Năm 2011, hai tác giả Cà Văn Chung và Trần Vân Hạc đã giúp một sinh viên của Đại học Văn hóa làm khóa luận tốt nghiệp: “Một số làn điệu “khắp” phổ biến của người Thái đen ở huyện Mường La” – Sơn La. Khóa luận này đã đạt 9,9 điểm. Hai tác giả Cà Văn Chung và Trần Vân Hạc trích giới thiệu một phần nói về những đặc trưng cơ bản của thơ Thái, với mong muốn giúp bạn đọc hiểu thêm về thơ Thái và nên dịch sang ngôn ngữ phổ thông như thế nào để gần với nguyên tác nhất cả về nội dung và nghệ thuật:
Kho tàng truyện thơ Thái, Việt Nam vô cùng phong phú cả về nội dung và nghệ thuật. Nhiều tác phẩm đã được dịch ra ngôn ngữ phổ thông và được giảng dạy trong nhà trường, đặc biệt thiên truyện thơ: “Xống chụ xon xao” – Tiễn dặn người yêu. Thơ Thái rất phong phú về cả nội dung và nghệ thuật, song khi dịch sang ngôn ngữ phổ thông, mỗi dịch giả lại thể hiện với những hình thức khác nhau: văn xuôi, thơ tự do, thơ song thất lục bát… Vậy thơ Thái có những đặc trưng cơ bản như thế nào và nên dịch như thế nào để đảm bảo được nội dung và nghệ thuật đặc trưng của thơ Thái?
Continue reading Thơ Thái Việt Nam và việc dịch sang ngôn ngữ phổ thông
HẠNH PHÚC
Gửi Ức Trai
Sau những ngày bôn ba du ngoạn Tây Bắc và dự trại sáng tác ở Mộc Châu về. Hà Nội oi nồng nắng nóng nên đành giam mình trong nhà làm bạn với cái máy tính không bao giờ biết kêu ca đòi hỏi, thì bất ngờ nhận được lời bình của nhà thơ Hoàng Xuân Họa về tập thơ: “Mục xó xỉnh cười” của Du Nguyên, XNB Hội Nhà văn-2011.Thơ Du Nguyên đã mới, đã “điêu ngoa”, đã lạ lại được “chàng trai” Hoàng Xuân Họa, sinh năm 1939 với hai lần “Trót một thời yêu” và viết cuốn dạy cách làm thơ bình thì còn gì bằng nữa. Một người “điêu ngoa” trẻ trung gặp một người “điêu toa” thâm trầm, uyên bác. Đúng là một cặp bài trùng trời sinh giữa biển thơ thời mở cửa!Những cái Du Nguyên viết có phải là thơ không nhỉ? Mới đọc vài dòng thì thật không thể nhịn cười rồi lặng đi trong suy ngẫm. Cấu tứ lạ, ngôn từ lạ, tràn ngập âm thanh và hình ảnh lạ, cách thể hiện lạ nhưng đằng sau những con chữ “điêu ngoa” lạ kia là cảm quan của người viết trước bộn bề cuộc sống, trước lòng người và nhân tình thế thái một cách tinh tế và sâu sắc. Cái cách thể hiện độc đáo, đôi khi mang âm hưởng dân gian tạo một ấn tượng khó phai đến mức ám ảnh khi đã hiểu và cảm. Ô! Thế là thơ chứ còn gì nữa, thơ đích thực ấy chứ, mà cái thú là thơ Du Nguyên không hề giống ai, không như bây giờ đọc thơ cứ phải nhấc mũ chào liên tục, hoặc “mới” và ” “hiện đại” đến mức người đọc không hiểu họ viết cái gì!
Nếu được sống trăm lần
Nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy gửi bài thơ này cho tôi với một lời chú thích: “Đây là bài hóa giải mọi oan ức hận thù của anh, bài này anh mơ viết bao năm nay bây giờ mới viết được.” (Thư điện tử)
Thời gian vừa qua, những bài thơ của NNB tựa một sự tổng kết, chiêm nghiệm những gì đã trải qua trên đường đời- như chùm thơ về Mẹ, và mới đây nhất là về Tình nghĩa trăm năm gói trong chùm “Lời chim câu”. Quen biết anh từ khi tôi còn ở tuổi thanh xuân, thuộc không ít thơ anh qua nhiều giai đoạn, song cứ mỗi lần tiếp nhận một bài thơ mới của anh, tôi đều thấy ngỡ ngàng bởi sự say mê không mệt mỏi của anh trong việc khám phá thế giới bản thân mình bằng thơ ca. Nhưng dường như, đối với người thi sĩ có phần lạ lùng bí hiểm này, Nghệ thuật chữ nghĩa càng ngày càng trở nên chỉ là thứ phương tiện sau rốt. Anh tối giản câu chữ bóng bẩy, phép tu từ, mỗi câu thơ chỉ giống như lời nói thô mộc hàng ngày, hoặc chắc nịch như tục ngữ, ngọt sắc như ca dao, thậm chí đưa cả lời chú thích nặng thông tin vào cấu trúc thơ, thế nhưng, hiệu quả thơ thực bất ngờ khiến người đọc không thể chỉ đọc một lần câu thơ, khổ thơ, bài thơ ấy, kích thích họ bằng chính trải nghiệm của mình để khám phá thêm ý nghĩa và sự lý thú của chúng… Đằng sau những câu thơ, hình tượng thơ đó là toàn bộ cuộc sống đầy trăn trở ngẫm ngợi, chất chứa niềm thương yêu của người viết, và chứa đựng một nội hàm văn hóa sâu xa.
Nguyễn Nguyên Bảy là người làm thơ cùng thời với tôi,với Lưu Quang Vũ,Vũ Quần Phương,Trúc Thông…tức là cùng lứa những nhà thơ khói lửa chống Mỹ.Nhưng anh đã rẽ sang một lối khác sau khi xuất hiện khá ấn tượng trên báo chí và phát thanh (anh làm việc ngành phát thanh).Chúng tôi nghĩ là anh đã bỏ thơ chạy theo một tình yêu khác. Nhưng sau bốn chục năm,Nguyễn Nguyên Bảy đã quay trở lại với thơ,kỳ lạ,sang trọng và làm choáng tất cả với tập thơ Nguyễn Nguyên Bảy đồ sộ 500 trang mà tôi và các bạn đang cầm trong tay, có trước mặt lúc này.
Lời phi lộ chương đầu tôi tỏ ra là một người khinh miệt chủ nghĩa kinh nghiệm, nhưng qua 13 chương đò đưa thơ này, tôi đã tỏ ra là một người kinh nghiệm chủ nghĩa. Đó là một hư xấu, một giả dối. Độc giả (nếu đọc nó) hãy coi đây là một tự đánh giá, hay là một tâm sự mà cảm thông cho; vì tất nhiên đối với bất kỳ người cầm bút nào cũng cần đánh giá từng giai đoạn để thấy hiện tại và tương lai, để xét minh trên phương diện người làm thơ, nên hay không nên tiếp tục công việc của mình.
Việc tu vần đã khiến cho những câu thơ viết ra đạt được những tiêu chuẩn nhất thiết phải có của nó, về tính họa trong thơ, tính nhạc trong thơ, tính tư tưởng trong thơ…

Tình trạng thơ không có tứ hiện rất phổ biến và nhiều người mắc phải. Những bài thơ này thường kể lể dài dòng, miên man, vấn đề tung ra vung vãi, hình ảnh và hình tượng chạy xa chủ đề. Nói tóm lại là người đọc chẳng hiểu nhà thơ định nói gì…
Góp thêm một cách hiểu câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử