Category Archives: Video & PPS

Đừng đứng trước mộ tôi và than khóc

cemetery
Do not stand at my grave and weep, là bài thơ của Mary Frye. Năm 2001, tiểu thuyết gia kiêm nhà soạn nhạc người Nhật, Arai Mitsuru, đã dịch sang tiếng Nhật, và phổ nhạc cho bài thơ này. Lúc đầu, ông chỉ phát hành 30 dĩa đơn để tặng cho bạn bè thân quen. Ngày 28/8/2003 bài hát tiếng Nhật này được đăng trên báo Asahi và bắt đầu gây được tiếng vang. Năm 2005, bài hát này được biểu diễn trong buổi hòa nhạc từ thiện, kỷ niệm 10 năm trận động đất thế kỷ ở Hanshin – Osaka. Năm 2006, ca sĩ Akikawa Masafumi xuất bản đĩa đơn bài hát này và gây được sự chú ý đặc biệt trên toàn nước Nhật. Ngày 22/1/2007, bài hát này đứng đầu trong bảng xếp hạng đĩa đơn hay nhất trong lịch sử nhạc cổ điển ở Nhật. Ngay khi giành được vị trí đầu bảng, tuần đầu tiên đã bán được 29,094 đĩa, tuần thứ hai (29/1/2007), 89,994 đĩa và tuần tiếp theo (5/2/2007), 101,532 đĩa.

Sau phần dịch tiếng việt của chị Loan Subaru, là lời nguyên thủy tiếng Anh, và link đến video bài hát do Akikawa Masafumi trình bày.

Mến,

Hoành

.
Đừng đứng trước mộ tôi và than khóc

Đừng đứng trước mộ tôi và than khóc;
Tôi không ở đó. Tôi không ngủ.
Tôi là ngàn cơn gió thổi qua.
Tôi là kim cương lấp lánh trên tuyết.
Tôi là nắng ánh trên cánh đồng lúa chín.
Tôi là cơn mưa thu dịu dàng.

Khi bạn thức giấc trong sớm mai tĩnh lặng,
Tôi là nét vút cao rất nhanh
Của bầy chim lặng lẽ lượn vòng
Tôi là ánh sao đêm dịu dàng.

Đừng đứng trước mộ tôi và than khóc;
Tôi không ở đó. Tôi không chết.

Loan Subaru dịch

.

Do not stand at my grave and weep

Do not stand at my grave and weep;
I am not there. I do not sleep.
I am a thousand winds that blow.
I am the diamond glints on snow.
I am the sunlight on ripened grain.
I am the gentle autumn rain.

When you awaken in the morning’s hush
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circled flight.
I am the soft stars that shine at night.

Do not stand at my grave and cry;
I am not there. I did not die.

Mary Frye
.

Triều đình Việt Nam thế kỷ 19

Đây là một số hình ảnh lịch sử về triều đình và quan chức Việt Nam, chụp dưới thời Pháp thuộc, khoảng cuối thế kỷ 19. Anh Trần Đình Hoành và chị Trần Lê Túy-Phượng soạn thành PPS file, ghi chú do anh Hoành dịch từ các ghi chú Pháp ngữ trên các ảnh (chỗ nào còn đọc được), nhạc: Liên khúc các điệu lý Huế.

Click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download.

Cần file dùng cho Power Point 97-2003, click ảnh dưới đây.

Đền nổi Itsukushima

 

Đền nổi Itsukushima
Đền nổi Itsukushima

Đền Itsukushima (tên tiếng Nhật: 厳島神社) là ngôi đền Thần Giáo, nằm trên đảo Itsukushima (Miyajima) ở thành phố Hatsukaichi, tỉnh Hiroshima. Thực ra ở Nhật Bản có tới 500 ngôi đền mang tên Itsukushima, nhưng đền nói trên là ngôi đền chính. Năm 1996, đền này được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Trong đền có nhiều kiến trúc và công trình nghệ thuật được Nhật Bản xếp vào hạng quốc bảo, tài sản văn hóa quan trọng, tài sản vật thể được xếp hạng, v.v…

