Ngẫm lại vụ án người hóa hổ trên hồ mù sương

 

Tượng Thái Sư Lê Văn Thịnh, trong đền thờ ông ở thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Chiều mùa đông cuối năm, tôi có dịp lang thang trên mặt nước hồ Tây- nơi lưu giữ nhiều di tích lịch sử vô giá, là một kho tàng huyền tích và giai thoại văn học quý báu… Hồ Tây lúc này dày đặc sương. Sương phủ khắp bến bờ. Sương phủ lên cây cối hoa cỏ. Sương phủ lên chùa chiền, phủ kín những văn bia, những nét chữ trên đình đền miếu mạo. Sương như phủ kín cả cuộc đời này, với bao dáng người mờ mờ nhân ảnh…

Cũng chính trên mặt nước mù sương khiến cho hồ mang tên Dâm Đàm từ xa xưa này, hơn chín thế kỷ trước đã xảy ra một câu chuyện thực bi thảm…

Đó là vào năm 1096, vị thái sư đương triều Lê Văn Thịnh mà công lao phụ quốc đang lớn tựa núi thái sơn bỗng dưng bị mắc tội tày đình, cái tội đáng phải giết cả ba họ! Chuyện xảy ra chớp nhoáng trên mặt nước phía Tây kinh thành Thăng Long này, trong buổi chiều ấy đã thiêu hủy toàn bộ công lao và thanh danh của một vị đệ nhất công thần thời Lý! Tất cả sử sách chính thống trong nhiều thế kỷ và các lời truyền miệng – dù chi tiết có khác nhau, có nhiều dị bản, và tuy có nghi vấn, nhưng tựu chung lại đều kể về chuyện Lê Văn Thịnh hóa hổ trên hồ Dâm Đàm để dọa vua Lý Nhân Tông, nhằm đoạt ngôi báu… Có một điều trùng hợp khá lạ lùng là: Thái sư Lê Văn Thịnh sinh vào năm Canh Dần (1050), tới năm nay là đúng 16 Hoa Giáp! Sinh thời, ông có dáng người đi và ngồi tựa hổ, và định mệnh quái ác lại khoác cho ông cái án hóa hổ dọa vua!

Cũng trên sóng nước màu huyền thoại của chiều đông tàn, tôi chợt nhớ lại hình ảnh một con thủy quái bằng đá kỳ lạ mà người đời vẫn quen gọi là rồng từng gặp trên núi Thiên Thai vùng Kinh Bắc xưa…

Con vật này được tìm thấy dưới chân đền thờ thái sư Lê Văn Thịnh, sau nhiều thế kỷ bị chôn vùi trong lòng đất và sự quên lãng…Từ lúc được phát hiện cho tới nay, chưa đầy hai chục năm, nó đã gây nên một nỗi sững sờ, kinh ngạc, và xúc động tận đáy lòng nhiều tầng lớp người khi tận mắt nhìn thấy nó, hay chỉ được ngắm nó qua ảnh chụp…

Vậy con rồng đá dưới chân núi Thiên Thai đó biểu tượng cho ai, nó muốn diễn tả nỗi niềm gì của ngươì nghệ nhân dân gian? Nó có liên quan gì đến vụ án hồ Dâm Đàm? Đâu là sự thật đằng sau sương mù hồ Tây và sương mù của lịch sử?

Tôi đã tìm đến Văn Miếu tỉnh Bắc Ninh. Nơi đây có bảng vàng bia đá lưu danh thơm của nhiều vị khoa bảng đất Kinh Bắc xưa. Và ở một trong những tấm bia Kim bảng lưu phương, dưới ánh nến của học trò trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh, tôi nhanh chóng tìm thấy tên tuổi vị tiến sĩ đứng đầu bảng 10 người, ở khoa thi nho học tam trường đầu tiên ở nước ta để chọn người tài làm quan: khoa thi Minh kinh bác sĩ lần đầu được mở ra tại Quốc tử giám – Thăng Long năm Ất Mão (1075)- vị tiến sĩ khai khoa đó chính là Lê Văn Thịnh, mở đầu cho truyền thống khoa bảng rạng rỡ của cả vùng Kinh Bắc với 599 vị tiến sĩ nho học! Sử sách cũ chép lại, ngay sau khi đậu thủ khoa, Lê Văn Thịnh được vào hầu vua học (thực chất là dạy vua). Lúc này vua Lý Nhân Tông mới khoảng 10 tuổi. Lý Nhân Tông là con Thái hậu Ỷ Lan, lên ngôi vua năm 1072 lúc 7 tuổi, có quan Thái sư Lý Đạo Thành làm Phụ chính.

