Tag Archives: trà đàm

Kiến thức giả

Chào các bạn,

Hàng ngày chúng ta nghe báo chí nói nhiều về hàng giả: hàng hiệu giả, rau quả giả , thực phẩm giả… Nhưng ít thấy ai nói về kiến thức giả, dù rằng kiến thức giả là một hiện tượng lớn.

Trong pham vi bài này, chúng ta chỉ dùng các từ “kiến thức” và “giả” theo cách mọi người hay dùng hàng ngày, chẳng có gì đặc biệt cả. Cho nên, các bạn không nên nghĩ về hai từ này như là hai từ triết lý, vì triết lý đến tận cùng như triết l‎ý Phật gia thì mọi kiến thức đều là giả. Hết chuyện nói. 🙂

Không biết chuyện mà cứ nói như là mình biết, đó là giả. (Và chữ “biết” trong câu này cũng là chữ tương đối ta dùng hàng ngày, không phải là chữ “biết” triết lý).

Hãy lướt qua các kiến thức giả ta thường thấy hàng ngày, theo mức độ lớn nhỏ ta thấy, lớn trước nhỏ sau:

1. Lảm nhảm các từ chính trị dù rằng mình biết là nó chẳng nghĩa l‎ý gì trong thực tế, hoặc mình chẳng hiểu nó là gì.

Điều này thì ta thấy trên báo chí, diễn văn, và bài vờ có mùi chính trị trên Internet hàng ngày. Trong các nơi chứa kiến thức giả, thì chính trị là nơi có nhiều nhất. Vẹt nói rất nhiều.

2. Kế đến là các từ tôn giáo, nhất là các từ tôn giáo trong các bài viết chính trị.

Người viết thường là chẳng hiểu tí gì về các từ dùng, hoặc là cố tình dùng nó phản lại ‎nghĩa nguyên thuỷ của nó.

3. Mở miệng ra là “Tử nói”, “Phật nói”, “Decartes nói,” “Pascal nói”… mà không biết rằng câu nói đó chẳng ăn nhập gì đến câu chuyện đang nói.

4. Nói chuyện theo công thức.

Nguyên một bài diễn văn hai tiếng đồng hồ, có thể chỉ là một con số zero to tướng, vì chỉ toàn là khẩu hiệu (chính trị) cộng lại, như là một công thức toán cộng, chẳng có nghĩa lý gì cả, người nghe chẳng nắm được điều gì cả ngoại trừ những khẩu hiệu và công thức rỗng tuếch nghe đã vài nghìn lần, như là: dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh, phát triển dân chủ cơ sở, nhân quyền nhân bản, tư bản xã hội, tự do kinh tế, kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tự do ngôn luận, dân chủ tự do, công bình bác ái… kiểu AQ đọc diễn văn. Như là dùng computer chọn các khẩu hiệu và công thức bẳng cách may rủi và ghép lại theo cách may rủi, sau đó lên cầm micro đọc. Lâu lâu có dịp tra tấn thiên hạ.

(Nói thì dễ rồi, nghe được năm này qua năm kia mới là siêu! Mà người nói có biết là họ nói vẹt không, hay là họ thực sự hiểu được họ nói gì, mà không ai khác thấy gì cả?).

5. Mới học được đâu đó vài ba chữ mới, xổ ngay ra một chùm, trong khi chính người nói cũng chưa thật sự hiểu được nó là gì, vì mới đọc được loáng thoáng đâu đó.

6. Thích xổ cổ ngữ và ngoại ngữ dù mình chưa hiểu đến nơi.

Trong văn hóa thế giới, đôi khi mình phải kèm theo ngoại ngữ để người đọc hiểu đúng ý mình, vì nói về một câu chuyện ở Đức chẳng hạn, thì một số từ tiếng Việt không đủ chính xác để diễn tả, phải kèm theo tiếng Đức. Đó là chuyện đương nhiên. Ở đây, ta chỉ muốn nói đến các vị thích xổ La Tinh, Hán ngữ, ngoại ngữ cho dù rằng mình chẳng hiểu được sâu xa chữ mình nói.

7. Biết chỉ được một tí, mà nói là biết nhiều.

Vi dụ: “Tôi chắc chắn chuyện này nó phải thế này”, thay vì: “Theo kinh nghiệm của tôi trong hai năm nay, thì chuyện này thường là thế này. Có ngoại lệ không thì tôi chưa được gặp.”

Hay là: “Kiến thức của thầy về việc này chỉ tới đó. Mai này em có thể học cao hơn và nghiên cứu cao hơn. Rồi lúc đó em cho thầy biết kết quả nghiên cứu của em.”

8. Cứ lôi các câu trong sách ra nói, nhất là sách cổ, mà chẳng hiểu gì hoặc chẳng giải thích rõ thêm được gì.

Đây là do lối học từ chương, học thuộc lòng như vẹt mà ra. Nếu không giải thích được cho người nghe, thì đó là vì mình dốt chứ không phải người nghe dốt. Làm ơn tôn trọng sự thông minh của người nghe, và thành thật với cái dốt của mình.

9. Nói mà không ai hiểu được mới giỏi.

Thường là người viết/nói cũng chẳng biết mình viết/nói gì. Nhưng như thế mới là thông thái!

Qui luật viết/nói ngày nay: Tôi viết cho bạn, hoặc nói với bạn, mà bạn không hiểu, thì đó là do tôi viết tồi nói tồi, chứ không phải vì bạn đọc tồi nghe tồi.

Kiểu kiến thức ngày xưa của các ông đồ nho nói chữ Hán dân quê không hiểu tí gì và phục sát đất, thời bán khai đó đã qua rồi. Ngày nay, anh nấu ăn mà tôi ăn không ngon là anh nấu tồi, chứ không phải tôi ăn tồi. Anh nói tôi không hiểu , đó là vì anh không biết nói, chứ không phải tôi không biết nghe.

Các bạn có thể thêm vào vài ví dụ nữa về vấn đề kiến thức giả.

Điều quan trọng ở đây là chúng ta cần thành thật.

Thành thật là khởi nguồn của trí tuệ.

Thành thật với chính mình để biết kiến thức của mình đến đâu, mình biết đến đâu, và đâu chưa biết.

Rồi thành thật với mọi người, biết đến đâu nói biết đến đó, điều gì chưa chắc thì nói là chưa chắc, điều gì chưa biết thì nói là chưa biết.

Chỉ một chữ “thành thật” thôi, có gì phức tạp đâu. Sao mà khó quá vậy? Sao mà nhiều vấn đề quá vậy?

Nếu chúng ta tiếp tục để kiến thức giả phát triển quá nhiều trên đất nước, kiến thức thật sẽ tiếp tục bị ngộp thở mà chết, như là cây tốt bị chết ngợp giữa đám cỏ hoang.

Các vị giáo chức bị buộc phải dạy các em những điều mình không tin hay chưa tin, vì mình chưa nắm vững vấn đề hoặc mình tin là nó sai, các vị có thể làm một bước trưởng thành tâm linh rất lớn cho đời mình, bằng cách nói với thủ trưởng: “Anh làm ơn cho tôi dạy môn khác, tôi thật là không thể tự dối lòng, huống hồ là dối các em.”

Làm được như vậy là Phật tâm đó! Đó là từ bi bác ái với học trò của mình, và tích cực đóng góp vào việc phát triển tương lai của tổ quốc.

Truyền bá kiến thức mình không tin, là truyền bá kiến thức giả. Đừng làm vậy, nhất là đối với các học trò nhỏ. Giáo dục giả là tội rất lớn với tổ quốc, và với Chúa Phật, vì đó là tích cực hủy hoại đầu óc tuổi trẻ.

Trí tuệ lệ thuộc vào thành thật. Và đôi khi, can đảm.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Kết hợp giữa chính sách dân tộc & bảo vệ môi trường, thiên nhiên

Mùa xuân này, được nghỉ dài ngày, nhiều bạn chọn Tây Nguyên làm điểm đến ( Có bạn còn nói ” tại lời mời gọi trên mạng của LN nữa đấy”). Nhưng rồi cũng nhiều bạn thất vọng than thở với tôi về việc những thác nước cạn khô tại các điểm du lịch sinh thái.Vâng! Quả thật tôi cũng sốc khi chỉ cách vài tháng trước, đoàn làm phim của Đài TH TP HCM còn thật sự ” kính nể” vẻ đẹp hùng tráng của ngọn thác Drei Nu, thì bây giờ …chỉ còn là những bờ đá cao câm lặng. Tôi chưa có dịp kiểm chứng đó là ” thói thường” của mùa khô cao nguyên? hay kết quả của hàng chục công trình thủy điện trên những dòng sông cao nguyên? Nhưng xuân này, đọc lại những kiến nghị của ba tôi với Quốc hội từ hơn 20 năm trước, về vấn đề rừng và nước ở miền núi, vẫn thấy sự cảnh báo của ông còn nguyên tính thời sự… Thương cho thiên nhiên TN mỗi ngày một thêm kiệt quệ , càng thêm thương cho tấm lòng người thí thức dân tộc lão thành… Mời các bạn đọc và kiểm chứng lại ý kiến ông.

Miền núi & trung du chiếm đại bộ phận đất tự nhiên của nước ta, là căn cứ của cách mạng, là địa bàn chiến lược quan trọng của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, là quê hương của các dân tộc anh em. Nhưng lại là những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nhất, nên việc thực hiện các chính sách dân tộc phải thể hiện trong sự đầu tư thích đáng, để phát triển kinh tế-xã hội bền vững, tạo điều kiện phát huy hết tiềm năng của miền núi cao nguyên, đó là rừng. Câu nói “Rừng vàng biển bạc” đã có từ ngàn xưa. Trong quá trình phát triển, phải dựa vào thế mạnh của miền núi cao nguyên, đó là vựa cây công nghiệp, cây ăn quả, cây thuốc, các giống vật nuôi phong phú,và các đặc sản khác của rừng, để làm giàu cho miền núi và cao nguyên, cũng là để làm giàu cho toàn bộ đất nước.

Vì nếu kinh tế miền núi và cao nguyên phát triển, sẽ tạo ra được nền kinh tế hàng hóa nhằm thoả mãn sự giao lưu giữa miền ngược và miền xuôi. Miền núi và cao nguyên sẽ có đủ gạo của đồng bằng, trong khi đồng bằng sẽ có đủ các sản phẩm của rừng.

Miền núi & trung du còn là quê hương của các nhà máy thuỷ điện, đang giữ vai trò then chốt của công nghiệp điện nước ta. Vì vậy tài nguyên thiên nhiên ở đây là tài nguyên chiến lược, không chỉ của riêng vùng, mà còn chi phối khắp mọi miền đất nước. Nên việc xử dụng phải hết sức thận trọng và cần được cân nhhắc kỹ theo ý nghĩa chiến lược của nó.

Về quan điểm, bảo vệ thiên nhiên, môi trường các tỉnh miền núi & trung du chứa đựng nhiều tiềm năng quyết định, trong việc bảo vệ và duy trì sự cân bằng sinh thái của toàn bộ đất nước, mà chủ yếu là các hệ thảm thực vật rừng, nhất là các hệ thống rừng đầu nguồn. Vòng luân chuyển thiên nhiên hùng vĩ này được tạo lập theo quy luật của chính nó. Miền núi & cao nguyên là vùng thu gom quy tụ nước tự nhiên, làm nên những bể chứa nước ngọt khổng lồ,nguồn sống của mọi sinh vật. Đó cũng là trạm điều tiết nước cho hàng ngàn khe suối và hàng trăm con sông lớn, nhỏ đưa nước về xuôi.

Chúng ta đã biết rằng, nếu hệ thống rừng đầu nguồn không được bảo vệ, thì các cơn lũ sẽ xảy ra liên tục sau những trận mưa nguồn, làm cho các vùng phụ cận và các tỉnh đồng bằng chịu hậu quả đến mức nào. Bài học thực tiễn này đã được chứng minh trong những năm gần đây ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, miền trung du, và đồng bằng sông Cửu Long, do rừng ở Tây bắc & Tây Nguyên bị tàn phá nghiêm trọng. Nếu Tây Nguyên là mái nhà chung của các tỉnh đồng bằng miền Trung và Nam Bộ, thì Tây bắc là mái nhà chung của các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Những mái nhà này cần phải được bảo vệ hết sức nghiêm ngặt, Khi rừng đã tàn phá, sau những cơn mưa nguồn, đất ở các tỉnh miền núi và cao nguyên sẽ bị xói mòn và nước thì không được rừng giữ lại nữa. Cả hai tài nguyên quyết định sự sống của con người và mọi sinh vật là đất & nước, thì cả hai đều không còn.Điều đó nói lên tính tất yếu của việc phải bảo vệ thiên nhiên & môi trường, phải gìn giữ sự cân bằng sinh thái của thiên nhiên. Con người không thể đảo ngược quy luật khắc nghiệt của tạo hoá.

Khi nói đến việc thực hiện chính sách dân tộc và nói đến đầu tư để phát triển bền vững các vùng dân tộc và miền núi, cùng đồng nghĩa với việc đầu tư để bảo vệ thiên nhiên & môi trường. Đây là sự đầu tư để mang lại lợi ích cho toàn bộ đất nước. Trong đó, đầu tư cho phát triển rừng là chủ yếu, đầu tư để giữ bằng được hệ thống rừng đầu nguồn. Vì rừng là lợi ích sống còn của cả nước trong sự duy trì cân bằng môi sinh. Phải có chính sách khuyến khích để rừng càng phát triển thì lợi ích của nhân dân ở miền núi càng cao. Phải có hướng đầu tư mạnh về công nghiệp, chăn nuôi… vào những vùng thích hợp để tạo ra nguồn thu nhập chính cho dân, để dân không phải phá rừng mà vẫn ấm no. Do đó, việc thực hiện chính sách dân tộc không thể tách rời việc bảo vệ môi trường sinh thái. Phải làm thế nào để hai nhiệm vụ nói trên gắn bó mật thiết với nhau, bổ xung cho nhau, tác động hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau để cùng tồn tại, vận động và phát triển.

Việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng thực chất là đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, bằng những việc làm cụ thể của Nhà nước, như các chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc 327, chương trình định canh định cư… hiện đang làm và bước đầu có hiệu quả. Việc thực hiện các chính sách dân tộc là biến đổi đường lối đổi mới của Đảng, vào các mục tiêu của sự phát triển kinh tế bền vững ở các tỉnh miền núi & cao nguyên. Là làm thế nào để đưa đời sống của miền núi tiến kịp miền xuôi, là làm thế nào phục hồi màu xanh cho miền núi và cao nguyên.

Chúng tôi tin chắc rằng, sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và sự nghiệp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên- môi trường của các tỉnh miền núi & cao nguyên, sẽ được thực hiện, bằng các chương trình đầu tư theo quy mô lớn của quốc gia, theo quy mô vừa của địa phương và theo quy mô nhỏ của kinh tế hộ gia đình. Chúng tôi cũng tin chắc rằng các mô hình về phát triển lâm-nông nghiệp, mô hình về rừng-vườn-chuồng, rừng-vườn-ao-chuồng… sẽ được triển khai khắp mọi nơi. Các mô hình về làng sinh thái sẽ xuất hiện ở các tỉnh miền núi và vùng cao nguyên , trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Các buôn làng, thị trấn, các thành phố sinh thái cũng sẽ được hình thành trên bất cứ vùng miền núi và cao nguyên nào. Vì vấn đề này chứa đựng tính hiện thực, tính khách quan trong sự nghiệp đổi mới của Đảng & Nhà nước ta. Trong thực tiễn, muốn xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số, việc đầu tiên là phải giao đất khoán rừng cho nhân dân. Phải làm cho quyền lợi của dồng bào dân tộc thiểu số gắn bó với rừng và mãi mãi gắn bó với rừng.

Chúng tôi kiến nghị Quốc hội ra nghị quyết tạo điều kiện cho nhà nước ban hành được các chính sách cần thiết, để thực hiện cho bằng được những vấn đề này. Đây là điều kiện quan trọng cho sự phát triển của đồng bào dân tộc, sự sống còn của đất nước. Thông qua luật, các dân tộc thực hiện nghiêm chỉnh các Luật về bảo vệ môi trường, Luật bảo vệ rừng, hướng nhân dân vào việc sống và làm việc theo Hiến pháp & pháp luật

Chúng tôi kiến nghị với Nhà nước sớm xây dựng các chương trình về phát triển kinh tế -xã hội bền vững, đầu tư các chương trình về bảo vệ thiên nhiên & môi trường cho các tỉnh miền núi & vùng cao. Để đủ cán bộ khoa học là người các dân tộc thiểu số, trực tiếp phục vụ công cuộc đổi mới của các vùng dân tộc, cần thành lập thêm các trường đại học Tây bắc, đầu tư nâng cấp các trường đại học Bắc Thái & Tây Nguyên, củng cố các Trung tâm nghiên cứu khoa học và các trường dân tộc nội trú của các tỉnh miền núi & cao nguyên.

Linh Nga Niê Kdăm

Câu trả lời của người chết

Khi Mamiya, sau này là một giảng sư nổi tiếng, đến gặp thầy để nhận giáo huấn riêng, Mamiya được giao công án giải thích tiếng vỗ của một bàn tay.

Mamiya tập trung suy nghĩ vào điều gì có thể là tiếng vỗ của một bàn tay. “Con không tập luyện chuyên cần đủ,” thầy bảo Mamiya. “Con cứ bị vướng mắc vào thức ăn, tài sản, và cái tiếng đó . Con chết đi còn hơn. Như vậy sẽ giải quyết được vấn đề.”

Lần kế tiếp Mamiya vào gặp thầy và lại bị hỏi chỉ cho thầy tiếng vỗ của một bàn tay. Mamiya tức thì ngã lăn ra như là chết rồi.

“Đúng là con chết rồi,” thầy quan sát. “Nhưng vể tiếng vỗ đó thì sao?”

“Con vẫn chưa giải được,” Mamiya trả lời, ngước nhìn lên .

“Người chết không nói,” thầy bảo. “Đi ra!”
.

Bình:

• Đây là vướng mắc đầu tiên của Mamiya: “Mamiya tập trung suy nghĩ vào điều gì có thể là tiếng vỗ của một bàn tay.”

Như chúng ta đã thấy trong bài Tiếng vỗ của một bàn tay, mục đích của công án không phải là để tìm câu trả lời, mà là “để chận tâm trí không đi lang thang”. Cuối cùng là có được tâm trí hoàn toàn tĩnh lặng, hoàn toàn trống không, “vô tâm”. Nếu tâm trí ta cứ vướng mắc với câu hỏi “Tiếng vỗ của một bàn tay là gì?”, thì tâm trí không bao giờ tĩnh lặng được.

• Vì vậy cho nên thầy nói: “Con cứ bị vướng mắc vào … cái tiếng đó.”

• Thầy còn nói vướng mắc vào “thức ăn và tài sản.” Đây là thầy muốn nhắc khéo là cả ba thứ vướng mắc đều như nhau. Con mà còn vướng mắc vào “cái tiếng đó” và vẫn còn tìm lời giải “cái tiếng đó là gì?”, thì con vẫn còn vướng mắc y như là người ham ăn và người ham của cải.

• Thầy còn hướng dẫn xa hơn: “Con chết đi còn hơn.” “Chết” tức là không suy nghĩ nữa, không có câu hỏi trong đầu nữa. Nhưng trò vẫn không hiểu được.

Thầy phải nhắc khéo thêm lần nữa: “Người chết không nói”—tức là, không có câu hỏi, không có câu trả lời.

• Tâm tĩnh lặng, tâm không, vô tâm là đích điểm cuối cùng. Khi đạt được đích đó thì tâm hoàn toàn rỗng lặng, không có câu hỏi và không có câu trả lời.

Nếu nói theo kiểu Tanzan, thiền sư ẳm cô gái qua vũng bùn, thì: “Ủa, câu hỏi đó con đã để nó lại lúc thầy hỏi con hai tháng trước rồi, sao thầy lại con mang nó theo tới bây giờ?”

• Chú ý: Các thiền sư không nói nhiều. Chữ nào trong câu nói của các vị cũng quan trọng.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

The Dead Man’s Answer

When Mamiya, who later became a well-known preacher, went to a teacher for personal guidance, he was asked to explain the sound of one hand.

Mamiya concentrated upon what the sound of one hand might be. “You are not working hard enough,” his teacher told him. “You are too attached to food, wealth, things, and that sound. It would be better if you died. That would solve the problem.”

The next time Mamiya appeared before his teacher he was again asked what he had to show regarding the sound of one hand. Mamiya at once fell over as if he were dead.

“You are dead all right,” observed the teacher. “But how about that sound?”

“I haven’t solved that yet,” replied Mamiya, looking up.

“Dead men do not speak,” said the teacher. “Get out!”

#42

Bộ luật đạo đức của thổ dân da đỏ Mỹ

Chào các bạn,

Khi những người châu Âu lần đi thám hiểm và phát hiện ra châu Mỹ, họ đã gặp những người thổ dân da đỏ ở vùng bắc Mỹ và tưởng nhầm đó là người Ấn Độ. Vì thế họ gọi những người thổ dân này là Indian. Cái tên này về sau gây nhiều nhầm lẫn nên người Mỹ chuyển sang dùng từ Native American để chỉ tới những thổ dân, bộ lạc da đỏ châu Mỹ nhằm phân biệt với những người có nguồn gốc di cư (Non-Native American).

Mặc dù vậy từ Native American không có nghĩa rằng mọi thổ dân trên vùng bắc Mỹ đều có cùng một nguồn gốc, văn hóa như nhau. Trên thực tế ở Mỹ có hàng chục bộ lạc, dân tộc khác nhau như Hopi, Lakota, Sioux…Sau khi giành được quyền tự cai trị từ chính phủ Mỹ, các bộ tộc da đỏ Mỹ sống trong các khu bảo tồn gọi là Indian Reservations. Ở Mỹ hiện nay có hơn 300 khu như vậy, một số mở cửa cho khách du lịch viếng thăm để tìm hiểu đời sống của người da đỏ.

Các bộ lạc da đỏ ở Mỹ nổi tiếng về sự giàu có trong đời sống văn hóa và tâm linh. Dưới đây là một số nguyên tắc của thổ dân da đỏ Mỹ được sưu tầm lại, các bạn cùng nghiên cứu nhé.

Chúc các bạn một ngày tươi hồng,

Hoàng Khánh Hòa

.

Bộ luật đạo đức của thổ dân da đỏ Mỹ

1. Thức dậy với ánh mặt trời để cầu nguyện. Cầu nguyện một mình. Cầu nguyện thường xuyên. Thánh Linh Cao Cả sẽ lắng nghe, nếu bạn chịu nói.

2. Hãy khoan dung với những người lạc lối. Si mê, tự cao, tức giận, ghen tị, và lòng tham bắt nguồn từ một tâm hồn đi lạc. Cầu nguyện cho họ tìm thấy chỉ dẫn.

3. Hãy tự mình đi tìm chính mình. Đừng để người khác làm đường cho bạn. Đó là con đường của bạn, và chỉ của bạn thôi. Những người khác có thể đi trên đường đó cùng bạn, nhưng không ai đi giùm bạn cả.

4. Đối đãi với khách trong nhà bạn một cách rất cẩn thận. Mời họ thứ đồ ăn tốt nhất, cho họ chiếc giường tốt nhất, và đối xử với họ với sự tôn trọng và tương kính.

5. Không lấy cái gì không phải của mình, dù là từ người khác, từ cộng đồng, từ nơi hoang dã hay từ một nền văn hóa. Nó không do làm lụng hay do người ta cho mình. Nó không phải là của mình.

6. Tôn trọng tất cả mọi thứ trên trái đất này – dù đó là con người, động vật hay cây cỏ. Trân trọng Thánh Linh trong mọi thứ.

7. Trân trọng suy nghĩ, ước muốn và lời nói của những người khác. Không bao giờ ngắt lời người khác, hay chế nhạo, hay nhái họ. Cho phép mỗi người quyền được thể hiện bản thân.

8. Không bao giờ nói xấu về người khác. Năng lượng tiêu cực mà bạn đưa vào vũ trụ sẽ nhân lên khi chúng quay trở lại với bạn. Tất cả mọi người đều mắc lỗi,. Và tất cả lỗi lầm có thể được tha thứ. Những suy nghĩ xấu gây ra ốm đau về trí óc, cơ thể, và tinh thần. Rèn luyện tính lạc quan.

9. Thiên nhiên không dành cho chúng ta, nó là một phần của chúng ta. Chúng là một phần của gia đình vật chất của bạn.

10. Trẻ em là hạt giống của tương lai chúng ta. Gieo trồng tình yêu trong trái tim chúng và tưới cho chúng bằng trí tuệ và các bài học sống. Khi chúng lớn lên, cho chúng không gian để trưởng thành.

11. Tránh làm đau trái tim của người khác. Thuốc độc từ nỗi đau bạn tạo ra sẽ quay trở lại với bạn.

12. Thành thật mọi lúc. Thành thật là bài kiểm tra y’ chí của con người trong vũ trụ này.

13. Giữ bản thân cân bằng. Trí óc, tinh thần, cảm xúc và cơ thể bạn – tất cả cần mạnh mẽ, trong sạch, và khỏe mạnh. Tập thể dục cho cơ thể để làm tinh thần mạnh lên. Làm giàu tinh thần để chữa những bệnh hoạn về cảm xúc.

14. Xác định rõ ràng rằng bạn sẽ là ai và bạn sẽ hành động như thế nào. Chịu trách nhiệm cho những hành động của bạn.

15. Tôn trọng chuyện riêng và không gian riêng của người khác. Không đụng vào tài sản cá nhân của người khác – đặc biệt là những đồ vật linh thiêng và có tính tôn giáo. Đây là điều cấm kị.

16. Hãy thành thật với bản thân đầu tiên. Bạn không thể nuôi dưỡng và giúp đỡ người khác nếu bạn không thể nuôi dưỡng và giúp đỡ chính bạn trước.

17. Tôn trọng niềm tin tôn giáo của người khác. Không áp đặt niềm tin của bạn vào người khác.

18. Chia sẻ sự may mắn của bạn với những người khác. Tham gia từ thiện. Sẵn sàng cho lại mọi người, để Dân Tộc sẽ sống.

Hoàng Khánh Hòa dịch
.

Native American Code of Ethics:

Rise with the sun to pray. Pray alone. Pray often. The Great Spirit will listen, if you only speak.

Be tolerant of those who are lost on their path. Ignorance, conceit, anger, jealousy and greed stem from a lost soul. Pray that they will find guidance.

Search for yourself, by yourself. Do not allow others to make your path for you. It is your road, and yours alone. Others may walk it with you, but no one can walk it for you.

Treat the guests in your home with much consideration. Serve them the best food, give them the best bed and treat them with respect and honor.

Do not take what is not yours whether from a person, a community, the wilderness or from a culture. It was not earned nor given. It is not yours.

Respect all things that are placed upon this earth—whether it be people, animal or plant. Honor the Spirit in all things.

Honor other people’s thoughts, wishes and words. Never interrupt another or mock or rudely mimic them. Allow each person the right to personal expression.

Never speak of others in a bad way. The negative energy that you put out into the universe will multiply when it returns to you. All persons make mistakes. And all mistakes can be forgiven. Bad thoughts cause illness of the mind, body and spirit. Practice optimism.

Nature is not for us, it is a part of us. They are part of your worldly family.

Children are the seeds of our future. Plant love in their hearts and water them with wisdom and life’s lessons. When they are grown, give them space to grow.

Avoid hurting the hearts of others. The poison of your pain will return to you.

Be truthful at all times. Honesty is the test of one’s will within this universe.

Keep yourself balanced. Your mental self, spiritual self, emotional self, and physical self—all need to be strong, pure and healthy. Work out the body to strengthen the mind. Grow rich in spirit to cure emotional ails.

Make conscious decisions as to who you will be and how you will react. Be responsible for your own actions.

Respect the privacy and personal space of others. Do not touch the personal property of others—especially sacred and religious objects. This is forbidden.

Be true to yourself first. You cannot nurture and help others if you cannot nurture and help yourself first.

Respect others religious beliefs. Do not force your belief on others.

Share your good fortune with others. Participate in charity. Be willing to give back to the people, so that People will live.

Terri Jean

Thiền của Joshu

Joshu bắt đầu học Thiền lúc 60 tuổi và tiếp tục cho đến 80, lúc ngài đạt Thiền.