Đền Itsukushima được xây dựng để thờ phụng ba vị thần biển: thần Ichikishima, thần Tagori và thần Tagitsu, được tin là đang ngự bên trong ngôi chính điện của đền. Ngôi đền đầu tiên được xây dựng vào thế kỷ thứ 6 (năm 593) và đã bị tàn phá nhiều lần. Kiến trúc hiện tại của ngôi đền có từ năm 1168. Năm 1871, đền này được xếp vào hàng đền miếu cấp quốc gia. Năm 1911 lại được thăng hạng thành đền miếu hoàng gia.

Cổng đền khi thủy triều lên
Cổng đền khi thủy triều lên

Một trong những điểm hấp dẫn nhất của đền nổi Itsukushima là chiếc cổng tuyệt đệp O-torri, đứng sừng sững trên mặt biển, hướng thẳng tới đền thờ Itsukushima và cũng là biểu tượng của đảo Miyajima. Chiếc cổng O-torii hiện tại là chiếc được xây dựng năm 1875, lần xây dựng thứ tám tính từ thời Heian (794-1192). Cổng cao 16 mét trên mặt biển, bộ mái dài 24 mét, và những cây cột chính, làm từ những cây gỗ nguyên, có đường kính 1 mét. Cổng O-torii tự đứng vững bằng kết cấu khung của mình, không hề có bộ phận nào chôn dưới mặt đất. Khi thủy triều lên, cổng Torrii bập bền trên biển, khi thủy triều xuống, cổng được bị bùn bao phủ và mọi người có thể đi vào đền mà không cần tàu, thuyền.

Theo ý nghĩa nguyên thủy, torii là cái giàn cho gà đậu. Nó được đặt trước các đền chùa để ghi nhớ truyền thuyết Thần đạo về Thái Dương Thần nữ – Amaterasu. Thần Amaterasu tức giận em trai mình là thần Bão. Do đó, thần lánh vào Thiên Nham động (Amano Iwato), không thèm soi sáng mặt đất nữa, làm cho tám vạn thần linh cũng điêu đứng. Thần Tư Tưởng Omoikane bèn nghĩ ra một kế. Thần dựng trước cửa hang một giàn cho gà đậu và để một con gà trống vào đó, bên cạnh gắn một tấm gương tròn. Khi gà trống cất tiếng gáy, theo thói quen, Amaterasu thức dậy. Nhìn ra ngòai nàng thấy trong chiếc gương tròn hình bóng mình, song lại tưởng đó là một mỹ nhân xa lạ. Điều ấy khơi gợi tính tò mò của phái nữ nên thần bèn ra khỏi hang để xem ai là kẻ dám cả gan cạnh tranh sắc đẹp với mình. Ngay lập tức cả thế gian lại được chiếu sáng và cuộc sống trở lại rộn ràng. 

Cổng đền khi thủy triều xuống
Cổng đền khi thủy triều xuống

Đền nổi Itsukushima là một trong những ví dụ khác thường nhất về kiến trúc tôn giáo trên thế giới. Tòan bộ quần thể bao gồm ngôi đền chính, nhiều đền thờ nhỏ khác bố trí bao quanh, một sân khấu kịch Noh, một phòng tấu nhạc và nhiều cây cầu cùng hành lang nối liền các khu vực khác nhau trong đền. Tổng chiều dài các hành lang lên đến 300 mét. Xây dựng trên bãi đất ven biển và dập dềnh trên mặt biển khi triều lên. Công trình hoàn toàn không sử dụng một chiếc đinh kim lọai nào trong khi xây dựng và những kẻ hở giữa các tấm sàn được tính tóan khéo léo sao cho có thể giảm bớt áp lực của triều cường khi có bão lớn. Một vài tấm gỗ cổ được dùng để làm ván sàn có kích thước tới 1,5 mét rộng và trên 10 mét dài, và những tấm gỗ khổng lồ này đã được vận chuyển vượt hàng trăm dặm từ miền Bắc Nhật Bản để tới Miyajima. Một trong những cây cầu nổi tiếng dẫn tới đền thờ là cầu Soribashi – Cầu Đại diện Hòang gia. Được xây năm 1557, cầu dành riêng cho những đại thần quý tộc đại diện cho Thiên hòang tới viếng đền. Chỉ vào những dịp đó, các bậc thang mới được lắp vào. Ngoài ra, cầu và lối vào đền không bao giờ được sử dụng.