Năm Giáp Tý (1084), Lê Văn Thịnh là Thị lang Bộ binh được vua giao đến trại Vĩnh Bình để cùng với người Tống bàn việc cương giới. Việc hoạch định biên giới này, có công lao rất lớn của Lê Văn Thịnh- một nhà ngoại giao có tài qua những lần hội đàm với nhà Tống. Đại diện cho Đại Việt, Lê Văn Thịnh đã trả lời một cách cứng cỏi, đầy đủ lập luận: Đất thì có chủ, các viên quan giữ đất ấy đem nộp cho người khác và trốn đi thì đất ấy thành vật ăn trộm của chủ. Sự chủ giao cho mà lấy trộm đã không tha thứ được, mà trộm của hay “tàng trữ” thì luật pháp cũng không cho phép, huống chi nay lại mang đất lấy trộm dâng để làm dơ bẩn sổ sách nhà vua. Nhà Tống đã buộc phải trả cho nhà Lý 6 huyện và 3 động mà hai bên không mất một mũi tên, một giọt máu!

Năm Ất Sửu (1085), Lê Văn Thịnh được phong chức Thái sư – chức quan đại thần to nhất trong triều. Đất nước lúc này đang trong thời kỳ thái bình, dân an, nước mạnh. Nhiều chùa tháp được xây dựng trong thời gian đó. Lê Văn Thịnh còn có nhiều đóng góp trong việc xây dựng luật pháp thời Lý, và ông đang tiến hành những dự án cải cách quan trọng cho quốc gia.

Nhưng lịch sử thật trớ trêu, ai có thể ngờ rằng, vị Tiến sĩ – Thái sư đó đang phát huy tài năng chấn hưng Đất Nước thì tai họa đã giáng xuống nhấn chìm ông trong sóng nước hồ Tây! Tai họa ấy đã được kể lại một cách mơ hồ, đầy tính hoang đường như sau trong hai cuốn sách “Việt điện u linh” và “Lĩnh Nam chích quái” thời Trần: Quan Thái sư Lê Văn Thịnh nuôi được một tên gia nô người Đại Lý (Vân Nam) có phép thuật kỳ lạ: đọc thần chú xong biến hình thành hổ báo, Văn Thịnh cố dỗ để dạy mình thuật ấy, học được thuật rồi liền lập mưu giết tên gia nô và định dùng thuật hại vua để cướp ngôi. Tháng 3 năm Bính Tý 1096, vua Trần Nhân Tông cùng thái sư đi thuyền chơi hồ, xem đánh cá. Bỗng nhiên sương mù nổi lên dày đặc, rồi có tiếng chèo rào rào của một chiếc thuyền xáp đến. Vua cầm giáo phóng, thì sương tan, trên chiếc thuyền xáp đến nọ thấy một con hổ chực vồ vua. Người chài lưới là Mục Thận quăng lưới chụp lấy, thì trong lưới lại chính là…Lê Văn Thịnh! Ông bị bắt ngay, lẽ ra phải tội tru di, nhưng vua xét người có công, “thương tình” cho đi đày biệt xứ miền Thao giang, đến tận ngày qua đời…Vua khen Mục Thận đã có công cứu vua, cất làm Đô uý và sau thăng tới Phụ quốc tướng quân. Khi mất, tặng chức Thái uý. Vua sai dựng đền tạc tượng thờ. (Đền thờ Mục Thận chính là đình làng Võng Thị, quận Tây Hồ ngày nay).