Joshu dạy Thiền từ năm 80 cho đến 120 tuổi.

Một ngày nọ môt đệ tử hỏi Joshu: “Nếu con không có gì trong tâm hết, con phải làm gì?”

Joshu trả lời: “Ném nó ra.”

“Nhưng con không có gì hết, làm sao mà ném ra được?” người đệ tử hỏi tiếp.

“Vậy thì,” Joshu nói, “khiêng nó ra.”
.

Bình:

• “Không có gì trong tâm” sao lại hỏi?

Có nguyên một câu hỏi nặng vậy mà nói là không có sao được!

Lần thứ nhất thầy bảo ném nó ra ngoài. Nhưng lại hỏi tiếp, thầy biết là câu hỏi này nặng quá, không ném được, phải khiêng ra ngoài.

• Tâm Thiền là tâm rỗng lặng, chẳng có gì trong đó hết–Vô tâm (no-mind).

• Joshu là tên Nhật của thiền sư Trung Quốc tên Triệu Châu, mà chúng ta đã nói đến qua công án Con Chó Của Triệu Châu trong bài Dạy kiểu hà tiện

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Joshu’s Zen

Joshu began the study of Zen when he was sixty years old and continued until he was eighty, when he realized Zen.

He taught from the age of eighty until he was one hundred and twenty.

A student once asked him: “If I haven’t anything in my mind, what shall I do?”

Joshu replied: “Throw it out.”

“But if I haven’t anything, how can I throw it out?” continued the questioner.

“Well,” said Joshu, “then carry it out.”

# 41

Văn hóa sáng tạo

Chào các bạn,

Chúng ta thường nói đến sáng tạo như là một kỹ năng: 30 quy luật để sáng tạo, kỹ‎ thuật động não, k‎ỹ thuật đặt câu hỏi, v.v… Dĩ nhiên là sống ở đời chuyện gì cũng có một số kỹ năng và kỹ thuật liên hệ. Nhưng sáng tạo không phải là kỹ năng. Sáng tạo là bản tính của một người, cũng như là lễ độ, chẳng hạn. Lễ độ không phải là các kỹ năng lễ độ, mà là bản tính của một người. Một người lễ độ không phải vì người ấy biết các kỹ năng lễ độ, mà vì người ấy có bản tính lễ độ và sống lễ độ với mọi người.

Sáng tạo cũng vậy. Người sáng tạo là người luôn luôn sáng tạo, đi đâu cũng sáng tạo, làm gì cũng sáng tạo, sáng tạo một ngày 24 tiếng (có thể sáng tạo ngay trong khi ngủ). Sáng tạo là bản tính của anh ta, là máu chảy trong người, lâ từng hơi thở, từng nhịp đập.

Bởi vì vậy, chúng ta không thể nghiên cứu và giải quyết vấn đề thiếu sáng tạo như là một vấn đề kỹ thuật (hay kỹ năng) thuần túy, và ta phải xem đó như là một vấn đề văn hóa của một người—tức là về cách sống, về môi trường sống, về mọi người chung quanh anh ta.

Môi trường sống thường tạo ra con người—môi trường cướp bóc thường tạo ra người cướp bóc, môi trường từ thiện thường tạo ra người từ thiện, môi trường thiếu sáng tạo thường sinh ra người thiếu sáng tạo.

Muốn sáng tạo chúng ta phải thiết lập một môi trường sống sáng tạo.

Có nhiều điều tạo ra môi trường. Nhưng giản dị hóa đến tận cùng thì môi trường sống của chúng ta gồm có chính ta và những người chung quanh ta. Ta và vòng người quanh ta tạo thành môi trường sống của ta.

Hãy tưởng tượng một người đứng giữa vòng muốn làm cái gì đó mới lạ, và đa số hay tất cả những người đứng ở mấy trăm vòng tròn quanh anh ta, biển người quanh anh ta, nói “không”, thì liệu anh ta có sáng tạo được không?

Có thể là một trong triệu người vẫn sáng tạo được, nhưng đại đa số chắc là không.

Nhận xét này đưa đến suy luận sau đây: Nếu chính ta muốn sáng tạo mà mọi người chung quanh ta chống sáng tạo thì rất khó sáng tạo.

Tuy vậy, khi nói đến “khoa học” sáng tạo, chúng ta thường chỉ chú tâm đến người đứng giữa vòng tròn: “Làm thế nào để tôi biết cách suy nghĩ sáng tạo?” Nhưng, nếu tôi biết cách suy nghĩ sáng tạo mà mọi người chung quanh tôi chống sáng tạo, thì có lẽ là tôi cũng bỏ cuộc sớm thôi.

Quảng cáo tuyên truyền của Sở Nước Denver

Vì vậy, chúng ta phải đặt vấn đề ngược lại: Làm thế nào để những người chung quanh tôi khuyến khích và ủng hộ tôi sáng tạo?

Đổi góc nhìn: Tôi đứng ở vòng bên ngoài, nhìn vào người đứng giữa vòng, câu hỏi sẽ là “Làm thế nào để tôi khuyến khích anh ta sáng tạo?”

Đây chính là mấu chốt căn bản nhất của vấn đế: Làm thế nào để chúng ta khuyến khích những người khác trong xã hội của ta sáng tạo?

Tập trung của ta không nên nhắm vào “Làm thế nào để tôi sáng tạo?” Câu này mang xuống ưu tiên hai.

Ưu tiên đầu nên là: Làm thế nào để tôi khuyến khích người khác sáng tạo?

Và khi ta hỏi như thế thì ta sẽ được cả hai, vì nếu cả ngày ta khuyến khích ngưởi khác sáng tạo thì đương nhiên ta sẽ trở thành sáng tạo.

Như thế, muốn tạo một môi trường sáng tạo, cho mình và cho tất cả mọi người, mỗi chúng ta phải tích cực khuyến khích người khác sáng tạo luôn luôn trong cuộc sống.

• Bạn bè khuyến khích nhau.
• Anh chị em khuyến khích nhau.
• Bố mẹ khuyến khích con cái.
• Thầy cô khuyến khích học trò.
• Chỉ huy khuyến khích thuộc hạ.
• Nhà nước khuyến khích nhân dân.

Nhưng, khuyến khích sáng tạo cách nào?

• Luôn luôn kêu gọi mọi người có ‎ ý tưởng mới, phương cách mới, tư duy mới…

Tập tự động khen cái mới về tính mới của nó (Ô, mới lạ nhỉ!) Đúng hay không, để đó tính sau. Đã là mới thì khó biết đúng sai. Nhưng mới thì ít ra cũng hay về “tính sáng tạo” (creativity).

• Tính sáng tạo (creativity) luôn luôn nên là một phần điểm trong tổng số điểm.

• Thấy ‎ý tưởng mới hay phương cách mới chói tai mình, thì cũng đừng chống đối. Vẫn nên khen, “Đây là một ý tưởng mới. Hay đấy. Cho tôi ít thời gian để suy gẫm thêm.”

• Đừng ép người khác, nhất là người thấp hơn mình, đồng ‎ý với mình luôn luôn. Khuyến khích họ có lập trường của họ. Nếu không đồng ý được thì “ta đồng ‎ý là ta bất đồng ý.”

• Khuyến khích người thấp hơn mình khám phá mọi sự, thay vì cứ nhồi họ vào cái khuôn của mình.

Có bố mẹ nào nói với con, “Nhà mình công giáo (hay phật giáo). Nhưng có nhiều đạo khác ngoài kia, con đã lớn rồi, nên nghiên cứu và khám phá. Rồi mai mốt con có thể tự quyết định nên giữ đạo mình hay theo đạo khác”?

• Điều càng mới, nghe càng điên rồ. Cho nên ta cần ủng hộ và khuyến khích người có ‎ ý tưởng “điên rồ”. Thành hay bại là chuyện của họ. Ủng hộ họ là chuyện của mình.

(Sáng tạo để cái mới vào khuôn cái cũ thì cũng như không! “Em sáng tạo cho anh môt cái bánh tráng mới giống y hệt cái bánh tráng truyền thống mình đang ăn”. Em nghiêng người, lấy một cái bánh tráng có sẵn trên bàn: “Đây anh, em đã sáng tạo được cái giống hệt cái bánh truyền thống cho anh đây”).

Nói chung là tâm ta phải yêu sáng tạo, yêu thay đổi, yêu cái mới, đến mức mà đi đâu ta cũng muốn mọi người có cái mới, ý tưởng mới, phương pháp mới thường xuyên.

Dĩ nhiên ta muốn nâng cao giá trị truyền thống, nhưng truyền thống là nền để ta đứng trên đó sáng tạo cái mới. Truyền thống không phải là cái khuôn làm bánh in, 100 năm cũng chỉ ra một kiểu bánh.

Trên ĐCN, chúng ta nói đến những truyền thống rất lâu đời của ta—từ Phật pháp, đến Thánh kinh, đến Lĩnh Nam Chích Quái, ngay cả thơ cổ như Thiền thi và Đường Thi, để làm nền cho chúng ta sáng tạo tư tưởng mới cho đời sống mới, không phải để ta láp nháp toàn những điều xưa cũ như vẹt, mà không suy nghĩ biến hóa gì.

Nếu ta thực tâm yêu sáng tạo mãnh liệt, thì tự nhiên ta biết làm thế nào để khuyến khích tất cả mọi người quanh ta sáng tạo. Cho nên nơi cuối cùng, và cũng là khởi điểm đầu tiên, vẫn là tâm ta. Nếu ta chỉ nghĩ đến sáng tạo như là một kỹ năng công việc, mà chưa yêu nó say mê như yêu phở, yêu bánh cuốn, thì ta có vấn đề rất lớn. Hãy để ý tâm mình, và hãy suy tư về sáng tạo cho đến lúc mình bị tiếng sét ái tình với nó.

Đây là chuyện trăm năm, nghìn năm, của đất nước. Mong các bạn cẩn trọng.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Giải Nobel văn chương cho Việt Nam, tại sao chưa?

    (Bài viết được trích trong tập tiểu luận – phê bình: Thơ như là tiến trình)

    INRASARA

1. Không chỉ Việt Nam, văn học Đông Nam Á đang ở vị trí rất khiêm tốn so với văn học nhiều nước trên thế giới. Hai thập niên đầy sôi động, chỉ tính Giải Nobel văn chương thôi, trong lúc các nền văn học [lâu nay bị cho là] ngoại vi the peripheral literature khắp nơi đang nỗ lực giành và giành được bao thành tích chói lọi. Từ châu Phi, châu Mĩ La tinh cho đến châu Á. Hay sát cạnh ta: Nhật Bản, với những tên tuổi Yasunary Kawabata, Kenzaburo Oe, Haruki Murakami. Như thể một cách thế giải trung tâm ngoạn mục, thì Đông Nam Á cứ đứng nhìn, như là kẻ ngoài cuộc.
Huy chương giải Nobel văn học
Hãy bỏ qua bề tối hay vết xước của nó, nhìn lướt Giải Nobel văn chương, tác phẩm của các nhà đoạt giải sáng giá, dù khó phân biệt rạch ròi, luôn hội được một/ một vài hoặc tất cả yếu tố. Đó là:

Nhà văn nêu lên được tinh thần cốt tủy của con người thời đại họ sống: Albert Camus. E. Hemingway, S. Beckett,… Họ bắt trúng mạch, tìm lối viết thích hợp, đẩy vấn đề đến cùng và mở rộng nó tối đa. Hoặc họ tiếp nhận, triển khai tư tưởng mới, độc đáo tác động nhiều chiều đến tinh thần con người. Tư tưởng đó được thể hiện qua nhiều thể loại và bằng nhiều cách thức khác nhau. Hoạt động chữ nghĩa của J-P. Sartre là rất điển hình. Hay như những A. Solzhenitsyn, O. Pamuk,… nói lên vấn đề lớn của dân tộc, đất nước mình, rộng ra – thời đại mình, không kiêng nể hay hãi sợ. Họ chấp nhận trả giá. Hoặc khám phá lối thể hiện mới ảnh hưởng đến lối viết của người cùng thời hay thế hệ sau: W. Faulkner, G. Márquez,…

Đó là chưa kể các nhà văn không đoạt giải nhưng tác phẩm có tác động lớn đến văn học và tư tưởng thời đại: Leon Tolstoy, James Joyce, R.M. Rilke, F. Kafka, Marcel Proust, T.E. Eliot, Erza Pound, Vladimir Nabokov, Jorge Luis Borges, W.H. Auden, S. Rushdie…
Ở Việt Nam, có nhà văn nào làm được như thế?

2. Chuyện xửa xưa, văn học Đông Nam Á ngàn năm sống đời hạng hai và phái sinh hẩm hiu. Văn chương nôm na bản ngữ dù đồng hành với văn chương bác học được viết bằng ngôn ngữ “quý tộc”: Pali, Sanskrit hay Hán, nhưng luôn chịu phận lép và bị chính người bản địa xem thường. Mặc dù vài dân tộc có chữ viết khá sớm (như Champa chẳng hạn, bia Đông Yên Châu xuất hiện từ cuối thế kỉ thứ tư) nhưng mãi đến cuối thế kỉ thứ mười, người viết Đông Nam Á mới sử dụng nó vào sáng tác văn chương. Để chỉ từ thế kỉ mười bảy trở đi, nền văn học khu vực này mới cho ra đời các tác phẩm xuất sắc viết bằng chữ bản địa.

Nhưng định mệnh vẫn chưa thôi chơi khăm chúng ta. Vừa thoát khỏi nền văn học song ngữ đầy mặc cảm được vài trăm năm, văn học còn non trẻ này bị đánh tiếp đòn phủ đầu, khi văn học châu Âu sau đó là Mĩ, Nga tràn vào Đông Nam Á. Những cái bóng khổng lồ của bao nhiêu tên tuổi thi bá, văn hào, triết gia ngoại hạng làm ta choáng ngợp. Ta say sưa lao vào nghiên cứu, dịch thuật, học tập, bắt chước nhưng cạnh đó, bởi lòng tự tôn và tự ái dân tộc, không ít bộ phận sợ hãi, xa lánh và chống báng trước sức ảnh hưởng lấn áp của nền văn học và triết học xa lạ kia. Vọng ngoại và bài ngoại cứ là tồn tại song trùng trong tâm thức dân tộc Đông Nam Á.