Loan Subaru

Đến đây cùng uống

almartino1
Come share the wine là môt trong những bản nhạc nổi tiếng của Al Martino, ca sĩ người Mỹ gốc Ý, nổi tiếng thế giới với rất nhiều nhạc phẩm lừng danh, kể cả các nhạc phẩm hát trong vai ca sĩ Johnny Fontane trong bộ phim Godfather.

Bản Đến đây cùng uống (Come share the wine) nói đến tâm sự của những kẻ xa nhà. Bản này mình dịch lời ra tiếng Việt và nối link ở đây để tặng các bạn sinh viên học sinh xa nhà, nhất là các du học sinh và nghiên cứu sinh ở nước ngoài, thật là rất XA nhà, và đặc biệt cho Đọt Chuối Non admin Nguyễn Minh Hiển, ở Connecticut, rất xa Hà Nội. Nếu các bạn có ứa lệ khi nghe, thì nhớ rằng mình có thể hiểu được từng giọt lệ của các bạn, vì chính mình đã như thế không biết bao nhiêu năm, và thỉnh thoảng ngay cả bây giờ.

Sau phần lời Việt là lời Anh, và video Al Martino hát.

Chúc các bạn một ngày vui !

Hoành

.

Đến đây cùng uống

Đường tối và trời đêm lạnh, nhưng tôi bước một mình
Ánh sáng tôi thấy từ một nơi ấm cúng, đèn lồng đỏ sáng
Ai đó gọi, “Đừng đợi ngoài đó, vào đây với nhau.”

Bên trong mọi người đang hát những bài ca tôi biết thời còn trẻ
Và từ máy đĩa tôi nghe một âm hưởng cần tưởng nhớ.
Tôi hát theo từng bài, tôi biết tất cả mọi bài.

Đến đây cùng uống
Chẳng có ai lạ ở đây, họ là bạn của bạn và của tôi
Mọi người là anh em của bạn, chúng ta rất ra nhà.
Và ta cần nhau, đừng sợ, bạn được chào đón nơi đây.

Đến đây cùng uống
Rất tốt và ấm trong này, chúng tôi rất vui và hiền
Chúng tôi có thể hiểu bạn rất xa nhà
Và chúng ta có nhau, đừng sợ, bạn sẽ thích nơi đây.

Khó mà cảm tưởng được như ở nhà khi nhà rất xa
Khi mọi nhớ nhung và mọi ước muốn là của ngày qua
Các bạn đã cho tôi chút bình an trong tâm này, tôi muốn ở lại đây

Thế giới hình như lạnh hơn khi bạn là người lạ từ miền đất lạ
Bạn cần cảm giác có người quan tâm và hiểu mình
Nước mắt sẽ tan mau nếu ta nắm tay nhau

Đến đây cùng uống
Không ai lạ ở đây, họ là bạn của bạn và của tôi
Mọi người là anh em của bạn, chúng ta rất xa nhà
Và ta cần nhau, đừng sợ, bạn được chào đón nơi đây.

Đến đây cùng uống
Chỗ này rất tốt và ấm, chúng tôi rất vui và hiền
Chúng tôi có thể hiểu là bạn rất xa nhà
Nhưng ta có nhau, đừng sợ, bạn sẽ thích nơi đây.

Trần Đình Hoành dịch

.

Come Share The Wine

The street were dark and the night was cold and yet I walk alone
I saw the lights of a cosy place with lanterns all aglow
Somebody cried, “Don’t wait outside, come say, hello”

The people there, they were singing songs I knew when I was young
And from the jukebox I heard a sound I needed to recall.
I sang along with every song, I knew them all.