Điều đáng nói là, từ câu chuyện đầy hoang đường đó đã hình thành một nghi án mà trong suốt mấy trăm năm sau đó, sách sử phong kiến đã không một lần tìm cách lý giải tới cội nguồn sự thật. Trước sau trong sử không hề ghi ông có hiềm khích, thù oán, xung khắc gì với triều đình, với vua và Hoàng Thái hậu; sử sách cũng không hề ghi ông có phe nhóm, bè đảng và âm mưu gì. Hơn 900 năm trôi qua, sự việc ở hồ Dâm Đàm vẫn treo trên đầu các thời đại một câu hỏi lớn.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Bính Tý, [1096] Mùa Xuân, tháng 3, Lê Văn Thịnh mưu làm phản, tha tội chết, an trí ở Thao Giang. Bấy giờ vua ra hồ Dâm Đàm, ngự trên thuyền nhỏ xem đánh cá. Chợt có mây mù nổi lên, trong đám mù nghe có tiếng thuyền bơi đến, tiếng mái chèo rào rào, vua lấy giáo ném. Chốc lát mây mù tan, thấy trong thuyền có con hổ, mọi người sợ tái mặt, nói: “Việc nguy rồi!”. Người đánh cá là Mục Thận quăng lưới trùm lên con hổ, thì ra là Thái sư Lê Văn Thịnh. Vua nghĩ Thịnh là đại thần có công giúp đỡ, không nỡ giết, đày lên trại đầu Thao Giang. Thưởng cho Mục Thận quan chức và tiền của, lại cho đất ở Tây Hồ làm thực ấp. Trước đấy Văn Thịnh có gia nô người nước Đại Lý có phép thuật kỳ lạ, cho nên mượn thuật ấy toan làm chuyện thí nghịch ”

Các bộ chính sử khác ở nhiều triều đại đều chép lại gần như nguyên xi Việt điện u linh và cho rằng Lê Văn Thịnh mắc tội phản nghịch là có thực, lẽ ra phải khép vào tội chết. Có thể nói đây là một bản án có phần kỳ lạ, bởi mưu phản là một trọng tội. Vào năm 1071, nhà Lý đã có đạo luật định rõ khung hình phạt dành cho các tội Thập ác, trong đó có tội mưu phản; như vậy hình phạt đã áp dụng rất không bình thường khi Lê Văn Thịnh được tha tội chết, chỉ bị “đày” mà thôi. Ngay cả Ngô Sĩ Liên khi soạn Đại Việt sử ký toàn thư đã “bàn” về nghi án này như sau: “Kẻ làm tôi, phạm tội giết vua cướp ngôi mà được miễn tội chết, thế là sai trong việc hình, lỗi ở vua tin sùng đạo Phật”. Có người còn xếp ông vào vai những nhân vật phản diện trong lịch sử. Có trọng “tội” mà không bị giết nhưng vẫn là một nhân vật mưu phản trong suy nghĩ của nhiều người. Đây là một kiểu tội không thành tội… Lý Tế Xuyên, tác giả “Việt điện u linh” cũng than thở: “Lê Văn Thịnh tội nên xử trảm vua lại tha mà chỉ phạt lưu, chính hình như thế thật là lầm lỗi”…

Các sách khác như Việt sử lược, Lịch triều hiến chương loại chí, v.v cũng không thoát khỏi sự nhìn nhận khắt khe đối với cái gọi là tội lỗi của LVT! Tác giả Khâm định Việt sử thông giám không hề ngần ngại giải thích vụ án hồ Dâm Đàm: “Văn Thịnh có tên gia nô người nước Đại Lý (một địa phương đâu đó ở bên Tàu). Tên này có pháp thuật lạ, nhân đó Văn Thịnh manh tâm mưu sự khác…” Vua Tự Đức là người nổi tiếng về văn chương khi ra Thăng Long, đi trên hồ Tây đã làm thơ về LVT như sau:

Văn học toàn dùng để tiến thân/Học thâm tôi tớ thuật kỳ gian/Giáo thần ném tới tà ma hết/Hổ quỷ nguyên hình chính đại thần ( Dịch từ chữ Hán)

Sương mù hồ Tây dường như muốn nhấn chìm mọi trang sử sách trong ẩn số, hay muốn thử thách lòng trung thực và sự dũng cảm của con người trước công lý?

