. Carter đã lập lên Cục Năng lượng vào năm 1977 như là một sự mở rộng của Ủy Ban Năng Lượng Nguyên Tử. Từ đó cho đến nay đã rất nhiều điều xảy ra tại nước Mỹ trong lĩnh vực năng lượng với một số chính sách được thực thi mà trọng tâm vào bảo tồn và phát triển năng lượng thông qua trợ giá và các hình thức khuyến khích của chính phủ cho nguồn năng lượng tái tạo cũng như không tái tạo. Những biện pháp khuyến khích này được tiếp tục thực hiện dưới thời của chính quyền tổng thống Obama với trọng tâm vào năng lượng tái tạo.

Nguồn năng lượng sơ cấp 

Vào thời mới khai sinh năm 1776, nước Mỹ – khi đó bao gồm 13 thuộc địa – sử dụng gỗ là nguồn năng lượng chính, chủ yếu là cho mục đích để sưởi ấm, sau đó được thay thế bằng than đá trong thế kỷ 19 vì than đá dễ tiếp cận và dễ dàng vận chuyển. Khá sớm sau đó, từ năm 1916, than đá đã phải cạnh tranh với khí thiên nhiên. Tuy nhiên, than đá đã cung cấp một khối lượng rất lớn cho nhu cầu năng lượng của Mỹ trong thế kỷ 20, cho đến khi than đá được thay thế bằng dầu mỏ vào đầu những năm 1900, quá trình chuyển đổi chủ yếu do sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô. Đến năm 1950, mức tiêu thụ dầu thô đã vượt qua than đá như một nguồn năng lượng chủ yếu, một phần lớn nhờ vào nguồn dự trữ dồi dào được phát hiện thấy ở California, Texas, và Oklahoma, và các nước láng giềng Canada và Mexico. Tuy nhiên, than đá vẫn tiếp tục được sử dụng trong rất nhiều quá trình công nghiệp, ngay cả cho tới hiện nay.

Hình 38 mô tả sản xuất năng lượng sơ cấp từ các nguồn khác nhau trong giai đoạn 1949 – 2010, theo đơn vị triệu tỷ BTU (1 quadrillion = 1 nghìn triệu triệu hay 1 triệu tỷ; BTU = Đơn vị nhiệt Anh; 1 BTU = 1.055 kJ). Thời kỳ 1960-2000 đã chứng kiến sự gia tăng sản lượng than đá, trong khi sản lượng dầu thô có xu hướng giảm ở thời kỳ cuộc khủng hoảng dầu mỏ đầu tiên trong những năm đầu 1970 – sản lượng khí đốt tự nhiên gia tăng trong thời gian này, đạt đỉnh điểm trong thập kỷ 1970-1980. Tóm lại, tại Mỹ sản lượng nhiên liệu hóa thạch về cơ bản vẫn không không thay đổi từ 1970 đến 2010.

Hinh 38

Hình 38: Sản lượng năng lượng sơ cấp từ các nguồn khác nhau trong các thập kỷ từ 1950 đến 2010. Nguồn United  States  Energy  Information  Administration  –  Annual  Energy  Review  2010. 

Điện hạt nhân đã chứng kiến một sự gia tăng đáng kể trong ba thập kỷ liên tiếp từ 1970 đến 2000, đạt tới một mức độ ổn định trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21. Ngược lại, cả thủy điện và sản lượng khí gas hóa lỏng (natural gas plant liquids – NGPL) vẫn tương đối ổn định trong bốn thập kỷ vừa qua. Trong khi đó sinh khối đã trở thành một nguồn năng lượng thay thế và có dấu hiệu gia tăng, đặc biệt là trong thập kỷ cuối gần đây.

Sản lượng năng lượng sơ cấp, phân loại theo nguồn, trong năm 2010 được minh họa trong Hình 39. Địa nhiệt, năng lượng mặt trời và năng lượng gió vẫn chiếm phần nhỏ, trong khi khí tự nhiên và than đá là những nguồn chính của năng lượng sơ cấp đứng ở mức 22 QBTUs (nghìn triệu triệu hay là triệu tỷ đơn vị BTU) với dầu lửa ở mức 12 QBTUs, tiếp theo là điện hạt nhân. Trái ngược với hình ảnh năm 2010, năm 2007 nguồn năng lượng lớn nhất cung cấp cho Mỹ là dầu mỏ (40%), tiếp theo là khí đốt tự nhiên (24%), than đá (23%) và 15% còn lại là năng lượng hạt nhân, thủy điện, và các nguồn năng lượng tái tạo.