Come share the wine
No one is a stranger here, they’re your friends and mine
Everyone’s your brother, we’re a long way from home
And we need each other, have no fear, you’re welcome here.

Come share the wine
It’s so nice and warm in here, we’re happy and kind
We can understand that you’re a long way from home
And we have each other, have no fear, you’ll like it here.

It is not so easy to feel at home when home’s so far away
When all the longing and all the wanting is for yesterday
You’ve made me find some peace of mind I’d like to stay

The world seems colder when you’re a stranger from a foreign land
You need to feel that someone cares and that they understand
Many a tear would disappear if we joined hands

Come share the wine
No one is a stranger here, they’re your friends and mine
Everyone’s your brother, we’re a long way from home
And we need each other, have no fear, you’re welcome here.

Come share the wine
It’s so nice and warm in here, we’re happy and kind
We can understand that you’re a long way from home
But we have each other, have no fear, you’ll like it here.

Al Martino
.

Smile (mỉm cười)

“Smile” là bản nhạc chính trong phim câm “Mordern Times,” năm 1936, cuốn phim câm cuối cùng của Charlie Chaplin (Sạc-lô), do chính ông viết nhạc. Đến năm 1954, John Turner và Geoffrey Parsons viết lời cho bản nhạc, và bản nhạc có tên chính thức là “Smile.” Nat “King” Cole, bố của Natilie Cole, thu đĩa bản Smile và bản nhạc lập tức nổi tiếng. Smile nhắc nhở chúng ta ý nghĩa của nụ cười trong đời mỗi người, trong mỗi phút giây, ngay cả khi cuộc đời châm chích, ngay cả khi phiền muộn… Khó khăn, nhưng ta vẫn có thể cố … cười.

Chị Loan Subaru giới thiệu link này.
.

Dùng siêu diều để thu năng lượng của gió

Saul Griffith là guru và nhà đầu tư trong các dự án thương mại có tính cách cách mạng về năng lượng. Làm thế nào để có năng lượng sạch (để giảm sự tặng nhiệt của quả đất)? Video này thuần túy bằng tiếng Anh. Tuy nhiên bạn có thể hiểu được khái niệm dùng diều để thu năng lượng của gió–hiệu năng cao hơn chong chóng rất nhiều, vì gió trên cao mạnh hơn gió ngay trên mặt đất. Nhờ các bạn giới thiệu video này đến các chuyên gia năng lượng.

.

Việt Nam 1884-1885

Năm 1884, Ông Charles-Edouard Hocquard theo đoàn lính viễn chinh Pháp tới xâm chiếm Việt Nam với tính cách là bác sĩ quân y, nhưng ông cũng là một nhà nhiếp ảnh đại tài. Những tấm hình ông chụp ở Việt Nam lúc đó, hiện nay có một giá trị lịch sử rất lớn. Ðó là lúc mà Pháp sắp sửa chiếm hết Việt Nam và đây cũng là những hình ảnh duy nhất còn sót lại mà chúng ta thấy được những thành trì khi xưa. Những tấm hình này được xuất bản bởi Trung Tâm Tồn Trữ Dữ Liệu Thuộc Ðịa ở Aix-en-Provence.

Soạn thảo PPS: Trần Đình Hoành và Trần Lê Túy-Phượng
Nhạc: Nhã nhạc cung đình, điệu Phụng Vũ, độc tấu sáo.

Click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download (Power Point 2007).


.

Muốn bản dùng được với Power Point 97-2003, xin download với link dưới đây.

Borobudur – Indonesia

borobudur1

Borobudur là một ngôi đền tháp Phật giáo lớn ở miền trung đảo Java, Indonesia. Ngôi đền tháp này được xây dựng dưới vương triều Sailendra sùng đạo Phật (thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ thứ 9). Ngôi đền này nằm trên đỉnh một quả đồi, giữa vùng đồng bằng phì nhiêu, phía sau là một dãy núi màu lam, làm nổi bật lên ngôi đền.