Cho đến già nửa sau thế kỷ 20- dựa trên những sử liệu và dư luận sẵn có, một tác giả viết kịch hát có uy tín đã dựng lên một nhân vật gian thần ác độc, nhiều mưu mô thâm hiểm và nhiều tội lỗi khủng khiếp, nhân vật đó mang tên: Thái sư Lê Văn Thịnh! Vở chèo này đã được trình diễn ở nhiều nhà hát, nhiều chiếu chèo trên toàn quốc, được khán giả say mê hoan nghênh rầm rộ, và được giải thưởng hội diễn không ít lần! Một số cuốn sách thời nay viết về đền miếu, thành hoàng làng cũng cố tình “lờ” đi tên tuổi Lê Văn Thịnh- dù ông được thờ làm phúc thần ở không ít nơi!

Nỗi hàm oan gần 900 năm của Thái sư Lê Văn Thịnh vào những năm cuối thế kỷ XX đã được giới sử học nhìn nhận lại, và có cả một hội thảo khoa học khá quy mô. Các nhà nghiên cứu hiện đại đã bằng nhiều góc độ phân tích thực chất vụ án oan này, trả lại sự công bằng cho Lê văn Thịnh, và rút ra những bài học lịch sử cần thiết. Người đầu tiên bào chữa cho LVT, đánh giá công lao tài năng lừng lẫy của ông là giáo sư Hoàng Xuân Hãn. Nhà khoa học cho vụ án Lê Văn Thịnh chỉ là một sự hiểu lầm đáng tiếc và giải thích như sau: “Chuyện trên đây tiêu biểu cho sự mê tín có ảnh hưởng lớn đến chính trị ở triều Lý. Sử còn cho biết nhiều chuyện nói rằng vua Nhân Tông, cũng như các vua đời Lý sau, rất tin ảo thuật và dễ cảm xúc. Cho nên, chỉ vì một việc xảy ra thất thường, mà Văn Thịnh suýt bị chết. Về thời tiết lúc đó, một trận mù thình lình tới bên hồ là một sự thường gặp. Nhưng với tâm thần hay bị xúc cảm của vua Lý khi thấy trời tối mà mình còn ở trên mặt nước, thì vua đâm ra hoảng hốt. Có lẽ Lê Văn Thịnh cũng vì thấy trời tối mà vội vã sai chèo thuyền gấp tới để hộ vua về. Ngồi trên thuyền bị tròng trành không vững, Văn Thịnh phải ngồi khom mình, tay chống vào thuyền cho vững. Hình dáng trông như con hổ. Một mặt khác, có lẽ Văn Thịnh cũng tin vào các thuật và có tiếng sẵn là đã học được phép hoá hổ (từ một đạo sĩ người Đại Lý). Cho nên, kẻ trông thấy con hổ trong thuyền lại càng nghi cho ý muốn hại vua”.

Đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn và nhà bảo tàng học Phạm Đức Huân trong đền thờ Lê Văn Thịnh
Thực ra, chuyện hóa hổ xuất phát từ các đạo sĩ bắt nguồn từ thời Đường Trung Quốc truyền sang VN, và bên cạnh vụ hóa hổ LVT còn có vụ hóa hổ Lý Thần Tông. Hoàn toàn huyễn hoặc và thần bí! Vậy mà nó lại có sức sống dai dẳng trong suốt bao thế kỷ, và chỉ đôi khi gợi lên một vài nghi hoặc trong các sử gia.

Sau những thành công lớn lao của Lê Văn Thịnh cùng với tiếng tăm lẫy lừng mà ông đạt được, hẳn Lê Văn Thịnh đã trở thành một mối lo âu đối với triều đình bấy giờ. Vua thì sợ Lê Văn Thịnh ngày kia có thể làm nguy hại ngôi báu của mình; quan thì sợ Lê Văn Thịnh có biệt tài, có quyền uy to lớn có thể làm phương hại đến địa vị mà họ đang hưởng. Phải chăng, vì thế họ đã dựng nên “sự kiện hồ Dâm Đàm” để loại trừ một đối thủ đáng ngại, và họ đã dựa vào sự mê tín trong dân chúng, tạo nên câu chuyện phản nghịch để có cơ hội nhổ một cái gai nguy hiểm trước mắt?

Qua nhiều tranh luận, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những lý lẽ có sức thuyết phục vạch trần sự xảo trá của vụ án hồ Dâm Đàm, và dần đi tới sự thống nhất về thực chất lịch sử: vụ án lê Văn Thịnh phản ánh cuộc đấu tranh ý thức hệ Nho- Phật- Đạo giáo thời Lý, khi mà Phật giáo đang đạt tới mức cực thịnh ở nước ta. Lê văn Thịnh không phải chỉ có kẻ thù là giặc bên ngoài, bên trong, ông còn có cả kẻ thù tư tưởng. Vụ án hoá hổ chỉ là một màn kịch phản ánh cuộc xung đột giữa hai hệ tư tưởng một bên là Nho giáo mà L.V.Thịnh là người đại diện, và một bên khác do những người sùng Phật giáo ủng hộ- trong đó có cả thái hậu Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông. Đó cũng là tấn bi kịch của một bên là vị thái sư hết lòng cống hiến tài năng nhiệt huyết cho sự nghiệp quốc gia, một bên là hoàng tộc cùng đám quan lại quý tộc chỉ quanh quẩn với quyền lợi của chính mình! Việc quan thái sư Lê Văn Thịnh đi theo con đường Nho giáo để quản lý đất nước vấp phải tinh thần Phật giáo pha màu sắc ma thuật của đạo giáo đang bắt đầu lộng hành và áp đảo trong xã hội. Thất bại của Lê văn Thịnh là có tính tất yếu, và trong lịch sử Lý- Trần- Lê- Nguyễn, ông không phải là người duy nhất chịu cái án này! Lần trang sử cũ, ta thấy có nhiều bản án “huyễn hoặc” tương tự, không biết bao nhiêu nhân tài quốc gia bị huỷ diệt. Trong các triều đại phong kiến lịch sử cổ kim thế giới, những đại công thần bị lưu đày, tàn sát như Lê Văn Thịnh không hiếm; câu nói “thỏ chết, chó săn bị thịt, chim hết, cung bị xếp xó” vô tình trở thành lời than thở định mệnh.

Có không ít nhà nghiên cứu hiện đại đã qua vụ án này phê phán lối chép sử bưng bít, sao chép và lệ thuộc thần quyền của phần đông sử gia phong kiến- kể cả những trí tuệ lỗi lạc nhất.

Nhưng sử sách, ngay cả kẻ thù của Lê văn Thịnh ở trong triều, cũng không thấy viết một dòng nào phủ định tài năng và công lao của ông. Lý Nhân Tông muốn minh oan cho ông, nhưng ông đã qua đời..Triều đình phong kiến các thời sau đã cho soạn thần tích về công trạng của ông và nhiều lần ban sắc phong…Sau vụ án, tên tuổi ông vẫn được khắc trên bia đá bảng vàng ở Văn Miếu tỉnh Bắc Ninh. Những tác gia lớn như Ngô Sĩ Liên, Phan Huy Chú, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sĩ, v.v. đều ghi rõ LVT là người đỗ đầu khoa thi Minh kinh bác sĩ đầu tiên, và có công lớn trong việc đòi đất cho quốc gia. Trong bộ sách Đại Việt thông sử của nhà bác học Lê Quý Đôn có các quyển viết về những kẻ nghịch thần nhưng không hề nói tới LVT!

Và trong dân gian, từ xa xưa người dân đã có cách nhìn nhận trái ngược hẳn so với các sử gia chính thống về vụ án hồ Dâm Đàm. Tại thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, trong đền thờ Lê Văn Thịnh có một pho tượng thật kỳ lạ: Rồng đá vừa lộ thiên cách đây mười mấy năm có kích cỡ mà theo các nhà khảo cổ khẳng định là con rồng cổ lớn nhất Đông Nam Á! Người dân ở đây đã sửng sốt khi tìm thấy một pho tượng bằng đá nguyên khối tạc hình một con rồng lớn trong tư thế “miệng cắn thân, chân xé mình” từng chìm sâu trong lòng đất hàng trăm năm nay. Pho tượng toát lên nỗi đau đớn, phẫn uất… Nhà văn Nguyên Ngọc có những dòng cảm nghĩ sâu sắc đầy rung động về con rồng đá này như sau: “Hai tai rồng được tạc rất rõ, bên tai phải rỗng, thông, tai trái lại bịt kín. Dường như từ nghìn năm trước, con người tài ba xuất chúng mà số phận đau thương đó đã dự liệu được bao tiếng thị phi của các thế hệ nối tiếp người đời, ông muốn chỉ nghe một nửa, một nửa khinh bỉ gạt ra ngoài tai…Có lẽ trong lịch sử nghệ thuật Đông Tây, chưa bao giờ nỗi oan câm lặng nghìn năm của con người lại được thể hiện quyết liệt, dữ dội đến thế. Đấy là bức tượng chân dung kỳ lạ của một con người, vị thái sư tài ba và hàm oan Lê Văn Thịnh…”