Thế nào đi nữa, ta cũng đã có vài thành tựu. Thành tựu đến đâu đi nữa, ta vẫn cứ bị coi là ngoại vi. Người ngoài coi ta ngoại vi, đã đành. Chính ta tự coi mình và coi nhau như thế! Mặc cảm hậu thuộc địa còn trì nặng nơi tâm thức sáng tạo của mỗi người viết Đông Nam Á. Viết trong niềm mặc cảm hậu thuộc địa, thì nhà văn có thể đẻ ra tác phẩm lớn không?

3. Để vươn đến “tầm Nobel”, Việt Nam đã và đang chuẩn bị gì? – Rất ít, nếu không nói là chưa gì cả! Thử nhìn quanh xã hội nơi ta sống…

Mở mắt chào đời, ta thấy cha mẹ, anh chị, thấy cô bác, anh họ chị họ, ông bà họ nội ngoại, dì dượng gần xa, vô thiên lủng… Được thôi, nhưng dường tất cả sẵn sàng chỉ tay khuơ khoắng cháu nên thế này với mầy không được thế nọ đầy quyền uy, đe nạt. Từ bé thơ, tôi phải cắn răng chịu nhận bao nhiêu cái đét đít từ bàn tay một ông cậu bá vơ nào đó, không thể cãi. Ngó quanh, không một ai tỏ vẻ bênh vực tôi cả. Người lớn bảo thì phải nghe – vừa tập tò nhận thức, tôi luôn phải nghe câu đó. Lắng nghe và làm theo. Truyền thống gia đình Việt Nam trọng tình khinh lí đè nặng tâm hồn cá thể từ bao đời chưa có dấu hiệu chấm dứt. Có cha mẹ nào răn dạy con cắt đứt với mấy dây nhợ chừng chịt đó không? Có tấm gương chú bác nào soi sáng con cháu dấn bước trên con đường chinh phục đỉnh cao? Gia đình nào của Việt Nam tạo môi trường hay chuẩn bị đầy đủ điều kiện thiết yếu cho thiên tài tương lai ở khởi đầu cuộc viết? Từ “tứ đức tam tòng” hay “quân sư phụ” xa xưa cho đến nỗi “hi sinh đời bố củng cố đời con” của thời hiện đại, nó cứ thế. Nề nếp gia phong luôn được đặt lên hàng đầu, trói buộc tiềm năng sáng tạo của cá nhân. Nếu có gì thêm, thì chỉ như một tiếp nối nếp nhà, chứ không đi ngược lại hay phá hủy nó để làm ra cái mới lạ. Truyền thống gia đình dạy con cháu yêu quý nâng niu sự ổn định hơn là đam mê tinh thần mạo hiểm khai phá. Từ đó, cá nhân sớm hài lòng với thành quả nhỏ bé đạt được hơn là theo đuổi mục đích to lớn tối hậu. Tôi đã dở khóc dở cười khi cô bạn thơ tâm sự vừa viết thư cho cha “con đã trả xong nợ cho gia đình”, khi cầm trên tay tấm thẻ Hội viện Hội Nhà văn Việt Nam! Sẽ không bao giờ có sự phá cách, nói chi đến một phiêu lưu [tư tưởng] mang tính đột phá táo bạo nào sẽ xảy ra, ở đó.

Gia đình đã vậy, nhà trường cũng chẳng hơn. Chưa vội đề cập đến việc trang bị cơ sở vật chất tiên tiến nhất sẵn sàng cho phát kiến khoa học, ngay nhà văn chỉ cần một cây viết, một tập giấy trắng và… một đầu óc tư duy độc lập thôi, ta vẫn chưa. Thực tế, môn triết học – được cho là môn học nền tảng của mọi nền tảng giúp con người suy nghiệm cuộc sống chiều sâu – đến hôm nay vẫn chưa có mặt nghiêm túc trong các Đại học Việt Nam. Không có truyền thống triết học, ta cũng chưa sẵn sàng cho truyền thống đó.

Mục đích của nhà trường là đào tạo con người tiêu chuẩn, đâu cũng thế. Riêng Việt Nam, ta còn đẩy món tiêu chuẩn kia đi đến đầu mút của con người đóng hộp, bằng hệ thống và chính sách giáo dục theo-ism. Theo-ism từ “thuật nhi bất tác”, “Tử viết” suốt ngàn năm, theo-ism bám ta đến tận hôm nay. Cơ chế đó, sinh viên có làm ngược, làm khác ý thầy, tư duy khác chương trình sách giáo khoa dạy mới là chuyện lạ.

Ngồi giảng đường, giảng viên không khuyến khích sinh viên suy tư độc lập, thì làm gì hi vọng sau đó họ phát kiến í tưởng mới lạ, liều lĩnh khai phá lối viết mới mẻ, dám thể hiện mình (không phải thể hiện cái tôi chủ quan èo uột hay lớn lối như đã) mà không ngại thất bại? Khía cạnh này, hãy nghĩ đến A. Breton hay Alain Robbe-Grillet. Đây là rào cản vững chãi và ngoan cố nhất chúng ta tự dựng lên ngay trong nhà mình.

Câu chuyện. Thuở sinh viên năm nhất khoa Anh Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, giờ ngữ pháp tập đặt câu “Bởi vì… cho nên…”. Thay vì xử sự cho qua chuyện như mọi người, rằng “Bởi vì sáng nay trời mưa cho nên em đi học trễ”, tôi phức tạp hóa vấn đề bằng câu: “Bởi vì đất nước ta vừa trải qua chiến tranh cho nên chúng ta còn hạn chế về tự do”. Cô giảng viên bảo “em sai rồi”, tôi mới đứng dậy phân trần “thưa cô, em đúng mà”. Thế là anh lớp trưởng ngồi bàn bên quơ cây thước gỗ to cồ thọc mạnh vào mạn sườn tôi: – Sai là sai quan điểm, ngốc à.

Giáo sư dạy tôi nghĩ theo lối nghĩ của sách giáo khoa, đã đành; bằng hữu thay vì hỗ trợ và kích thích tôi tìm tòi sáng tạo thì lại đóng vai kẻ canh chừng không cho tôi bước chệch khỏi quỹ đạo giáo dục cho phép, nên – tôi cứ thế cúi đầu răm rắp làm theo thầy, theo sách. Tất cả tình nguyện trở thành tín đồ thuần thành của thứ chủ nghĩa theo-ism, rập khuôn có sẵn. Nơm nớp sợ khác người, sợ bị hiểu lầm hay sợ không ai hiểu mình, cuối cùng – sợ thất bại, cho dẫu tạm thời. Với một theo-ist được gò như thế, chuyện phá rào là bất khả.

Còn xã hội ngoài kia? Chưa nói đến cộng đồng làng xã với văn hóa làng xã luôn dị ứng với cái mới, cái khác mình, sẵn sàng tư thế miệt thị, áp chế tư tưởng vượt qua tầm hiểu của mình; ngay một tổ chức xã hội đầy quyền năng chuyên môn như Hội Nhà văn Việt Nam, cũng chưa có cái nhìn thoáng mở, chưa thực sự dũng cảm ủng hộ cái trái ngược. Phần thưởng dành cho sự độc đáo, sáng tạo càng hiếm hơn nữa. Giải thưởng thơ phần đông ưu ái các loại Thơ Mới biến thể của thứ mĩ học ở thời xa lắc, cho lí luận phê bình là những Tản mạn… hay Tạp cảm… đủ loại. Nếu có lỡ phá cách, ta luôn dỏng tai nghe ngóng tiếng nói từ báo chí, đủ loại báo chí phổ thông. Ngoảnh lại sự cố lùm xùm xung quanh Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam dành cho Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, mà hỡi ơi cho văn hóa làng xã ấy. Hành trạng công nhận trao giải – tố cáo chụp mũ – phủi tay chối bỏ lá phiếu của chính mình nơi vài thành viên Ban chấp hành – nói lên tất cả nỗi sợ hãi của tầng lớp được xem là ưu tú nhất của xã hội này. Thì làm gì mong mỏi từ giữa lòng xã hội ấy nảy ra cá nhân xuất chúng!

Cá thể nào có thể vượt được cơ chế đóng [hay he hé mở] từ gia đình, nhà trường đến xã hội kia? Đây đó, đã có không ít nhà văn ý hướng đạp đổ bức tường, đã có không ít nhà thơ quyết từ chối giấy phép xuất bản, cương quyết in photocopy tác phẩm để thể hiện tự do tư tưởng, tự do sáng tác của mình, và họ chấp nhận trả giá. Công cuộc không đáng này đã làm tiêu hao bao tinh lực của tuổi trẻ, thời gian qua. Vượt qua chúng là khó, nhưng không phải bất khả. Còn nhận ra và phá bỏ rào cản vô hình dựng ngay trong tâm thức ta, thì ngàn lần khó hơn. Đó là lề thói tư duy nhỏ lẻ, não trạng ăn theo, núp bóng phát sinh và được nuôi dưỡng từ nền “văn chương cỏ gianh” trong nền “văn hóa quà vặt” (từ dùng của Vương Trí Nhàn). Chỉ khi vượt qua nó, nhà văn mới có thể nói đến sáng tạo đích thực. Khi cuộc chuyển hóa tâm thức này xảy ra, biết đâu chính mấy thứ tưởng như trở lực kia, qua hành động công phá không ngưng nghỉ, nhà văn ta hóa thân lớn dậy để làm nên tác phẩm lớn.

4. Nhưng hỏi các cá nhân nhà văn, có ai trong chúng ta đã sẵn sàng để… lớn? – Rất ít!
Thiếu triết học, ta có thể đổ lỗi cho cơ chế với ngài khách quan, nhưng – theo quan sát của tôi – nhà văn ta còn chưa nắm bắt đầy đủ thực tế cuộc sống sôi động ngoài kia, nắm bắt và suy tư đủ sâu về nó. Đây đích thị một trớ trêu. Bởi “ba cùng” từng là khẩu hiệu các quan văn cổ xúy. Hội Nhà văn Việt Nam cùng các hội đoàn địa phương bỏ tiền của tổ chức bao nhiêu là cuộc thâm nhập thực tế, nhưng ta cứ thiếu.

Bởi, khi đi vào cuộc sống địa phương, ta vẫn qua loa, hời hợt.

Mới đây thôi, 27-4-2008, “Báo cáo Lịch sử Đất Mũi và 30 năm xây dựng – phát triển Cà Mau” – một văn bản khô khan nhưng ngồn ngộn sự kiện mới lạ được trình bày bằng thái độ nhiệt tình với sự phấn chấn hiếm có của đại diện Khoa giáo Tỉnh – được non hai chục nhà văn trẻ Sài Gòn nghe một cách hờ hững. Hơn nữa, không ai ghi chép cả! Như thể báo cáo chính trị – xã hội kia chả can hệ gì đến sáng tác thơ văn tôi.

Sau đó, mùa hè 2008, đoàn nhà văn TP Hồ Chí Minh đi thực tế huyện Bảo Lâm – Lâm Đồng. Mươi nhân viên Công ty Thuỷ điện Đồng Nai 4 cùng năm anh chị em thuộc đội ca nhạc dân tộc Châu Mạ, hai già làng nữa đón đoàn, trân trọng và đậm tình. Đốt lửa, rượu cần, thịt heo rừng quay, ca hát,… Vậy mà nhà văn ta “dấn thân” chưa đầy hai tiếng đồng hồ, đã xin kiếu, lên xe máy lạnh về thị xã ngay trong đêm khuya khoắt ấy. Trong khi ở đó vẫn còn mồi (bắt chước lối nói của Bùi Chát), nhà nghỉ có sẵn, không khí văn nghệ đang kì cao điểm. Tại sao không ở lại nhạc rừng by night với anh chị em? Để vui thôi, chứ chưa nói đến chuyện ba cùng [khổ] với đồng bào.

Đi thực tế, ta rất thiếu… cô đơn. Nhà văn luôn cõng theo lỉnh kỉnh bao nhiêu là “vấn đề” từ nhà về vùng đất mới. Dự lễ hội Katê Chăm, nhà văn khoái khách sạn nhiều tiện nghi hơn trú lại nhà dân, thích làm khách sang của gia đình sang trọng hơn là lăn xả vào chốn nghèo hèn và, đáng nói hơn cả là, luôn gánh cả đống chuyện văn chương chữ nghĩa ở tận thành phố theo mình. Hiếm ai tạo được “những ngày rỗng” toàn triệt để thu vào tầm mắt đất trời Phan Rang lạ lẫm, tò mò tìm biết bí ẩn bao mảnh vụn của nền văn hóa Champa, lắng nghe câu chuyện Chăm, cảm thông những tâm hồn cô đơn và kiêu hãnh Chăm,…
Chúng ta chưa học biết cởi bỏ cô gái ở lại bên này bờ sông như chú sãi kia trong một ngụ ngôn Thiền, mà một mực vác nàng theo suốt hành trình chữ nghĩa nặng nhọc.

Thứ nữa, thâm nhập vào mọi vùng tối, khoảng trống của ngôn ngữ để khai thác tối đa tiềm năng khả thể của ngôn ngữ, nhà văn ta chưa có đủ í thức đó. Nhất là nhà thơ, kẻ được coi như nghệ sĩ của ngôn từ. Chúng ta chăm chăm vào nội dung tư tưởng xã hội, tính giáo dục của tác phẩm mà bỏ bê [hoặc rất ít chú í] khả tính nội tại của ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ bình dân, ngôn ngữ sống được sản sinh từ giữa lòng đời thực.

Bắc, Trung, Nam rồi sau đó, đất nước chia hai nảy sinh bao nhiêu là khác biệt về từ vựng và cách sử dụng. Sau Bảy lăm, sự thay đổi liên tục về chính sách (chỉ tính riêng nông thôn: chia ruộng đất, ba khoán, khoán sản phẩm, khoán trắng, rồi giải thể hợp tác xã, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…) đẩy cả ngàn từ vựng nóng hôi hổi cấp tập chào đời. Năm mươi tư dân tộc trong hơn tám mươi sáu triệu dân, trong đó sáu dân tộc có chữ viết truyền thống, có dân tộc sở hữu cả nền văn hóa – văn minh lâu đời, ngôn từ phong phú bao nhiêu mà kể. Nhưng hiếm hoi lắm chúng mới hân hạnh góp mặt trong thơ đương đại. Các chữ sang trọng đầy quen thuộc đến cũ mèm vẫn cứ chễm chệ trang trọng trong sáng tác thơ ca dòng chính lưu.