Borobudur mang ý nghĩa là “Ngọn núi hình thành từ những ưu điểm của Bồ Tát”. Đền tháp Borobudur, xây dựng trên lưng chừng quả đồi, cách chân đồi 15,5 m, bao gồm 12 tầng to, nhỏ, vuông, tròn xen kẽ, kế tiếp nhau. Toàn bộ ngôi đền cao 42 m. Chiều dài mỗi mặt ở chân đền là 123 m. Nhưng nếu đi hết các bậc thang, các hành lang của 12 tầng để lên đến đỉnh tháp thì phải đến 5 km.

Tầng thứ nhất (từ chân đồi lên) hình vuông, mỗi cạnh hướng về một phương rõ rệt. Giữa mỗi cạnh có một khoảng trống rộng 7,38 m, có hai con sư tử bằng đá chầu hai bên, hình thù khá đồ sộ, miệng chúng khá rộng, lông bờm ở lưng, cổ, ngực dựng lên trông rất dữ tợn, đuôi uốn cong ngược về phía sau. Song, tám con sư tử ở bốn cạnh có con đã được đẽo gọt, chạm trổ hoàn chỉnh, có con còn đang dở dang.

Tầng thứ hai cách tầng thừ nhất 1,52 m, không xây theo dạng hình vuông như ở tầng thứ nhất, mà là hình đa giác 20 cạnh, gần như bao quanh lấy sườn đồi. Tuy nhiên, vẫn có bốn cạnh lớn hướng về bốn phương trời, giữa có bốn tầng cấp. Hai bên tầng cấp có hai lan can uốn cong rất duyên dáng. Cuối lan can là một đầu voi rất to, trong miệng ngoạm một con sư tử; còn đầu lan can kia, là một đàn sư tử, mõm mở rộng, lưng tựa vào tường.

borobudur-temple-292612-sw1Từ tầng thứ ba trở lên, lại có hình dạng vuông, riêng tầng ba trên cùng có dạng hình tròn. Trên mỗi tầng có xây dựng nhiều đền đài miếu mạo, cái lớn nhất ở giữa, hai bên là những cái bé hơn. Trên cùng của đền tháp là mái tròn hình chuông.

Tất cả các bậc thềm từ tầng một đến tầng chín đều được phủ kín những phù điêu, được chạm trổ rất công phu, mô tả về cuộc đời của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, các bồ tát và các anh hùng đã giác ngộ Phật pháp, về thiên đàng, về đia ngục…

Ba tầng của Borobudur đại diện cho ba phần trong vũ trụ theo quan niệm của Phật giáo. Tầng thấp nhất là nơi mà tinh thần con người bị xâu xé bởi lòng ham muốn. Tầng giữa: tinh thần con người đã thoát khỏi sự ham muốn nhưng chưa vượt ra khỏi thế giới vật chất. Tầng cao nhất: tinh thần con người dã được giải phóng khỏi những ham muốn trần thế. Vì thế, những tháp lớn ở chính giữa đại diện cho cõi niết bàn thì trống rỗng.

Suốt trong thế kỷ thứ 10 và 11, có một sự chuyển tiếp quyền lực từ miền Trung Java sang phía Ðông Java và các tháp này bị bỏ hoang. Sau nhiều thế kỷ chìm trong quên lãng, chúng bị chôn dưới lớp tro núi lửa và rừng bắt đầu phát triển. 

borobudur_monksVào năm 1814, những nhà thám hiểm người Anh do ngài Stamford Raffles dẫn đầu đã phát hiện những pho tượng bị vùi lấp trong các khu rừng trên đồi. Ðến năm 1900 một ủy ban được lập ra để bảo quản Borobudur. Vào năm 1907, ông Thadeus Van Erp – một kỹ sư Hà Lan – được chỉ định lãnh đạo công cuộc phục hồi, nhưng kinh phí hạn chế đã ngăn cản những nỗ lực của Van Erp. Vì thế, Borobudur vẫn ở trong tình trạng hoang phế cho tới năm 1973, UNESCO công nhận Borobudur là một di tích lịch sử thế giới và tài trợ kinh phí cho việc trùng tu Borobudur. Hằng năm, đây là nơi hành hương của Phật tử Indonesia trong dịp lễ Vesak.