Ngôi đền ở sườn núi Thiên Thai vốn là nhà học của ông thuở thiếu thời. Dân gian vẫn gọi là đền thờ Quan Trạng. Tại đây, tôi được ông thủ đền thận trọng mở hòm bọc lụa cho xem (và cho cả quay phim) bản Ngọc phả cùng các đạo sắc phong. Ngọc phả do sử thần Nguyễn Bính, quan Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ biên soạn vào năm 1572, khẳng định LVT là một vị công thần của triều Lý Nhân Tông, và cho biết về gia thế, cuộc đời, sự nghiệp của ông. Về sự kiện hồ Dâm Đàm, Ngọc phả cho hay: “Vua Lý Nhân Tông ngày thường du ngoạn ở hồ Dâm Đàm, không hay đoái đến việc triều chính. Ông bèn hóa ra hổ để cho vua sợ. Bất đồ việc bị lộ, ông bèn “hóa gia vi tự” (biến nhà thành chùa). Vua thưởng ông là bậc đại thần chẳng giết, đem đày ra trại Thao giang”. Như vậy là, tuy còn ảnh hưởng về cách nghĩ truyền thống như: LVT hóa hổ, bởi ông sinh năm Canh Dần- năm hổ, bình sinh lại có dáng ngồi như hổ, nhưng bản Ngọc phả đã cho ta thấy tấm lòng trung quân ái quốc của vị đại công thần, phủ nhận hùng hồn cái tội âm mưu giết vua đoạt ngôi từng chụp xuống đầu ông trước đó 5 thế kỷ! Các vua hai triều Lê – Nguyễn đã ban 10 đạo sắc phong, cho nhân dân Bảo Tháp quê hương LVT dựng đình và lập đền, thờ ông làm thần hoàng làng. Nhiều đại tự và câu đối ca ngợi công trạng và đức độ của ông. Tiêu biểu là hai câu đối: “Bắc triều phụng sứ vô song sĩ – Nam quốc khai khoa đệ nhất nhân” (Phụng chỉ đi sứ triều phương Bắc không có người thứ hai như vâỵ- Mở đầu cho nền học vấn Nước Nam như ông thì chỉ có một) Bài vị “Lê Thái sư Đại vương”, biển gỗ “Ân tứ vinh quy” và tượng thờ LVT cho thấy sự sùng kính lâu đời của nhân dân cũng như sự trọng vọng của các triều Lê – Nguyễn đối với ông.

Còn ngay bên cạnh đền là ngôi chùa làng, mang tên “Thái sư tự” – để ghi nhớ sự tích “hóa gia vi tự”. Tấm bia đá “Thái sư tự bi ký” cho chúng ta biết thêm nhiều về gia thế và thân phận của LVT.

Mười làng thuộc các xã Đông Cứu, xã Đại Lai, xã Song Giang, xã Giang Sơn- những nơi ông dạy học xưa kia cũng đều tôn ông làm phúc thần, thờ thành hoàng làng, và hàng năm cùng nhau mở lễ hội chung ở Bảo Tháp gọi là hội Thập đình vào ngày 7 tháng giêng Âm lịch…Tại quê mẹ ông thuộc xã Cách Bi, huyện Quế Võ, ông cũng được tôn thờ thành hoàng làng, có lễ hội tưởng nhớ hàng năm. Giới chính thống của các triều đại có thể sai, chứ dân gian bao giờ cũng sáng tỏ minh triết, công tội bao giờ cũng phân minh và độ lượng. Ngay lúc sương mù nhấn chìm chính sử, thì người dân vẫn lặng lẽ trong sương mù làm những việc minh oan và đền bù cho người chân chính.