Khía cạnh này, thái độ sử dụng tiếng Việt của Nguyễn Hoàng Nam, Bùi Chát rất đáng ghi nhận. Hay gần đây, Đinh Linh với thơ tiếng Việt của anh:

“Truyền thống không phải là những lề lối, cách dùng cũ nhạt, ứ đọng, mà là di sản ngôn ngữ linh động của cả một dân tộc. Ngôn ngữ chợ búa, du đãng, những bài thơ tiền vệ, chữ lóng cũng thuộc về truyền thống. Thậm chí ngôn ngữ dùng sai, bởi con nít, những kẻ nói tiếng Việt không rành, chẳng hạn Hoa Kiều, Việt Kiều hay những nhân vật tỉnh Nghệ An, cũng thuộc về truyền thống. Nhà thơ có quyền, thậm chí có trách nhiệm, đùa với truyền thống, tìm những chức năng mới cho nó. Hơn nữa, bạn còn có thể mượn truyền thống người khác để làm phong phú ngôn ngữ mình.

Sự chưa đủ này lại là một rào cản khác.

Thêm: bao nhiêu là nỗi sợ hãi vây bủa nhà văn. Dưới hay trên, ngoài và trong, xa và gần! Sợ bị soi mói, bị chụp mũ, sợ tác phẩm không được in hay bị thu hồi sau khi phát hành. Sợ cho mình, sợ cho nhau và sợ nhau, nên ta rất sợ mình không giống ai…. Ta vừa viết vừa liếc nhìn người bên cạnh, người đi trước, đàn anh chị hay bạn đồng hành cùng trang lứa. Ta sợ đi một mình. Là nỗi chưa đủ cô đơn cho sáng tạo. Cô đơn đầu tiên và cuối cùng. Sự cô đơn cần thiết để tạo nên tác phẩm chiều sâu.

Chưa đủ cô đơn trong giai đoạn đầu tư thai nghén. Nhà văn bị cuốn vào cuồng lưu hội hè đình đám, hội thảo chòm nhóm, văn chương chưa ra trường phái đã biến thành phe phái. Chưa đủ cô đơn khi đối diện với trang giấy/ màn hình trắng. Bao nhiêu bóng u ám, giọng mơ hồ lởn vởn trong ta, quanh ta, sẵn sàng đe dọa thân xác ta, uy hiếp tinh thần ta; nó lên tiếng thì thầm khuyên nhủ hay trừng mắt răn đe ta nên thế này với không nên thế nọ, khiến ta lơi tay hay bẻ cong ngòi bút lúc nào không hay. Chưa đủ cô đơn cả lúc tác phẩm đã sinh hạ. Ta lắng tai nghe ngóng dư luận về nó, rằng nó có vấn đề gì không, các nhà phê bình có để mắt đến nó và, tệ hơn cả là ta mãi tư thế đứng ra bảo vệ nó khi nó bị chê bai.

Bấy lâu, ta luôn là con người của số đông, số đông trong giới văn nghệ, số đông giữa người đọc và, số đông cả khi chỉ ngồi một mình, cô độc!.

Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo, từ đó nơi thẳm sâu tâm thức nhà văn ẩn chứa tinh thần tự kiểm duyệt. Tự kiểm duyệt theo nghĩa rộng nhất của từ này. Tự kiểm duyệt và hỗ trợ nhau kiểm duyệt trước khi bị kiểm duyệt. Hậu đổi mới là thời hoàng kim của tự kiểm duyệt, Phạm Thị Hoài nói thế. Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo, nhà văn không dám sống tới cùng tư tưởng chọn lựa, không dám viết tới cùng, và nhất là không dám theo đuổi đến cùng dự án lớn lao không giống ai của mình [nếu nhà văn đã nghĩ ra được và hoạch định trước đó].

Mà đã sợ hãi, thì làm gì có sáng tạo đúng nghĩa!

Rào cản cuối cùng, là nhà văn chưa đủ í thức về nghề. Đại đa số nhà văn hôm nay chưa thoát khỏi quan niệm văn chương là trò chơi. Ch. Fredriksson: “Í tưởng dường như có tính tiên quyết, xem người nghệ sĩ làm gì và làm như thế nào với tác phẩm của mình, để làm sao cho tác phẩm ấy có hiệu quả nhất khi đến với công chúng. Nhưng dường như ở Việt Nam các nghệ sĩ ít thích bàn về điều này, họ thường thích làm tác phẩm hơn là nói về các tác phẩm của mình”.

Ít bàn, ông nói – thực ra là: không bàn, không muốn bàn, không dám bàn vì, không khả năng bàn, thậm chí, dị ứng với lí luận. Đó là ông nhận định về cánh làm mĩ thuật. Bên văn chương cũng không hơn. Sáng tạo đầy mơ hồ không trên nền tảng mĩ học cụ thể nào, nhà thơ mãi chịu định mệnh một tập, một bài thơ, là thế. Không ít sáng tác có dấu ấn là sáng tác ăn may, ăn mòn vào năng khiếu “trời cho”. Trời cho tới đâu hay tới đấy, chúng ta thói quen nói như vậy. Sự thể sẽ dẫn đến đâu? – Bế tắc!

Tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn hay các Trung tâm bồi dưỡng viết văn, các trào lưu văn chương trên thế giới hãy còn khá xa lạ với sinh viên. Tri thức cơ bản nhất về các hệ thẩm mĩ văn học nghệ thuật tiên tiến không được cập nhật, thế hệ nhà văn tương lai hiện đang ngồi ghế giảng đường còn không biết thiên hạ đanh đi đến những đâu nữa.

Chưa đủ í thức về nghề, nên ta chưa suy tư qui mô về nghệ thuật, suy tư có tính nền tảng và rốt ráo. Sau Bàn tròn văn chương kì thứ bảy, tôi làm cái sơ kết: BTVC được ba thành công nhỏ nhưng vỡ ra một thất bại lớn. Thành công trong tập hợp đa thành phần, đa xu hướng sáng tác, nhiều lứa tuổi khác nhau với số lượng người tham dự ngày càng tăng để thực sự cùng bàn về văn chương đương đại; đề tài hay tác giả – tác phẩm của Bàn tròn được chọn tự do, vô phân biệt; thành viên thảo luận tự do trong một không khí cởi mở, vô ngại. Là ba điều chưa từng xảy ra trước đó. Nhưng thất bại lớn nhất và duy nhất của Bàn tròn văn chương là chất lượng của í kiến. Cứ đặt bảy Biên bản Bàn tròn bên cạnh bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo, chúng ta dễ thấy hiện diện ở đó cả một vực thẳm.

Đó là vật chứng không thể chối cãi về tầm í thức về nghề của nhà văn hôm nay so với nhóm Sáng Tạo. Trong khi tuổi trung bình của ta gấp rưỡi thế hệ trước ở thời điểm họ thảo luận, và ta đi sau họ đến nửa thế kỉ!

Trong sáng tác nghệ thuật, đạt được sự phát triển tinh thần tuần tự nhi tiến, ngày càng sâu rộng, cao lớn như Rembrandt, Van Gogh, Beethoven hay Dostoievski là điều cực hiếm. Ở Việt Nam, một Chế Lan Viên hay Tô Thùy Yên là hiện tượng lạ. Còn thì, phong độ khá phập phù. Không phải nhà sáng tạo vĩ đại đã không rơi vào bế tắc, nhưng khác biệt lớn giữa bế tắc thật và giả là tinh thần, thái độ, rằng nó nghiệp dư hay chuyên nghiệp. Chuyên nghiệp, ta tự tin làm việc trong bất kì hoàn cảnh nào. Chuyên nghiệp, ta chấp nhận giú mình nơi bóng tối vô danh trong thời gian dài. Ta không sợ cô đơn, không sợ cô độc, cả không sợ cô lập.

4. Mặt bằng độc giả là yếu tố không thể thiếu góp phần kích thích sự phát triển văn học. Nhưng ở điểm này, Việt Nam vẫn chưa có nhiều người đọc đúng nghĩa.

Trong các chuyến đi xuyên Việt, bằng tàu lửa hay máy bay hoặc xe du lịch chất lượng cao, nếu chịu quan sát ta sẽ thấy, ngoài số người ngủ gật hay làm chuyện vặt hoặc tán gẫu, có hai bộ phận đọc khác nhau: đọc sách và đọc báo. Chú í nữa, hầu hết người cầm trong tay cuốn sách dày là khách Tây, ngược lại: dân Việt Nam!

Đi vào các khu di tích văn hóa – lịch sử cũng xảy ra tình trạng tương tự, trong khi người Việt Nam xách theo gói đồ ăn với tờ nhật báo thì dân phương Tây luôn tay giở các trang sách. Đi du lịch, họ chuẩn bị sẵn tri thức tối thiểu về nơi họ sắp đến. Không hiểu, họ hỏi; hiểu lờ mờ, họ hỏi. Họ thắc mắc về sai biệt giữa thực tế và kiến thức được viết trong cuốn cẩm nang du lịch. Tại sao bức tượng kia không còn ở đó? Tại sao sách lí giải thế này mà cô thuyết minh như thế kia? Vân vân…

Ở xã hội nông thôn Việt Nam, vị trí trang trọng nhất trong ngôi nhà một gia đình trung lưu, đập vào mắt khách là tủ buffet chưng diện bát đĩa và… cái tivi đời mới. Mấy năm qua, ta có thêm máy vi tính. Hiếm gia đình có được tủ sách. Có – nhưng rất ít, chỉ lèo tèo vài chục cuốn.

Trước Bảy lăm, làng Caklaing quê tôi chưa tới ngàn dân có hai gia đình sở hữu tủ sách trên ngàn cuốn. Ở làng Hữu Đức là gấp đôi. Các tạp chí như Bách khoa, Phổ thông, Văn, Tư tưởng, Đại học,… được bày biện trang trọng là chuyện nhỏ. Tại vài hiệu sách tỉnh lẻ như thị xã Phan Rang, lứa trẻ chúng tôi dễ dàng tìm mua bộ Nho giáo, Thơ tiền chiến toàn tập, Bùi Giáng,… Hôm nay, nhân khẩu Caklaing tăng tám lần nhưng tủ sách gia đình thì hầu như tuyệt chủng! Chúng ta đọc báo, yên tâm rằng mình đã hiểu mọi chuyện. Độc giả ta hiếm cơ hội tiếp cận cái mới từ đó khó chấp nhận cái khác mình, cái xa lạ.

Độc giả phổ thông đã vậy, còn độc giả chuyên nghiệp thì thế nào? Khủng hoảng và tê liệt phê bình đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự lớn dậy của sáng tạo văn chương. Ta có đủ kiểu phê bình. Từ phê bình hũ nút đến phê bình hàng hai, từ phê bình quan phương đến phê bình du kích, phê bình bè phái hay phê bình chỉ điểm,… Riêng phê bình nhằm thúc đẩy văn học tiến tới thì rất hiếm. Một phê bình thoát khỏi hệ mĩ học cũ để mở ra hướng đi mới cho văn học.

Cứ ngoái lại xem Hoài Thanh đã ứng xử kịp thời và tài tình với phong trào Thơ Mới thế nào cũng đủ hiểu. Còn hôm nay, có nhà phê bình nào làm được thao tác đó? Không ai cả! Tháng 7-2008, trong buổi nói chuyện tại Khóa bồi dưỡng lí luận – phê bình văn học do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, tôi hỏi các học viên: Sau Hoài Thanh, có tác phẩm phê bình nào các bạn cầm lên để có thể nhận diện được một trào lưu văn học, một thời đoạn ngắn ngủn của thơ ca Việt Nam chưa? – Chưa!

Ngay í định làm một cuốn sách như thế, đến hôm nay – theo tôi biết – vẫn chưa (thực tế là có một, nhưng thất bại). Chúng ta tranh thủ viết tản văn, tạp ghi theo kiểu… tản mạn; chúng ta làm hội hè, hội thảo đủ loại; rồi thì rẽ sang làm công tác nghiên cứu, giảng dạy hoặc nhanh nhẩu nhảy vào cuộc cãi cọ nhảm nhí bằng phản ứng nhếch nhác chỉ bởi vài quy kết, xuyên tạc nhỏ nhen nào đó. Ta có đủ lí do chính đáng cho các sự vụ ấy. Trong khi tập trung vào công việc chính là phê bình thì, vẫn cứ chưa. Đành rằng, với nỗi “dồi dào” và “phong phú đa dạng” các tác giả, trào lưu, khuynh hướng văn chương xuất hiện trên đủ loại phương tiện thông tin, không nhà phê bình nào tự nhận quán xuyến tất cả. Nhưng ít ra người làm phê bình vẫn có thể chọn một/ một vài trào lưu nhất định để làm phê bình. Vậy mà mãi tận hôm nay, giới phê bình Việt Nam vẫn chưa cho ra đời tác phẩm như thế.

Dăm năm qua, tôi thử dấn vào “lập biên bản” sáng tạo của nhà văn hậu đổi mới, các tác giả viết trong cảm thức mới, sử dụng thủ pháp nghệ thuật mới. Các sáng tác của họ góp phẩn đẩy nhanh quá trình phi tâm hóa văn chương và xã hội Việt Nam. Nguyễn Hoàng Tranh, Mai Văn Phấn, Nguyễn Hoàng Nam, Đinh Linh, Phan Nhiên Hạo, Phạm Lưu Vũ, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Anh Hoài, Bùi Chát, Lý Đợi, Như Huy, Trần Nhã Thụy, Nhật Chiêu, Lê Vĩnh Tài, Vũ Thành Sơn, Đỗ Kh, Nguyễn Đăng Thường, Nguyễn Tôn Hiệt, Phan Bá Thọ, Đặng Thân, Lê Thị Thấm Vân, Trần Wũ Khang, Tuệ Nguyên, Khánh Phương,… Bao nhiêu là nỗ lực, bao nhiêu là hủy phá và sáng tạo đáng được ghi nhận ngay giai đoạn sung sức nhất của đời văn.