Loan Subaru
.

Trên nhịp đập buổi sáng

rockrivertreepainting

On the Pulse of Morning, của Maya Angelou, được bà viết đặc biệt cho, và đọc trong, buổi lễ tuyên thệ nhậm chức tổng thống của Bill Clinton, ngày 20 tháng 1 năm 1993.

Sau bài tiếng Việt, do anh Trần Đình Hoành dịch, là phần tiếng Anh. Và sau đó là video Maya Angelou đọc bài thơ trong lễ nhậm chức.
.

Trên nhịp đập buổi sáng

    Maya Angelou

Đá, Sông, Cây
Quản gia cho những chủng loại đã từ lâu biến mất,
Đánh dấu khổng tượng.

Khủng long, để lại những mảnh vụn khô
Thuở tạm dừng ở đây
Trên nền hành tinh chúng ta,
Bất kỳ báo động lớn nào về ngày tận thế gấp gáp của chúng
Đều lạc mất trong ủ rủ của bụi đất và dòng niên đại

Nhưng hôm nay, Đá khóc gọi chúng ta, rất rõ, rất mạnh,
Đến đây, các bạn có thể đứng trên
Lưng tôi và đối diện định mệnh xa xôi,
Nhưng đừng tìm an trú trong cái bóng của tôi.

Tôi sẽ không cho các bạn chổ trốn nào dưới này cả.

Các bạn, được tạo ra chỉ một tí thấp hơn
Các thiên thần, đã lom khom quá lâu trong
Bóng tối trầy trụa,
Đã nằm quá lâu
Úp mặt trong u mê.

riverrock

Miệng các bạn trào những ngôn từ
Thiết bị cho chém giết.

Đá khóc gọi hôm nay, các bạn có thể đứng trên tôi,
Nhưng đừng giấu mặt.

Phía bên kia tường thành thế giới,
Một Dòng Sông hát bài ca đẹp,
Đến nghỉ ở đây bên cạnh tôi.

Mỗi bạn, một quốc gia bọc trong biên thùy,
Mảnh mai và được làm kiêu hãnh lạ lùng,
Nhưng vĩnh viễn đâm vào vòng vây hãm.

Những cuộc chiến cho lợi tức
Đã để lại những vòng đai hoang vu trên
Bãi bờ tôi, những dòng rác đổ nát trên ngực tôi.

Nhưng, hôm nay, tôi gọi các bạn đến bên cạnh dòng tôi,
Nếu các bạn sẽ không học chiến tranh nữa. Đến đây,

Trang phục hòa bình và tôi sẽ hát những bài ca
Tạo hóa đã cho tôi khi tôi và
Cây và Đá còn là một.

Trước khi chủ nghĩa nghi kỵ thành dấu ấn rực máu chạy giữa
Chân mày bạn và khi mà bạn còn biết là bạn vẫn
Chẳng biết gì.

Dòng Sông hát và hát mãi.

Thật mong muốn được trả lời
Dòng Sông ca hát và Đá khôn ngoan.

Cho nên người Á châu, người Nam Mỹ, người Do thái,
Người Phi châu và người Da đỏ, người Sioux,
Người Công giáo, người Hồi giáo, người Pháp, người Hy Lạp,
Người Ái-nhĩ-lan, người Thầy tế, người Linh mục, người Tộc trưởng,
Người Đồng tính, người Thẳng tính, người Thầy giảng,
Người Đặc quyền, người Không nhà, người Thầy giáo.
Họ nghe. Tất cả họ nghe
Lời nói của Cây.

rivertrees

Hôm nay, từ cây đầu đến cây cuối, mỗi cây
Nói với con người. Đến với tôi, ở đây bên cạnh Dòng Sông.

Hãy tự trồng bạn bên cạnh tôi, ở đây bên cạnh Dòng Sông.