Cạnh chùa Bút Tháp nổi tiếng ở thôn Đình Tổ, xã Đình Tổ- huyện Thuận Thành, có ngôi Đình hiện còn lưu giữ 11 sắc phong của các triều đình phong kiến, cùng nhiều đại tự, câu đối đánh giá công lao của LVT, như: “Tiền triều lương sứ “- “Khai quốc trạng nguyên”, đặc biệt là vế đối: “Nam thiên hiển thánh như trường vân, như tinh, như nhật, ức niên linh tích trấn liên đàm” (Trời Nam thánh hiện tựa mây dài, tựa sao sáng, tựa mặt trời, vạn năm linh hồn lưu lại chốn hồ sen). Ở nơi LVT dừng chân trên đường về quê cha rồi mất, tôi đã được người dân Đình Tổ xúc động kể cho nghe về sự kiện này. Xưa kia, đây là làng Điềng, sau được đổi tên là Đình Tổ để ghi nhớ về LVT. Bên dấu vết còn lại của sông Dâu xưa, tôi bồi hồi nghĩ tới tấm lòng người dân Đình Tổ đã chăm sóc LVT trong giờ phút cuối đời, và mãi mãi trông coi phần mộ của ông như một vị đại ân đại đức…

Công đức ngời sáng và nỗi hàm oan cùng số phận bi thảm của thái sư LVT đã được làm sáng tỏ trong nhiều bài tham luận ở Hội thảo khoa học về danh nhân LVT taị Hà Bắc tháng 10 năm 1993. Song, vẫn còn rất nhiều việc cần phải làm để cuộc đời và sự nghiệp của danh nhân LVT tỏa rộng ảnh hưởng đối với đời sống tinh thần của nhân dân cả nước. Đến bao giờ mới có được một ngôi trường, một đường phố, một nhà văn hóa… mang tên Lê Văn Thịnh?

Trên sóng nước của hồ Mù Sương năm xưa đang chuyển dần vào màn sương xám xịt, tôi lại hình dung sương Hồ Tây tan hẳn, đúng hơn là các làn sương cứ cuộn vào nhau và cuốn về bờ xa, để lại một mặt hồ quang minh, vạn vật đều tỏ rạng, sắc nét… Và tôi lại thêm một lần nữa cảm thông với nỗi đau oan ức của danh nhân lịch sử suốt gần 10 thế kỷ qua, càng thêm thấm thía vào niềm tin ở lẽ công bằng của cuộc đời này…

Hà Nội – Bắc Ninh, cuối năm 2011
Đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn

Một suy nghĩ 3 thoughts on “Ngẫm lại vụ án người hóa hổ trên hồ mù sương”

  1. Có lẽ vấn đề các đại công thần bị chụp mũ để hại oan cũng chẳng có gì là lạ khi đụng chạm với thế lực của vua hay của băng đảng trong cung vì lý do gì đó.

    Chuyện đáng nói là tầng lớp trí thức đương thời luôn luôn vâng dạ, nam mô, amen theo lời dối việc gian của vua hay của băng đảng trong cung, rồi còn dạy cả bàng dân thiên hạ, kể cả học sinh, lịch sử dối trá.

    Vua sai là chuyện thường. Nhưng mỗi lần như thế, ít ra nên có một số trí trức khuyên vua: “Bệ hạ sai, dù bệ hạ có hiểu lầm ý thần mà trừng phạt, thần cũng phải bẩm báo với bệ hạ, vì lòng trung với bệ hạ và sơn hà xã tắc.”

    Số lượt thích

  2. Phải đọc và học lại lịch sử VN rồi! Thật sự ngỡ ngàng, Hôm nào về Hà nội phải đến đền thờ Lê văn Thịnh để cầu nguyện cho ông được minh oan, lấy lại sự công bằng, cho dù đã quá muộn, nhưng…muộn còn hơn không .

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s