Tôi viết về họ, với hi vọng sau cao trào này, sẽ làm một tổng luận về thơ tiếng Việt hậu đổi mới. Để kết thúc một thời đoạn và mở ra một cái gì khác chưa thể biết được. Tôi không chắc mình có kham nổi công cuộc này không, nhưng thiết nghĩ, chỉ khi kịp thời ghi nhận đúng đắn nỗ lực và thành tựu khởi đầu của họ, nhà phê bình mới thật sự góp tay vãi một nắm phân đạm vào đám ruộng hợp tác xã văn chương tiếng Việt. Còn nhà văn có vươn ra cánh đồng văn chương thế giới hay không và vươn ra tới đâu, chỉ có họ trả lời được. Ở thì tương lai.

Sài Gòn, 9-2008 & 1-2010.

Trong cõi mộng

“Thầy của chúng tôi thường ngủ trưa,” một học trò của Soyen Shaku kể lại. “Đám con nit tụi tôi hỏi tại sao thầy ngủ trưa và thầy nói: ‘Thầy vào cõi mộng để gặp các bậc thánh hiền như Khổng Tử làm.’ Khi Khổng Tử ngủ, ngài mơ đến các thánh nhân xa xưa và sau đó kể lại cho học trò.

Ngày nọ trời rất nóng cho nên vài đứa chúng tôi ngủ trưa. Thầy mắng tụi tôi. ‘Tụi con đến cõi mộng để gặp các thánh nhân xa xưa như Khổng Tử làm,’ chúng tôi giải thích. ‘Vậy các thánh nhân nói gì?’ Thầy tra vấn. Một đứa trong bọn chúng tôi trả lời: ‘Tụi con đến cõi mộng và gặp các thánh nhân và hỏi họ có phải thầy của chúng con đến đây mỗi trưa, nhưng họ nói là họ chẳng bao giờ thấy ai như vậy cả.’”
.

Bình:

• Soyen Shaku là thiền sư đầu tiên quảng bá Thiền tại Mỹ, mà chúng ta đã nói đến trong bài Quả Tim Tôi Cháy Như Lửa.

• “Cõi mộng” là “cõi chủ quan” ở trong đầu mình. Mình nói thế nào—dù là nói thật hay nói dối—thì cũng chỉ có mình biết điều mình nói; mọi người khác nghe thì nghe vậy, nhưng chẳng cách nào kiểm chứng.

Và người khác vào cõi mộng của họ, thì họ lại chỉ thấy điều họ thấy, chẳng phải điều ta thấy, và họ có kể lại—thật hay dối—thì ta cũng chỉ biết nghe chứ chẳng làm gì được.

Nghĩa là, trong cõi mộng ai muốn nói gì thì nói, và chẳng cách nào chúng ta hiểu nhau, gặp nhau, đồng ý với nhau, thấy cùng một điều như nhau. Và chẳng đối thoại gì với nhau được.

• Đời là cõi mộng

Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào, ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán
(Kinh Kim Cang)

Tất cả những gì có
Như mộng ảo bọt ảnh
Như sưong cũng như điện
Cứ như vậy mà suy niệm
(TĐH dịch nghĩa)

Cho nên, tất cả những gì ta thấy trong “cõi mộng đời” đều rất chủ quan, chỉ ta thấy ta biết, chẳng nói với nhau được.

Cho nên, không thể giải thích cho nhau được, huống hồ “cãi nhau để cho ra chân lý.”

Mỗi người phải tự tìm thấy chân lý cho chính mình. Chẳng truyền chân lý cho nhau được.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

In Dreamland

“Our schoolmaster used to take a nap every afternoon,” related a disciple of Soyen Shaku. “We children asked him why he did it and he told us: ‘I go to dreamland to meet the old sages just as Confucius did.’ When Confucius slept, he would dream of ancient sages and later tell his followers about them.

“It was extremely hot one day so some of us took a nap. Our schoolmaster scolded us. ‘We went to dreamland to meet the ancient sages the same as Confucius did,’ we explained. ‘What was the message from those sages?’ our schoolmaster demanded. One of us replied: ‘We went to dreamland and met the sages and asked them if our schoolmaster came there every afternoon, but they said they had never seen any such fellow.'”

# 40

Tại sao đi du học?

Trong một vạn câu hỏi tại sao của cuộc đời, mình nghĩ câu hỏi “Tại sao đi du học” là một trong những câu hỏi quan trọng. Nếu bạn trả lời được nó, đó có thể là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời bạn. Tại sao?

Người Việt Nam mình có câu:

Ta về ta tắm ao ta
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn

Khi một bạn trẻ mới bước chân vào đại học và lưỡng lự về con đường sự nghiệp của mình: Có nên đi du học không hay ở nhà? Một số người lấy câu ca dao trên làm câu trả lời và mình thấy có hai cách hiểu:

1. Đi du học là không cần thiết, vì nói chung ở Việt Nam cách làm việc khác, văn hóa khác.

Bạn A tốt nghiệp đại học kinh tế và có kinh nghiệm đi làm ở Việt Nam, sau 3-4 năm đã có nhiều mối quen biết và có thể được cất nhắc làm trưởng phòng của một chi nhánh ngân hàng hay công ty chứng khoán. Trong khi bạn B đi làm 2 năm rồi đi học thạc sĩ tài chính ở nước ngoài 2 năm, khi quay trở về chưa chắc đã có được vị trí như vậy vì bị gián đoạn kinh nghiệm làm việc, kiến thức học ở nước ngoài đôi khi về Việt Nam cũng không áp dụng được nhiều. Ngoài ra đi du học lại hay có xu hướng nhìn thấy nhiều tiêu cực ở Việt Nam, lúc trở về dễ shock văn hóa ngược, và khó hòa nhập hơn.

2. Đi du học là tốt, nhưng không nên ở lại nước ngoài mà tốt nhất là quay về Việt Nam để phát triển sự nghiệp hoặc sống lâu dài.

Mình đã gặp một số bạn hiện đang du học ở Mỹ và trong số này có hai chiều hướng: một là học nhanh nhanh để về, vì nhớ nhà quá, thấy không đâu bằng nhà mình cả, và tất nhiên khi về với tấm bằng nước ngoài trong tay họ cũng sẽ có được sự tôn trọng nhất định trong mắt đồng nghiệp. Vị thế xã hội cũng được nâng cao. Lương bổng chắc chắn sẽ được tăng so với trước, có nhiều cơ hội thăng tiến hơn. Vậy có gì mà phải đắn đo không trở về. Còn chiều hướng thứ hai (không áp dụng trong câu ca dao này), là những người đang mong muốn tiếp tục tìm kiếm cơ hội ở xứ người. Một số sẽ cố gắng ở lại xin việc và định cư.

Trong bài viết này mình chỉ đặt trọng tâm phân tích cách hiểu thứ nhất vì đây thực sự là một bước ngoặt về tư duy để giúp chúng ta thoát ra khỏi tình trạng “ếch ngồi đáy giếng”. Một khi đã thoát ra khỏi cái giếng rồi, thì chí ít là ếch nhà ta đã nhìn thấy bầu trời rộng hơn và biết là mình có nên quay trở lại với cái giếng hay nhảy đi tìm một vùng trời khác. Trong cả hai trường hợp thì cũng đều tốt hơn cho ếch cả :).

Mình đã từng là chú ếch trong cái giếng con đó và băn khoăn rất nhiều. Nhưng khi đặt ra câu hỏi: điều gì là ý nghĩa trong cuộc đời mình? Mình muốn làm gì trong 20 năm tới? Câu trả lời của mình là: mình muốn biết nhiều hơn về thế giới, trong 20 năm tới nếu có cơ hội mình sẽ làm kinh doanh. Nếu muốn mở một doanh nghiệp ở tầm quốc tế thì chắc chắn là mình nên có hiểu biết về văn hóa các nước.

Và đi du học không đơn giản chỉ là kiếm một tấm bằng, với mình đó còn là một tấm vé du lịch miễn phí để được biết đến những vùng đất khác nhau, để mở rộng thế giới quan, học hỏi cách sống và làm việc tiên tiến. Khi trở về Việt Nam dù có bị shock văn hóa ngược đi nữa, thì những hiểu biết đó sẽ đều có ích cho mình về lâu về dài. Nếu xét về cái lợi và cái hại thì rõ ràng là lợi ích lớn hơn rất nhiều. Ngược lại, nếu mình chấp nhận ở Việt Nam và tập trung để phát triển sự nghiệp, không phải xa gia đình và người thân, điều đó cũng tốt nhưng còn cơ hội để mở mang thì chắc sẽ ngày càng hạn chế theo tuổi tác và trách nhiệm với công việc. Sức ì sẽ càng ngày càng lớn hơn.

Vì thế mà mình đạt mục tiêu lớn nhất sau khi tốt nghiệp đại học là xin học bổng đi du học. Một số bạn thì bắt đầu nhận ra mong muốn đi du học khi đã bắt đầu đi làm được một thời gian. Họ đã phải cố gắng rất lớn để bứt ra khỏi vòng xoáy của công việc để lo trau dồi tiếng Anh và tập trung làm hồ sơ. Quan điểm “ao ta” của các bậc phụ huynh và bạn bè đồng trang lứa cũng là một sức ép lớn, nhất là đối với các bạn nữ. Một số còn cho rằng du học mà xin học bổng được là điều không thể. Điều đó đôi khi khiến bạn cảm thấy mất hẳn “nhuệ khí” và chỉ muốn bỏ cuộc.

Mình muốn nhấn mạnh rằng việc đi du học được hay không không phải là vấn đề chính. Có rất nhiều cơ hội mở ra cho bạn nếu bạn thực sự muốn. Vấn đề của chúng ta – nhất là những người trẻ tuổi, là có thực sự muốn được mở mang đầu óc, học hỏi những điều hay của thế giới hay không?

Một khi đã thoát ra khỏi cái đáy giếng rồi, bạn sẽ ngạc nhiên là bầu trời quá rộng lớn và bể học là vô cùng. Nếu cứ mãi ngồi dưới đáy giếng thì ta sẽ mãi chỉ là chú ếch con mà thôi.

Chúc các bạn một ngày tươi hồng,

Hoàng Khánh Hòa

Ngủ ngày

Thiền sư Soyen Shaku qua đời năm sáu mươi mốt tuổi. Làm tròn sự nghiệp đời mình, thiền sư để lại một giáo huấn phong phú hơn hẳn giáo huấn của nhiều thiền sư khác. Học trò của thiền sư thường ngủ ngày giữa mùa hè, và dù là thiền sư bỏ qua việc này, thiền sư vẫn không bao giờ phí phạm một giây phút.

Ngủ trưa ở Nhật

Khi thiền sư chỉ mới 12 tuổi, người đã học triết lý thiền Thiên Thai. Vào một ngày hè, trời nóng bức đến nỗi cậu bé Soyen duỗi thẳng chân và ngủ trong khi thầy mình ra ngoài.

Ba tiếng đồng hồ trôi qua, cậu bé Soyen bỗng nhiên tỉnh giấc, nghe thầy đang bước vào, nhưng trễ quá rồi. Cậu đang nằm dài ra đó, chắn ngang cửa.

“Thầy xin lỗi, thầy xin lỗi,” thầy của Soyen thì thầm, bước rón rén qua người Soyen, như thể Soyen là một người khách quý. Kể từ đó, Soyen không bao giờ ngủ trưa nữa.
.

Bình:

• Ngủ trưa là thói quen tại các xứ nóng. Buổi trưa, nhất là trưa hè, trời oi bức đến nỗi mọi người mọi vật đều thấy mệt mỏi và cần nghỉ. Ở Tây Ban Nha (Spain) và các nước có ảnh hưởng Tây Ban Nha ở Nam Mỹ, giấc ngủ trưa gọi là “siesta.”

Theo bài này, ngủ trưa được các thiền sư xem như là phí phạm thời gian. Điều này có lẽ hợp lý với các thiền sư, nhưng đối với nông dân phải làm việc ngoài trời, thì ngủ trưa có lẽ là giúp nông dân làm việc tốt hơn. (Xin đọc thêm về 7 Nguyên Tắc Cho Giấc Ngủ Trưa).

(Thực ra tựa đề bài này nên là “Ngủ trưa” thì đúng hơn là “Ngủ ngày”. Trong văn hóa Việt, ngủ trưa thì được, ngủ ngày thì không. Tuy nhiên, vì bản chính tiếng Anh viết là Daytime, chúng ta dịch là “Ngủ ngày” để tôn trọng bản chính. Nếu là ngủ trưc thì tiếng Anh nên là “noon nap” hay “afternoon nap”.)

• Điểm chính của bài này là Soyen không phí phạm thời gian, hay ảnh hưởng của thầy của cậu bé Soyen trên cách sống của cậu trong suốt cuộc đời?

Cả thầy của Soyen và Soyen đều tôn trọng giấc ngủ trưa của người khác, vì cả hai biết rằng đó cũng là chuyện tự nhiên và thông thường. Cho nên, ngủ trưa không được xem là chuyện xấu, hay lười biếng, dù là các thiền sư có thể nghĩ rằng không ngủ trưa thì vẫn hơn.

Điểm chính là, thầy Soyen xin lỗi cậu học trò 12 tuổi là đã phá giấc ngủ của cậu. Thầy xin lỗi học trò là chuyện hầu như chẳng bao giờ xảy ra ở phương đông, nơi mà thầy tát tai trò là chuyện thường ngày. Ở đây, thầy xin lỗi học trò, mà lại là học trò nhỏ xíu, đang ngủ trưa trong giờ học, tức là làm chuyện chẳng nên làm (dù đó chỉ là bản năng tự nhiên).

Thái độ cực kỳ khiêm tốn của thầy, và cực kỳ tôn trọng học trò của thầy, gây ấn tượng quá lớn trên Soyen, đến nỗi cậu không bao giờ ngủ trưa nữa (để thầy không bao giờ phải xin lỗi cậu lần nữa).

Và Soyen cũng rất tôn trọng [giấc ngủ của] học trò sau nầy như thầy đã tôn trọng mình.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Sleeping in the Daytime

The master Soyen Shaku passed from this world when he was sixty-one years of age. Fulfilling his life’s work, he left a great teaching, far richer than that of most Zen masters. His pupils used to sleep in the daytime during midsummer, and while he overlooked this he himself never wasted a minute.

When he was but twelve years old he was already studying Tendai philosophical speculation. One summer day the air had been so sultry that little Soyen stretched his legs and went to sleep while his teacher was away.