Mỗi bạn, con cháu của một khách du hành
Quá vãng, đã được mua với một giá.

Các bạn, những người đã đặt tên cho tôi, các bạn
Pawnee, Apache, và Seneca, các bạn
Dân tộc Cherokee, những người đã an nghỉ với tôi, thuở đó
Bị ép chạy trên những bàn chân rướm máu, đã để tôi lại cho hành xử của
Những kẻ truy tầm khác—tham lợi đến tuyệt vọng,
Đói vàng.

Các bạn, Thổ Nhĩ Kỳ, Thụy Điển, Đức, Tô-cách-lan…
Các bạn Ashanti, Yoruba, Kru, bị mua,
Bán, trộm, đã đến trong ác mộng
Nguyện cầu cho một giấc mơ.

Ở đây, hãy mọc rễ bên cạnh tôi.

Tôi là Cây trồng bên Dòng Sông,
Không di chuyển.

Tôi, Đá, Tôi Sông, Tôi Cây
Tôi là của các bạn—Lối đi của các bạn đã được trả lệ phí.

Ngẩng mặt lên, bạn có một điều khẩn thiết xé thịt
Cho sáng hôm nay trong lành bừng lên cho bạn.

Lịch sử, dù với đớn đau nghiến xiết của nó,
Không thể đảo lại, và nếu đối diện nó
Với can đảm, không cần sống lại nó lần nữa.

riverrockcliff

Ngẩng mắt lên, trên
Ngày đang rạng cho bạn.

Mang tái sinh đến
Cho giấc mơ.

Các bà, các bé, các ông,
Hãy nắm nó vào lòng bàn tay của bạn.

Nhào nắn nó thành hình thù của
Cần thiết riêng tư nhất của bạn. Gọt dũa nó thành
Hình ảnh của con người công cộng nhất của bạn.

Nâng cao con tim
Mỗi giờ mới mang đến những cơ hội mới
Cho những khởi điểm mới.

Đừng ăn đời ở kiếp
Với sợ hãi, vĩnh viễn buộc ách
Với ngu đần.

Chân trời cúi rạp về phía trước,
Nhường chỗ cho bạn đặt những bước thay đổi mới.

Ở đây, trên nhịp đập của ngày tốt này
Bạn có thể có can đảm
Nhìn lên và nhìn ra ngoài, đến tôi,
Đá, Sông, Cây, tổ quốc.

Vua Midas cũng như người hành khất.

Bạn cũng như khổng tượng xưa.

Ở đây trên nhịp đập của ngày mới này
Bạn có thể khoan dung để nhìn lên và nhìn ra ngoài
Và nhìn vào đôi mắt của chị, vào
Khuôn mặt của anh, tổ quốc của bạn
Và nói giản dị
Rất giản dị
Với hy vọng
Chào buổi sáng.

Trần Đình Hoành dịch
© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

.

rocks
On the Pulse of Morning

A Rock, A River, A Tree
Hosts to species long since departed,
Marked the mastodon.

The dinosaur, who left dry tokens
Of their sojourn here
On our planet floor,
Any broad alarm of their hastening doom
Is lost in the gloom of dust and ages.

But today, the Rock cries out to us, clearly, forcefully,
Come, you may stand upon my
Back and face your distant destiny,
But seek no haven in my shadow.

I will give you no more hiding place down here.

You, created only a little lower than
The angels, have crouched too long in
The bruising darkness,
Have lain too long
Face down in ignorance.

Your mouths spilling words
Armed for slaughter.

The Rock cries out today, you may stand on me,
But do not hide your face.

Across the wall of the world,
A River sings a beautiful song,
Come rest here by my side.

Each of you a bordered country,
Delicate and strangely made proud,
Yet thrusting perpetually under siege.

Your armed struggles for profit
Have left collars of waste upon
My shore, currents of debris upon my breast.

Yet, today I call you to my riverside,
If you will study war no more. Come,
Clad in peace and I will sing the songs
The Creator gave to me when I and the
Tree and the stone were one.