Hinh 39

Hình 39: Sản lượng năng lượng sơ cấp của USA năm 2010. Nguồn: United States  Energy  Information  Administration  –  Annual  Energy  Review  2010.

Chính quyền của tổng thống G.W. Bush đã cung cấp các khoản trợ cấp đáng kể cho nhiên liệu hóa thạch (72 tỷ USD) nhiều hơn là cho nguồn năng lượng tái tạo (29 tỷ USD). Cuối cùng thì, ông Bush vẫn là một người Texas-dầu-lửa (Bush was a Texas oil man).

Có những thời điểm, nước Mỹ đã không thực sự hài lòng với chính chính sách năng lượng của mình như là một phương tiện để theo đuổi một số mục tiêu quốc tế, chẳng hạn như ảnh hưởng đến nền kinh tế của Liên Xô cũ – về cơ bản làm phá sản nền kinh tế bằng cách thao túng giá dầu mà cuối cùng đã dẫn sự giải thể của khối Liên Xô cũ.

Ai có thể quên được cuộc khủng hoảng dầu năm 1973 – ít nhất là những người trải qua điều đó?  Ai có thể quên các những hàng người dài chờ tại các trạm xăng?

Nhiều người cảm thấy cuộc khủng hoảng được tạo ra bởi các công ty dầu lớn để họ có thể làm tăng chi phí của dầu thô, và bằng sự phỏng đoán từ những lý do cơ bản. Đã qua rồi cái thời kỳ những ngày trước 1973 khi mà chỉ một vài đồng xu bạn có thể mua 1 gallon xăng của Mỹ. Thật không may, cuộc khủng hoảng dầu cũng ảnh hưởng tới các nền kinh tế khác – như cũng đã được cảm nhận sâu sắc ở Canada. Đột nhiên, chi phí mua bán bất động sản (một ngôi nhà) tăng gần gấp đôi, không, thậm chí tăng gấp ba lần trong một số trường hợp, và chỉ trong vòng vài tháng (từ đầu năm 1974).

Một vài một biện pháp hạn chế đã được áp đặt ngay lập tức cho người tiêu dùng Mỹ :

1) Giới hạn tốc độ tối đa khi lái xe là 55 mph (đó là, 88 km một giờ) để giảm tiêu thụ dầu.

2) Tiêu chuẩn được ban hành để giảm bớt kích cỡ của ô tô.

3) Quy ước giờ mùa hè (daylight saving time) trong việc chuyển đổi giờ hàng năm đã được thiết lập.

Ngoài ra, cuộc khủng hoảng cũng đã dẫn đến việc tìm kiếm các hình thức năng lượng thay thế và để đa dạng hóa các nguồn cung cấp dầu lửa. Đối với khoản 2, Đạo luật Energy Independence and Security năm 2007 dưới thời chính quyền Bush đã áp đặt khoảng cách trung bình cho mỗi gallon xăng là 35 dặm cho xe ô tô phải đạt được vào năm 2020. Chính quyền Obama đã khuyến khích sự phát triển xe điện cho tương lai  gần và các thế hệ xe nhiên liệu hydro trong tương lai trước năm 2020.

Giao thông vận tải, công nghiệp, và các lĩnh vực nội địa là những nguồn sử dụng chính của khoảng 84% năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch của Mỹ (Hình 40), phần còn lại đến chủ yếu từ thủy điện và điện hạt nhân. Mặc dù người Mỹ chỉ chiếm khoảng 5% dân số của thế giới, họ tiêu thụ 26% năng lượng của thế giới và sản xuất 26% sản lượng công nghiệp cho thế giới. Mỹ cũng chiếm tới 22% lượng dầu tiêu thụ của thế giới nhưng chỉ cung cấp 9% dầu cho thế giới.

Hinh 40 Hình 40: Mỹ nhập khẩu các sản phẩm dầu thô và xăng dầu (tỷ thùng) cho thời kỳ 1980 – 2010. Đáng lưu ý là số lượng đã tăng 5 lần trong khoảng thời gian đó. Nguồn: Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ – United States Energy Information Administration. 