Three hours passed when, suddenly waking, he heard his master enter, but it was too late. There he lay, sprawled across the doorway.

“I beg your pardon, I beg your pardon,” his teacher whispered, stepping carefully over Soyen’s body as if it were that of some distinguished guest. After this, Soyen never slept again in the afternoon.

#39

Mở rộng tư duy

Chào các bạn,

Trong bài Đặt Nền Móng Cho Cường Thịnh, chúng ta có nói là muốn đặt nền tảng cường thịnh cho đất nước, chúng ta cần hai điều: Một là trái tim nhân ái, xem mọi người là anh em từ một mẹ trăm con. Hai là mở rộng tư duy để mở rộng trí tuệ.

Điều thứ nhất, xem mọi người như anh em thì chẳng có gì là khó hiểu và khó làm cả. Trong anh em không có thù hằn và từ “kẻ thù” không có trong tự điển anh em. Điều này ta đã học lúc 5, 6 tuổi với bài học sử k‎ý đầu tiên về mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân. Các quý vị không muốn thực hành điều này, vì “Nhưng mà…” hay “Tại vì…” thì đành chịu. Thiếu gì người trên thế giới biết chuyện phải làm mà vẫn làm ngược lại, như là hút thuốc, nghiện rượu, chửi thề… Đời mà! Continue reading Mở rộng tư duy

Đường hoa đẹp quá…..

-Đẹp chưa?

-Đẹp quá ba ơi!

Vừa rẽ xe vào đầu đường Đồng Khởi, gốc ngã ba với Nguyễn Du trước Nhà Thờ Đức Bà, nhiều du khách đã phải thốt lên như thế. Cô nàng Sài gòn của tôi đẹp thật với chiếc áo Tết này. Cám ơn bàn tay tài hoa của những nghệ nhân đã dâng bao tâm huyết cho cô nàng Sài gòn hôm nay.

Đẹp lắm đường hoa Nguyễn Huệ. Người Sài gòn không quen với các từ to lớn như “lộng lẫy, “rạng ngời”, “hoành tráng”, “rực rỡ”… Thấy đẹp và sướng sướng với cái đẹp, họ chỉ cần reo lên: “đẹp quá”  trong niềm phấn khích, hân hoan ngập tràng tâm hồn.

Đi từ Đồng khởi vào khu đường Hoa Nguyễn Huệ để đếm thử xem, bạn đã bao lần reo lên từ “đẹp”. Bạn cũng nên đếm xem bạn nghe được bao nhiêu lần ai đó thốt ra từ này.

Đẹp trong những tiếng xuýt xoa, tiếng cười trong trẻo của các em bé khi đứng chụp hình cùng gia đình bên các hoa cảnh. Đẹp như khuôn mặt hạnh phúc của những cặp trai thanh, gái lịch đến từ mọi miền,  mọi lục địa.

“Đẹp quá chừng luôn” Chị bán rau ở gốc chợ hối vợ tôi phải cố gắng đến tham quan đường hoa. Đẹp thật khi thành phố duy trì được một truyền thống tao nhã chào đón Xuân về. Những lo toan, vất vả cả năm được gác lại. Cư dân thành phố bất kể sang hèn, giàu nghèo tự chọn cho mình bộ áo tươi nhất rồi thanh thản dạo cảnh ngắm hoa. Hiếm có công trình hạnh phúc nào lại chan hòa cho mọi tầng lớp cư dân và du khách như thế.

Đẹp đến nỗi nhiều cư dân Sài gòn, sống cả đời ở đây, nhưng bước vào khu vực đường hoa cứ ngỡ mình lạc vào một thiên đàng xa lạ nào đấy…

Cám ơn các nghệ nhân, cám ơn chính quyền thành phố và đặc biệt xin cám ơn ý thức bảo vệ thắng cảnh của người dân.

Trong niềm hân hoan đón xuân về, bác xe ôm gần nhà đã kể với tôi rằng. Vợ chồng bác cũng có đến đường hoa ngắm Xuân. Đông người tham quan nhưng đường hoa vẫn tươm tất sạch sẽ. Số lượng thùng rác được bố trí khá dầy để du khách không phải cầm rác trên tay quá lâu. Thật tuyệt vời khi thấy các cháu bé buông tay cha mẹ chạy đến bỏ mảnh giấy gói kem vào thùng. Thương hơn nữa là hình ảnh các chị công nhân vệ sinh vẫn không ngừng tay chổi giữ cho đường hoa sạch đẹp. Bác xe ôm của tôi đã rút một bao lì xì và xin phép được gởi chị công nhân vệ sinh chúc lộc Tết. Thế nhưng chị cương quyết từ chối. Lời giải thích của chị thật cảm động…

-Dọn dẹp là bổn phận tụi tui. Nhận quà của du khách e rằng tạo ra lề thói xấu. Thương chúng tôi thì mong du khách chung tay giữ gìn vệ sinh…..

Sao lại có thể có câu chuyện như cổ tích thế này? Đường hoa đã đẹp về hình thức còn đẹp cả trong tâm hồn của mọi người, thậm chí đó là những bác xe ôm và những chị công nhân vệ sinh… Những con người thầm lặng, vô danh, khiêm tốn Để lại cho tôi một bài học sống động và tươi đẹp như Xuân.

Trần Bá Thiện

13-Feb-10 06:46 PM

Sự nghiệp của Gisho

Gisho được truyền giới ni cô khi cô chỉ mới 10 tuổi. Cô được huấn luyện cũng như các sư nam. Khi cô được 16 tuổi, cô đi khắp nơi tim học với mọi thiền sư.

Cô học với Unzan ba năm, sáu năm với Gukei, nhưng không nắm được trí tuệ sáng suốt. Cuối cùng cô đến với thiền sư Inzan.

Inzan chẳng đối xử với cô khác với các thiền sinh nam tí nào. Thiền sư la mắng cô như sấm động. Ông trói buộc ni cô đủ cách để đánh thức bản chất bên trong của ni cô.

Gisho học với thiền sư Inzan mười ba năm, rồi ni cô tìm được cái cô đang tìm.

Để ca ngợi ni cô, Inzan làm một bài thơ:

    Ni cô này học mười ba năm với tôi
    Chiều tối cô quán chiếu công án thâm sâu
    Sáng ra lại vùi đầu vào công án khác
    Ni cô Hoa Tetsuma đã hơn tất cả, trừ Gisho.
    Và kể từ Mujaku chẳng ai thật như Gisho!
    Nhưng vẫn còn nhiều cửa cô phải đi qua
    Cô còn phải chịu nhiều đấm từ bàn tay sắt của tôi

Sau khi Gisho đã giác ngộ, ni cô đến tỉnh Banshu, lập thiền viện và dạy hai trăm ni cô khác cho đến khi cô qua đời vào tháng 8 năm nọ.
.
Bình:

• Gisho đi tu năm 10 tuổi. Học với nhiều thầy, kể cả ba thầy lớn từ năm 16 tuổi, trong vòng 22 năm, chịu đủ mọi la mắng xỉ vả, để được giác ngộ, vào năm 38 tuổi. Tức là muốn nắm được chân l‎ý nhà Phật không phải là chuyện dễ, cần cố công kiên trì nhiều năm.

(1) Một phần lý do là vì trí tuệ Phật gia bao hàm l‎ý luận thâm sâu, đến mức vượt cả lý luận.

(2) Một phần là do cái “tâm” của hành giả đã mất “cái tôi” đến mức nào, nhưng cùng lúc lại vững tin vào chính mình đến mức nào. Đây là một điều nghe như đối nghịch, nhưng người thực hành thì biết là không. Cái tôi của ta càng mất đi, ta lại càng tăng tự tin.

(3) Một phần là do chín muồi nhờ trực nghiệm cuộc đời. (Có nhiều điều mình đọc năm học triết 18 tuổi, đến năm 40 tuổi mới bắt đầu hiểu hơi rõ rõ).

• Các thiền sư lúc nào cũng nhẹ nhàng thong thả với mọi người, trừ học trò của mình. Nhiều đại sư xử với học trò rất dữ dằn.

Thực ra thì ngày nay cũng thế thôi. Ở cấp giáo dục thấp cho mọi người, các vị thầy lúc nào cũng vuốt ve khuyến khích. Nhưng ở mức thượng đẳng, mức học để làm thầy thiên hạ, thì đó là giáo dục elite, nhằm đào tạo một lớp lãnh đạo rất nhỏ. Người học trò ở mức này thực ra cũng đã là thầy, và phải đủ sức chịu đựng kỹ luật thép, để thành “thép đã tôi thế đấy”, nếu không thì xìu xìu ển ển như cọng bún, chẳng lãnh đạo ai được cả.

Trong các công ty (hay nhà nước) cũng thế. Ở cấp cao, chẳng ai vuốt ve ai cả, mà mọi người đòi hỏi nhau phải chịu được kỹ luật thép để đạt được phẩm chất cao nhất.

Và kỹ luật thép đó thực ra cũng chỉ là để đòi hỏi ta đánh mất cái tôi của mình.

• Và giác ngộ cũng có nhiều cấp. Giác ngộ tầng thấp thì vẫn còn nhiều gian khổ tiếp tục trí tuệ thâm sâu hơn. Luôn luôn phải học thêm hậu tiến sĩ. 🙂

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Gisho’s Work

Gisho was ordained as a nun when she was ten years old. She received training just as the little boys did. When she reached the age of sixteen she traveled from one Zen master to another, studying with them all.

She remained three years with Unzan, six years with Gukei, but was unable to obtained a clear vision. At last she went to the master Inzan.

Inzan showed her no distinction at all on account of her sex. He scolded her like a thunderstorm. He cuffed her to awaken her inner nature.

Gisho remained with Inzan thirteen years, and then she found that which she was seeking!

In her honor, Inzan wrote a poem:

    This nun studied thirteen years under my guidance.
    In the evening she considered the deepest koans,
    In the morning she was wrapped in other koans.
    The Chinese nun Tetsuma surpassed all before her,
    And since Mujaku none has been so genuine as this Gisho!
    Yet there are many more gates for her to pass through.
    She should receive still more blows from my iron fist.

After Gisho was enlightened she went to the province of Banshu, started her own Zen temple, and taught two hundred other nuns until she passed away one year in the month of August.

# 38

Vượt qua nỗi sợ hãi khi nói trước đám đông

Nói chuyện trước đám đông/công chúng (public speaking) là một trong những nỗi sợ hãi của nhiều người. Chúng ta thường cố gắng tránh, nhưng rất khó vì dù là làm việc một mình hay làm với một nhóm người, cuối cùng thì chúng ta cũng phải nói trước đám đông để có thể hoàn thành công việc của mình. Mặt khác, nếu như chúng ta muốn trở thành những nhà lãnh đạo hoặc đạt được những điều ý nghĩa trong cuộc sống, chúng ta sẽ cần thường xuyên nói trước một nhóm, dù lớn dù nhỏ, để có thể thành công.

Tuy vậy, bản chất của nói chuyện trước công chúng là bạn không cần thiết phải cảm thấy căng thẳng. Nếu bạn hiểu đúng những nguyên nhân ẩn dấu của sự căng thẳng khi nói chuyện trước công chúng là gì, và nếu bạn ghi nhớ một vài nguyên tắc cốt lõi, việc nói trước đám đông sẽ nhanh chóng trở thành một kinh nghiệm rất tuyệt vời của bạn.

Nguyên tắc 1: Nói chuyện trước công chúng bản thân nó không hề gây căng thẳng

Phần lớn trong chúng ta tin rằng cuộc sống bản chất của nó là dễ gây căng thẳng và phần lớn chúng ta được dạy để tin rằng cuộc sống nói chung là như vậy. Để có thể giải quyết với căng thẳng một cách hiệu quả, điều đầu tiên là bạn cần hiểu được bản chất của cuộc sống, trong đó có cả kĩ năng nói chuyện trước công chúng, là không gây ra căng thẳng.

Bạn có thể thấy nhiều người tự tin khi đứng phát biểu trước đám đông. Nếu họ làm được, thì bạn cũng có thể như vậy. Điều cơ bạn bạn chỉ cần tiếp cận đúng bản chất vấn đề và điều đó hoàn hoàn không hề khó.

Nguyên tắc 2: Bạn không cần thiết phải là người xuất sắc hay hoàn hảo để có thể thành công được

Nhiều người trong chúng ta đã quan sát các diễn giả và nghĩ rằng “Ôi, tôi sẽ chẳng thể nào thông minh, điềm tĩnh, sắc sảo, vui vẻ, bóng bẩy….hay bất cứ cái gì”. Nhưng tôi muốn nói với bạn rằng bạn không cần thiết phải như thế. Bạn có thể chỉ có năng lực trung bình, hoặc thấp hơn cả trung bình. Bạn có thể sai, nói ngọng cả lưỡi, hay quên toàn bộ bài nói của mình. Bạn thậm chí không hài hước mà vẫn thành công.

Tất cả tùy thuộc vào cách bạn và khán giả của bạn định nghĩa thế nào là “thành công”. Tin tôi đi, các khán giả của bạn không kì vọng sự hoàn hảo. Tôi đã từng nghĩ phần lớn khán giả ai cũng nghĩ thế, nhưng điều đó là sai. Tôi làm việc nhiều ngày để chuẩn bị cho bài nói, tôi thức khuya lo lắng rằng mình sẽ bị nhầm lẫn cái gì đó. Rồi dành hàng giờ để tuốt đi tuốt lại bài nói. Nhưng thực tế là gì, khi bạn càng cố trở nên hoàn hảo thì bạn càng làm tồi đi.

Điều căn bản của nói chuyện trước công chúng đó là: đem đến cho khán giả của bạn một cái gì đó có giá trị. Nếu khán giả đi về với một điều gì đó mà họ cho là có giá trị, thì họ sẽ xem bạn là một thành công. Nếu họ ra về với một cảm xúc tốt hơn về bản thân, về điều gì đó họ phải làm, họ sẽ xem bạn là một thành công. Nếu họ ra về mà cảm thấy vui và thoải mái, họ sẽ xem thời gian họ lắng nghe bạn là đáng giá.

Thậm chí bạn có ngất xỉu, ngọng lưỡi, hay nói cái gì đó ngu ngốc…họ sẽ không quan tâm. Miễn sao họ nhận được điều gì đó giá trị, họ sẽ cảm ơn bạn.