Before cynicism was a bloody sear across your
Brow and when you yet knew you still
Knew nothing.

rock1

The River sings and sings on.

There is a true yearning to respond to
The singing River and the wise Rock.

So say the Asian, the Hispanic, the Jew
The African and Native American, the Sioux,
The Catholic, the Muslim, the French, the Greek
The Irish, the Rabbi, the Priest, the Sheikh,
The Gay, the Straight, the Preacher,
The privileged, the homeless, the Teacher.

They hear. They all hear
The speaking of the Tree.

Today, the first and last of every Tree
Speaks to humankind. Come to me, here beside the River.
Plant yourself beside me, here beside the River.

Each of you, descendant of some passed
On traveller, has been paid for.

You, who gave me my first name, you
Pawnee, Apache and Seneca, you
Cherokee Nation, who rested with me, then
Forced on bloody feet, left me to the employment of
Other seekers–desperate for gain,
Starving for gold.

You, the Turk, the Swede, the German, the Scot …
You the Ashanti, the Yoruba, the Kru, bought
Sold, stolen, arriving on a nightmare
Praying for a dream.

Here, root yourselves beside me.

I am the Tree planted by the River,
Which will not be moved.

I, the Rock, I the River, I the Tree
I am yours–your Passages have been paid.

Lift up your faces, you have a piercing need
For this bright morning dawning for you.

History, despite its wrenching pain,
Cannot be unlived, and if faced
With courage, need not be lived again.

Lift up your eyes upon
The day breaking for you.

rock
Give birth again
To the dream.

Women, children, men,
Take it into the palms of your hands.

Mold it into the shape of your most
Private need. Sculpt it into
The image of your most public self.

Lift up your hearts
Each new hour holds new chances
For new beginnings.

Do not be wedded forever
To fear, yoked eternally
To brutishness.

The horizon leans forward,
Offering you space to place new steps of change.

Here, on the pulse of this fine day
You may have the courage
To look up and out upon me, the
Rock, the River, the Tree, your country.

No less to Midas than the mendicant.

No less to you now than the mastodon then.

Here on the pulse of this new day
You may have the grace to look up and out
And into your sister’s eyes, into
Your brother’s face, your country
And say simply
Very simply
With hope
Good morning.

Inaugural Poem
Maya Angelou
20 January 1993

.

Lịch sử Giờ Trái Đất

Ngày 31 tháng 3 năm 2007, thành phố Sydney (Úc) tắt điện 1 giờ, như là một tuyên bố trách nhiệm về sự tăng nhiệt của trái đất. Đến 2008, Giờ Trái Đất trở thành hiện tượng quốc tế. Và bây giờ, 2009 …

.


.

Gần 3000 thành phố tham gia Giờ Trái Đất 2009

Giờ Trái Đất 2009 có thể thu hút 1 tỉ người tham dự
.

Lời kêu gọi của ông Vũ Hồng Khanh, phó chủ tịch UBND Hà Nội.

.

.
Mỹ Linh kêu gọi

.

Hình ảnh Giờ Trái Đất khắp thế giới

.

Party Giờ Trái Đất — Click vào đây để xem slideshow

.

5.500 ảnh đẹp Giờ Trái Đất. Click vào đây.

.

Sydney, Australia

Sydney trước và trong Giờ Trái Đất
Sydney trước và trong Giờ Trái Đất

.

Toronto, Canada

Toronto, Canada, trong và trước Giờ Trái Đất
Toronto, Canada, trong và trước Giờ Trái Đất

.

Canberra, Australia

Canberra trước Giờ Trái Đất

Canberra, Australia, trước và trong Giờ Trái Đất
Canberra, Australia, trước và trong Giờ Trái Đất

.

Khách sạn Chancellor ở San Francisco (Mỹ)–Sinh hoạt trong Giờ Trái Đất. Click để xem toàn nhóm ảnh.

Earth Hour -- Chancellor Hotel San Francisco
Earth Hour -- Chancellor Hotel San Francisco
</a