Trữ lượng dầu được biết đến của Mỹ chỉ chiếm 1.9% dự trữ của thế giới, vào khoảng 31 tỷ thùng (4.9 tỷ mét khối). Mỹ là một đất nước “phàm ăn” trong tiêu thụ năng lượng. Để đáp ứng cơn khát về năng lượng, gần như tất cả xuất khẩu năng lượng của Canada đều đi đến Mỹ, khiến cho Canada trở thành nguồn nhập khẩu dầu lửa lớn nhất của Mỹ. Canada cũng là nguồn chính cung cấp khí đốt tự nhiên và điện cho Mỹ (chủ yếu từ thủy điện).

Nhập khẩu của Mỹ đã tăng từ 10% năm 1970 lên 65% vào cuối năm 2004. Với mức độ nhập khẩu hiện tại gia tăng không ngừng, Mỹ có thể sẽ phải dựa vào nguồn cung cấp dầu mỏ nước ngoài khoảng 70-75% vào năm 2025. Tuy nhiên, cơ quan thông tin năng lượng (Energy Information Administration – USEIA) dự báo mức nhập khẩu dầu lửa của Mỹ sẽ vẫn không đổi và mức tiêu thụ sẽ vẫn tiếp tục tăng, nhưng dòng nhập khẩu dự kiến sẽ giảm xuống còn 54% vào năm 2030.

Uớc tính của Cơ quan tình báo trung ương (Central Intelligence Agency) – trong cuốn CIA – The World Fact-book  of 2008 chỉ ra rằng bình quân đầu người lượng tiêu thụ dầu hàng ngày của Mỹ gấp hai lần so với Liên minh châu Âu nơi có dân số lớn hơn đáng kể. Ô tô không chỉ là nguồn tiêu thụ dầu lửa lớn nhất ở Mỹ (40%), mà còn đóng góp 20% khí thải nhà kính của quốc gia. Thật đáng tiếc rằng, Quốc hội Mỹ đã thất bại trong việc phê chuẩn Nghị định thư Kyoto, thay vào đó Mỹ cứ để thị trường tự thúc đẩy sự giảm thiểu CO2 để giảm bớt sự nóng lên toàn cầu.

 

Hết phần 1 – Chương 12 (còn tiếp)

Người dịch: Đào Thu Hằng

Biên tập: Phạm Thu Hường

 

© copyright Zanichelli and Wiley-VCH

Permission granted for translating into Vietnamese and publishing solely on dotchuoinon.com for non-commercial purposes.

Một suy nghĩ 2 thoughts on “Cung Cấp Năng Lượng Cho Trái Đất – Chương 12: Năng lượng tại Mỹ (Phần 1)”

  1. Chào Thu Hường và các bạn,

    Anh mới nhận được bài này từ Heritage Foundation. Stephen Moore, chief economist tại Heritage, nói giá xăng Mỹ mùa hè này xuống thấp. Mọi người nói đến nhiều lý do, nhưng lý do chính thì chẳng ai nói đến, đó là từ năm 2008 đến nay số lượng dầu sản xuất tại Mỹ đã tăng với con số kinh khủng — 50%

    “But since 2008 the U.S. has increased our domestic supply by a gigantic 50 percent. This is a result of the astounding shale oil and gas revolution made possible by made-in-America technologies like hydraulic fracturing and horizontal drilling.”

    Gửi bài đến các bạn.

    A. Hoành

    Photo via Newscom

    American workers and motorists got some badly-needed relief this week when the price of oil plunged to its lowest level in years. The oil price has fallen by about 25 percent since its peak back in June of $105 a barrel. This is translating to lower prices at the pump with many states now below $3 a gallon.

    At present levels, these lower oil and gas prices are the equivalent of a $200 billion cost saving to American consumers and businesses. That’s $200 billion a year we don’t have to send to Saudi Arabia, Kuwait and other foreign nations. Now that’s an economic stimulus par excellence.

    There are many global reasons why gas prices are falling, but the major one isn’t being widely reported. America has become in the last several years an energy-producing powerhouse. And sorry, Mr. President, I’m not talking about the niche “green energy” sources you are so weirdly fixated with.

    Oil prices are falling because of changes in world supply and world demand. Demand has slowed because Europe is an economic wreck. But since 2008 the U.S. has increased our domestic supply by a gigantic 50 percent. This is a result of the astounding shale oil and gas revolution made possible by made-in-America technologies like hydraulic fracturing and horizontal drilling. Already thanks to these inventions, the U.S. has become the number one producer of natural gas. But oil production in states like Oklahoma, Texas and North Dakota has doubled in just six years.