Nguyên tắc 3: Tất cả những điều bạn cần là hai hoặc ba ý chính

Bạn không cần thiết phải đưa ra một núi thông tin để đem đến cho khán giả của mình cái họ thực sự cần. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng con người nhớ rất ít các dữ kiện hoặc thông tin mà diễn giả truyền đạt. Khi bạn chọn các dữ liệu và thông tin, bạn chỉ cần đưa ra hai đến ba ý chính để có được bài phát biểu thành công. Thậm chí bạn có thể chỉ cần một ý chính trong bài nói của mình nếu bạn muốn.

Hãy nhớ là điều mà khán giả của bạn mong muốn đó là đi về với một hoặc hai điểm chính mà tạo nên sự khác biệt đối với họ. Nếu bạn kết cấu bài nói của mình nhằm truyền tải kết quả này, bạn sẽ tránh được rất nhiều những phức tạp không cần thiết. Điều này cũng khiến cho công việc trở thành người diễn thuyết của bạn dễ dàng và vui hơn.

Nguyên tắc 4: Bạn cũng cần một mục đích phù hợp

Nguyên tắc này rất quan trọng nên hãy lắng nghe. Một sai lầm lớn mà mọi người mắc phải khi họ nói trước công chúng đó là họ có những mục tiêu sai trong đầu. Thông thường, họ không có một mục tiêu gì cụ thể, nhưng nếu có thì mục tiêu trong đầu họ lại vô thức gây ra toàn bộ những căng thẳng không cần thiết.

Đây là một ví dụ chính mà tôi gọi là một “nguyên nhân tiềm ẩn” của sự căng thẳng khi diễn thuyết trước công chúng. Lần đầu tiên khi tôi bắt đầu nói trước đám đông, tôi nghĩ rằng mục đích của tôi là có được sự công nhận của tất cả mọi người về mình. Tôi đã không biết đến một cách có ý thức về mục đích này, và cũng không biết nó ngu ngốc đến thế nào.

Chính vì mục đích tiềm ẩn này, tôi đã nghĩ là tôi cần phải cực kỳ hoàn hảo và sáng chói để có được sự công nhận của khán giả. Nếu chỉ một người trong đám khán giả kia không công nhận, tôi sẽ buồn lắm. Nếu có một người rời khỏi khán phòng sớm, nếu ai đó ngủ gật, nếu ai đó chẳng quan tâm đến những gì tôi đang nói…tôi đã bị đánh bại!

Sau đó, tôi trở nên hiểu được mục đích gây ra stress này, tôi đã có thể nhìn vào nó một cách trung thực và nhận ra nó ngu ngốc đến thế nào. Có bao nhiêu diễn giả có được 100% sự công nhận từ khán giả của họ? Câu trả lời là số 0.

Chắc chắn là trong một nhóm lớn,, sẽ luôn có những quan điểm, đánh giá và phản ứng khác nhau. Có người tích cực, có người tiêu cực. Hãy nhớ là, điều quan trọng của nói chuyện trước công chúng là đem đến cho khán giả của bạn cái gì đó có giá trị. Cho chứ không phải Nhận. Mục đích của nói chuyện trước đám đông không phải là để nhận điều gì đó (sự công nhận, danh tiếng, tôn trọng, doanh số, khách hàng vv…) từ khán giả mà đó là đem đến điều gì đó hữu ích cho khán giả.

Tất nhiên nếu bạn làm tốt thì bạn sẽ có sự nổi tiếng, tôn trọng, doanh số và khách hàng mới. Nhưng đừng để đó là mục đích của bạn. Thể hiện mình, cho mình đi thì hầu như chẳng bao giờ gây stress và lo lắng. Khi tôi nói chuyện trước một nhóm người, tôi tưởng tượng mình đang đưa cho họ 1,000$. Tôi cố gắng đem đến cho họ ít nhất là bằng giá trị đó. Nếu một vài cá nhân trong nhóm “từ chối” món quà này, tôi cũng chẳng lấy đó làm ngạc nhiên.

Nguyên tắc 5: Cách tốt nhất để thành công là không coi mình là diễn giả

Nhiều người trong số chúng ta đã làm méo mó và nói quá về những gì các nhà diễn giả trước công chúng làm. Họ thường giả định rằng để thành công thì chúng ta phải cố gắng rất nhiều để đưa ra những tố chất tuyệt vời nào đó mà chúng ta thiếu. Vì thế mà chúng ta lại học bằng cách bắt chước những diễn giả nổi tiếng. Trong khi sự thật là phần lớn những diễn giả nổi tiếng thành công là nhờ làm ngược lại. Họ không cố gắng trở thành một ai đó khác. Họ chỉ cố gắng thể hiện chính mình trước đám đông.

Khi bạn đã trở nên giỏi trong việc thể hiện mình trước những người khác, bạn thậm chí có thể đứng trước một nhóm người mà không có ý tưởng cụ thể bạn sẽ nêu ra 2, 3 điểm như thế nào. Trong nhiều trường hợp, tôi nói những điều mà trước đây chưa từng nói bao giờ. Chúng cứ tự nhiên xuất hiện một cách bất ngờ khi tôi hòa mình với khán giả. Và bạn biết không? Mọi người thường đến gặp tôi sau đó và nói “Bạn thật tuyệt, tôi ước giá như tôi có can đảm để nói trước đám đông như bạn”. Đó thực sự là một cách nghĩ sai. Đừng cố gắng đưa ra những bài nói theo cách mà tôi làm, hoặc cách mà ai đó làm. Hãy đi tới đó với một chút kiến thức và vài ý chính, và hãy là chính bạn.

Nguyên tắc 6: Sự khiêm tốn và hài hước có thể giúp bạn tiến xa

Khi bạn đã có được phong cách nói chuyện của riêng mình thì có một số kĩ thuật có thể giúp bài nói của bạn hay hơn, đó là sự khiêm tốn và hài hước.

Hài hước giúp bạn thấy thoải mái, và nếu như nó phù hợp với hoàn cảnh của bạn lúc nói, đừng chần chừ gì nữa.

Với sự khiêm tốn, bạn không nên ngần ngại nói ra những điểm yếu của mình, những sai lầm. Chúng ta ai cũng có điểm yếu, và khi bạn đứng trước mọi người và không lo sợ phải thừa nhận những điểm yếu của bạn, bạn tạo ra một không khí an toàn, tình cảm nơi mà mọi người có thể thừa những những yếu điểm của họ.

Khiêm tốn giúp bạn trở nên đáng tin hơn, và được tôn trọng hơn. Cả khiêm tốn lẫn hài hước có thể đi cùng nhau rất hiệu quả. Ví dụ nếu bạn thấy lo lắng khi đứng trước một đám đông, hoặc nếu như bạn thấy lo lắng giữa bài nói, bạn đừng che giấu điều này với khán giả của mình. Hãy thật và khiêm tốn bằng cách thừa nhận nỗi sợ hãi của bạn một cách công khai và trung thực.

Nguyên tắc 7: Khi bạn nói chuyện trước công chúng, không có gì tồi tệ có thể xảy ra

Một điều gây ra nỗi sợ hãi khi nói chuyện trước công chúng là mọi người thường lo lắng điều gì đó khủng khiếp sẽ xảy ra với họ như là trạng thái hồi hộp, quên một điểm nào đó, bị khán giả ghét vv…Tất nhiên, những điều này sẽ là đáng xấu hổ nếu chúng xảy ra. Nhưng trong thực tế phần lớn chúng không xảy ra.

Thậm chí nếu chúng xảy ra thì cần có một chiến lược để biến chúng trở nên hoàn hảo.

Tôi phát hiện ra rằng phần lớn những thứ “tiêu cực” khi tôi nói có thể kiểm soát được bằng cách giữ chúng trở thành nhưng nguyên tắc thật đơn giản, nhưng hiệu quả: mọi thứ xảy ra có thể được sử dụng là điểm lợi thế của tôi.

Ví dụ khi tôi đang nói thì một số người bỏ về. Tôi có thể hỏi họ lí do vì sao họ lại đi? Có điều gì trong cách tôi truyền đạt, hay nội dung khiến họ thấy bị xúc phạm chăng? Nếu như họ thậm chí không đưa ra câu trả lời, tôi cũng có cách để tận dụng điều này. Ví dụ, tôi có thể dùng nó như là lời mở đầu cho bài giới thiệu tiếp theo “Các bạn biết đấy, tôi đã nói về bài này ngày hôm trước và mọi người trong phòng đi ra trong vòng 10 phút đầu. Đó là thành tích hiện tại của tôi, cho nên tôi nghĩ là chúng ta cần phải xem điều gì sẽ xảy ra ngày hôm nay”.

Nguyên tắc 8: Bạn không phải kiểm soát thái độ của khán giả

Mà ngược lại, điều bạn cần kiểm soát đó là suy nghĩ của bạn, sự chuẩn bị, các thiết bị hỗ trợ nghe nhìn, căn phòng được bài trí thế nào. Hãy đừng để ý nếu như khán giả của bạn có ngồi đọc báo và tỏ ra không chú ý đến bài nói của bạn. Suy nghĩ cần phải thay đổi hoặc kiểm soát những người khác là nguyên nhân tiềm ẩn của stress trong mọi mặt của cuộc sống. Nó không chỉ đúng trong một nhóm mà còn đúng cho bạn bè, vợ chồng, con cái và những người quen của bạn.

Nguyên tắc 9: Nói chung, bạn càng chuẩn bị nhiều thì bạn làm càng tệ

Chuẩn bị kĩ là rất tốt khi xuất hiện trước đám đông. Tuy vậy, bạn chuẩn bị thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho nó là chuyện hoàn toàn khác. Điều quan trọng là nếu bạn hiểu rõ vấn đề mình định nói hoặc đã nói nhiều lần trước đó rồi, thì bạn chỉ cần vài phút để chuẩn bị thôi. Việc chuẩn bị quá kĩ lưỡng thường có nghĩa là bạn không hiểu rõ vấn đề hoặc nếu bạn hiểu rõ vấn đề, nhưng bạn lại không cảm thấy tự tin về khả năng nói ra trước đám đông. Đối với trường hợp đầu, bạn cần phải nghiên cứu thêm. Đối với trường hợp thứ hai, bạn cần phát triển niềm tin vào khả năng nói thành công của bản thân. Bạn có thể rèn luyện bằng cách tận dụng mọi cơ hội để nói trước một nhóm người nào đó.

Nguyên tắc 10: Khán giả của bạn thực sự muốn bạn thành công

Thực tế là nhiều người cũng có nỗi sợ hãi nói trước công chúng nên họ rất hiểu hoàn cảnh của bạn. Họ sẽ sẵn sàng tha thứ cho bạn nếu như bạn có mắc lỗi. Và họ ngưỡng mộ sự dũng cảm của bạn, họ sẽ luôn ủng hộ bạn dù có điều gì xảy ra đi nữa. Đôi khi một lỗi xảy ra bạn nghĩ rằng nó lớn nhưng khán giả không đánh giá như vậy. Vì thế hãy luôn nhắc nhở mình điều này khi bạn nghĩ là bạn đã làm rất tệ.

~ Hoàng Khánh Hòa, lược dịch

Theo How To Conquer Public Speaking Fear, Morton C. Orman

Ấn hành kinh sách

Tetsugen, một người sùng mộ Thiền ở Nhật, quyết định sẽ ấn hành kinh sách, vào thời kinh sách chỉ có bằng tiếng Hán. Sách phải in với những khối khắc gỗ, bảy ngàn bản in một lần, tốn rất nhiều công sức.

Tetsugen bắt đầu đi khắp nơi và quyên góp tiền bạc. Vài người ủng hộ cho vài trăm đồng vàng, nhưng thường thì Tetsugen chỉ nhận được vài xu lẻ. Ông cám ơn mỗi người bố thí với lòng tri ân như nhau. Sau mười năm Tetsugen đã có đủ tiền để bắt đầu in.

Nhưng vào lúc đó Sông Uji gây lụt lội. Nạn đói theo sau. Tetsugen dùng tiền đã quyên góp cho sách để giúp mọi người khỏi chết đói. Rồi ông lại bắt đầu quyên góp tiền.

Bảy năm sau một trận dịch lan khắp nước. Tetsugen lại dùng tiền quyên góp, để giúp mọi người.

Ông lại quyên góp tiền lần thứ ba, và sau 20 năm ước mơ của ông thành hiện thực. Những khối gỗ khắc in những bản kinh đầu tiên ngày nay còn trưng bày trong tu viện Obaku ở Kyoto.

Người Nhật dạy con cái họ là Tetsugen in ba bộ kinh, và hai bộ đầu vô hình vượt trội hơn cả bộ cuối cùng.
.

Bình

• Tetsugen cám ơn người cho trăm đồng vàng và người cho vài xu lẻ “vói lòng tri ân như nhau.”

• In kinh sách không quan trọng bằng cứu người.

• Sách in sớm hay muộn cũng không chết chóc ai, người đói người bệnh mà không cứu ngay thì chết. Thời tính ấn định ưu tiên lúc này.

• Việc gì cần phải làm thì làm, đừng nhắm mắt mù quáng theo đúng “kế hoạch”. “Kế hoạch được sinh ra để được điều chỉnh.” (Plan is made to be changed).

• 37 năm để hoàn thành tâm nguyện in một bộ kinh. Nhẫn.

Trần Đình Hoành dịch và bình

.

Publishing the Sutras

Tetsugen, a devotee of Zen in Japan, decided to publish the sutras, which at that time were available only in Chinese. The books were to be printed with wood blocks in an edition of seven thousand copies, a tremendous undertaking.

Tetsugen began by traveling and collecting donations for this purpose. A few sympathizers would give him a hundred pieces of gold, but most of the time he received only small coins. He thanked each donor with equal gratitude. After ten years Tetsugen had enough money to begin his task.

It happened that at that time the Uji River overflowed. Famine followed. Tetsugen took the funds he had collected for the books and spent them to save others from starvation. Then he began again his work of collecting.

Several years afterwards an epidemic spread over the country. Tetsugen again gave away what he had collected, to help his people.

For a third time he started his work, and after twenty years his wish was fulfilled. The printing blocks which produced the first edition of sutras can be seen today in the Obaku monastery in Kyoto.

The Japanese tell their children that Tetsugen made three sets of sutras, and that the first two invisible sets surpass even the last.

# 37