    Without this energy blitz, the U.S. economy would barely have recovered from the recession of 2008-09. From the beginning of 2008 through the end of 2013 the oil and gas extraction industry created more than 100,000 jobs while the overall job market shrank by 970,000.

    When the radical greens carry around signs saying “No to Fracking,” they couldn’t be promoting a more anti-America message. It would be like Nebraska not growing corn.

    We are just skimming the surface of our super-abundant oil and gas resources. New fields have been discovered in Texas and North Dakota that could contain hundreds of years of shale oil and gas supplies.

    Here’s another reason to love the oil and gas bonanza in America. It’s breaking the back of OPEC. Saudi Arabia is deluging the world with oil right now, which is driving the world price relentlessly lower. The Arabs understand–as too few in Washington do–that shale energy boom is no short term fad. It could make energy cheaper for decades to come. As American drillers get better at perfecting the technologies of cracking through shale rock to get to the near infinite treasure chest supplies of energy locked inside, we will soon overtake Saudi Arabia as the dominant player in world energy markets.

    You can’t have a cartel if the world’s largest producer–America–isn’t a member. OPEC will never again be able to create the level of economic turmoil that the Arab members of OPECs engineered in the 1970s with their oil embargo. And by the way: lower oil prices place increased pressure on Iran’s mullahs to abandon their nuclear program and curb Putin’s capabilities to engage in East Europe aggression.

    Yet the political class still doesn’t get it. As recently as 2012 President Obama declared that “the problem is we use more than 20 percent of the world’s oil and we only have 2 percent of the world’s proven oil reserves.” Then he continued with his Malthusian nonsense, “Even if we drilled every square inch of this country right now, we’d still have to rely disproportionately on other countries for their oil.” Apparently, neither he nor his fact checkers have ever been to Texas or North Dakota. And we don’t have 2 percent of the world’s oil. Including estimates of onshore and offshore resources not yet officially “discovered”, we have ten times more than the stat quoted by the president–resources sufficient to supply hundreds of years of oil and gas.

    America, in sum, has been richly endowed with a nearly invincible 21st century economic and national security weapon to keep us safe and prosperous. The plunge is gas prices is just one visible sign of this supply explosion. Think of how much bigger this revolution could be if we started building pipelines, repealed the ban on oil exports, expanded drilling on public lands, and stopped trying to punitively tax and regulate the oil and gas.

    For much of the last forty years, oil’s periodic price spikes have remained a constant threat to growth. Higher consumer energy costs as well as increased industrial production costs weighted on the economy. Now oil is one of the primary accelerators; the new big drag on the economy is politicians who despise the carbon-based industry.

    A version of this article originally appeared on FoxNews.com

    The version above replaces an earlier version of this article originally published on The Daily Signal. Some of the numbers have been changed.

    Số lượt thích

  2. Em cảm ơn anh Hoành đã cung cấp bản tin,

    Đây là khai thác dầu đá phiến (shale oil) bằng phương pháp bẻ gẫy thủy lực và khoan ngang, trong cả hai cuốn sách năng lượng đều có phê phán về phương pháp này: gây tổn hại nặng nề về địa chất và môi trường,ô nhiễm và ảnh hưởng khí hậu.

    Nhưng dù biết như vậy, trong bài báo này cũng nhận định: bảo nước Mỹ dừng khai thác dầu đá phiến cũng như bảo vùng Nebraska ngừng trồng ngô (biến đổi gen?) – When the radical greens carry around signs saying “No to Fracking,” they couldn’t be promoting a more anti-America message. It would be like Nebraska not growing corn.

    Em cảm thấy kinh tế của nước Mỹ hiện tại nhu cầu quá lớn về xăng dầu, toàn bộ hệ thống giao thông hầu hết dựa vào xe hơi và tiêu tốn rất nhiều nhiên liệu xăng, nên quá trình tiếp tục khoan để chiết xuất dầu là do phải phục vụ cho hệ thống đã được thiết lập cũ.

    Em hi vọng sẽ có những bước chuyển biến “xanh” hơn từ nước Mỹ,
    e. Hường

    Số lượt thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Tư duy tích cực mỗi ngày

%d người thích bài này: