I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn.
.
I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC.
I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters.
I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law.
I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam.
In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship.
Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam.
I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN.
I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism.
In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net).
I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries.
I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi:
"Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011)
"10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013)
"Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023)
I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.
Chào các bạn,
Nhà thờ Tế Hanh đã qua đời. Một thiên tài thi ca đã ra đi.
Trong kho tàng thi ca Việt Nam, bài thơ mình thích nhất là Bão của Tế Hanh. Mình đã dịch bài này ra tiếng Anh và đã đăng trên tạp chí thơ đại học Illumination vài năm về trước. Lúc đó mình có gửi tập thơ về Hội Nghệ Sĩ Việt Nam ở Hà Nội nhờ chuyển đến Tế Hanh, nhưng có lẽ không đến. Hai năm trước đây mình có gửi bài dịch về cho chị Phương, con gái Tế Hanh.
Ngoài bài thơ Bão, Tế Hanh còn để lại cho mình một dấu ấn khác. Năm 1989, lúc đó mình làm việc với một số bạn ở Washington thành lập US-Vietnam Trade Council, và Council bảo trợ anh Nguyễn Ngọc Trường của Bộ Ngoại Giao, tổng biên tập tạp chí Quan Hệ Quốc Tế, qua Mỹ ba tháng tìm hiểu hệ thống Mỹ. Council sắp một cuộc gặp mặt riêng giữa mình và anh Trường. Hai người gặp nhau ăn trưa trong một quán ăn gần Quốc Hội. Đó là người Cộng Sản đầu tiên mình gặp. Nói với nhau đủ thứ chuyện. Dĩ nhiên là mình nói nhiều về nhu cầu đổi mới kinh tế chính trị Việt Nam. Một lúc sau nói đến điều gì đó mà anh Trường đọc “Bài thơ tình ở Hàng Châu” của Tế Hanh:
Anh xa nước nên yêu thêm nước
Anh xa em càng nhớ thêm em
Hai câu đầu này đúng tâm sự mình quá, mình nhờ anh Trường chép lại cả bài. Và mình nghĩ, Hóa ra người Cộng Sản cũng đầy thi ca mộng mơ như mình chứ đâu chỉ biết đánh nhau như mình tưởng.
Dưới đây là bài báo trên VnExpress nói về cuộc đời Tế Hanh. Và bài thơ Bão mà mình đã dịch ra Anh ngữ, gọi là một chút để cùng tưởng niệm một vì sao rơi.
Bão
Cơn bão nghiêng đêm
Cây gãy cành bay lá
Ta nắm tay em
Cùng qua đường cho khỏi ngã
Cơn bão tạnh lâu rồi
Hàng cây xanh thắm lại
Nhưng em đã xa xôi
Và cơn bão lòng ta thổi mãi
.
Tế Hanh (1957)
Tình Bạn Tình Yêu Thơ
(Nhà Xuất Bản Giáo Dục, VN 1987)
.
Storm
The storm tilted the night
Branches broke, leaves flew
I clutched at your hand
Crossing the street together so we wouldn’t fall
The storm has left long ago
The trees have turned green again
But you’re now away
And the storm in my heart will always stay
.
12h ngày 16/7, nhà thơ Tế Hanh trút hơi thở cuối cùng để về với “sông nước của quê hương”, sau hơn 10 năm nằm liệt giường vì căn bệnh xuất huyết não. Ông hưởng thọ 89 tuổi.
Nhà thơ Tế Hanh. Ảnh tư liệu.
Tế Hanh tên thật là Trần Tế Hanh, sinh ngày 20/6/1921 trong một gia đình nhà Nho nghèo ở thôn Đông Yên, xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ông học ở trường làng, trường huyện. Đến tuổi 15, nhà thơ tương lai ra Huế học trung học. Chính nơi đây, ông bắt đầu gặp gỡ, giao lưu với các tác giả của phong trào Thơ Mới và dần dà trở thành một trong những cây bút từng làm nên một thời đại hoàng kim cho thi ca Việt Nam.
Được biết đến với bài thơ đầu tiên Những ngày nghỉ học từ năm 17 tuổi (1938), Tế Hanh ghi dấu ấn trên thi đàn bằng những cảm xúc trong sáng, vẩn vơ, buồn buồn của tuổi học trò. Những sáng tác đầu tay của ông sau đó được tập hợp trong tập Hoa niên – tập thơ được Tự lực văn đoàn khen tặng (dưới tên Nghẹn ngào).
Thời kỳ Cách mạng tháng Tám, Tế Hanh tham gia cách mạng ở Huế. Hòa bình lập lại, ông tập kết ra Bắc, làm việc ở Hội Văn nghệ, sau đó là Hội Nhà văn Việt Nam.
Những năm cuối đời, nhà thơ ốm nặng. Ảnh: ANTG.
Sau 1954, vượt qua những thành công đầu tiên của mình, Tế Hanh khẳng định sức bền của ngòi bút qua một loạt tập thơ như Lòng miền Nam (1956), Gửi miền Bắc (1958), Tiếng sóng (1960), Hai nửa yêu thương (1963), Con đường và dòng sông (1980), Em chờ anh (1994)… Chủ đề quen thuộc thời kỳ này của ông là tình cảm với miền Nam quê hương, ý chí đấu tranh, khát vọng thống nhất Tổ quốc. Tác giả có những vần thơ thiết tha về quê hương đã đi vào lòng người với những sáng tác tiêu biểu như Quê hương, Nhớ con sông quê hương, Mặt quê hương... Với những đóng góp nổi bật đó, ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996.
Vào những năm 80, Tế Hanh bị đau mắt, rồi ông mù dần. Hơn 10 năm trước, nhà thơ ngã bệnh nặng và nằm liệt giường, lúc mê lúc tỉnh. Những lúc tỉnh táo, ông vẫn nghe thơ, đón bạn bè đến thăm. Nhưng mấy năm gần đây, nhà thơ gần như sống thực vật.
Nhà văn Đào Thắng, chánh văn phòng Hội Nhà văn cho biết, hiện tại, Hội Nhà văn đang bàn bạc với gia đình nhà thơ để tổ chức chu đáo cho ông về nơi yên nghỉ cuối cùng.
Hà Linh
Một số bài thơ tiêu biểu của Tế Hanh:
Quê hương
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông
Khi trời trong, gió nhẹ sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thân góp gió
Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng lũ lượt kéo ghe về
Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng
Dân chài lưới lần da ngăm rám nắng
Tỏa thân hình nồng thở vị xa xăm
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vó.
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Mầu nước xanh, cá bạc, cánh buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
Mặt quê hương
Mặt em như tấm gương
Anh nhìn thấy quê hương
Kìa đôi mắt, đôi mắt
Dòng sông yêu trong vắt
Kìa vừng trán thanh thanh
Khoảng trời xa yên lành
Miệng em cười tươi thắm
Như vườn xanh nắng ấm
Hơi thở em chan hòa
Như hơi thở quê ta
Hôm qua ai thù giặc
Mà môi em mím chặt?
Hôm nay ai xót thương
Mà mi em mờ sương?
Ôi miền Nam yêu dấu
Trên mặt em yêu dấu
Ôi tháng năm nhớ thương
Mặt em là quê hương
Chia buồn với gia đình nhà thơ và chia sẻ cảm xúc về những vần thơ của Tế Hanh.
About an unidentified boat hitting one of our fishing boat off the coast of Quảng Ngãi, I wouldn’t mind venture a guess that it is likely to be a Chinese boat. I think the Vietnamese government should at least ask China to do an investigation for this. Even if China will do nothing, ask anyway.
Các ngư dân đang nghỉ ngơi ở cabin thì nghe tiếng “đùng” va mạnh vào đuôi tàu, thuyền lật nghiêng rồi chìm dần. Một số người rơi xuống biển, những người còn lại va mạnh vào thân tàu và bị thương.
> Tàu lạ tấn công ngư dân Việt Nam, 7 người bị thương
Các ngư dân bị nạn nhìn thấy một chiếc tàu lớn đang lướt qua với vận tốc cực nhanh mà không quay lại để cứu hộ.
Sáng nay hàng trăm người dân cùng các cơ quan chức năng, y tế, biên phòng… tỉnh Quảng Ngãi có mặt tại bến cá Nghĩa An để chờ đón chiếc tàu đánh cá của ông Huỳnh Thỏ đưa 9 ngư dân, trong đó có 7 người bị thương trong vụ bị tàu lạ đâm chìm, về đất liền. Những cái nhìn đau đáu của người thân ngư dân gặp nạn chợt sáng lên khi chiếc tàu xuất hiện từ phía đường chân trời, rồi hiện rõ dần.
Những tiếng kêu, gọi vang rân cả bến tàu khi bóng những thuyền viên xuất hiện. Bác sĩ đã phải lên tận boong tàu chăm sóc cho những ngư dân bị thương nặng. Họ nằm dài mệt mỏi, quần áo vẫn còn bê bết máu. Vài người bị thương nhẹ được đưa xuống đất nằm dài trên mặt cát.
Bài viết này đã đăng vài năm trước trong báo Nhà Quản Lý. Hôm nay đăng lại đây để chia sẻ với các bạn. Hình như bản này là bản đã được Nhà Quản Lý biên tập, vì đọc nghe khô khan, không thân thiện theo kiểu của mình 😦
Mến,
Hoành
_________
Lãnh đạo ở mọi cấp quản trị thường mắc một số sai lầm chung làm suy yếu tập thể của họ. Thực tiễn hoạt động trong các tập đoàn đa quốc gia cũng như những doanh nghiệp vừa và nhỏ cho thấy, các trưởng nhóm, các nhà quản lý thường mắc 6 lỗi phổ biến sau đây làm giảm hiệu quả hoạt động của nhóm và công ty 1. Chú tâm vào số lượng
Phần lớn các nhà quản lý thường mắc ảo tưởng rằng càng có nhiều nhân sự trong nhóm thì nhóm càng trở nên mạnh. Ảo tưởng này có mối liên hệ với cái tôi của nhà quản lý – dưới quyền tôi có nhiều người, chứng tỏ tôi quản lý tốt. Đây là một trong những sai lầm đầu tiên trong việc xây dựng và tổ chức hoạt động nhóm.
Chất lượng nên là yếu tố quan tâm hàng đầu. Trong công việc hàng ngày, tôi hay sử dụng “Nguyên tắc quản lý của The Beatles”. Có rất nhiều dàn nhạc giao hưởng với số lượng đông hàng trăm nghệ sĩ và đủ các loại dụng cụ âm nhạc. The Beatles chỉ có 4 thành viên. Tuy nhiên, mức ảnh hưởng của họ trong thế giới âm nhạc lớn hơn bất kỳ dàn nhạc khổng lồ nào khác, thậm chí còn hơn tất cả các dàn nhạc này cộng lại. Điều này chứng tỏ là một nhóm nhỏ với các thành viên hạng nhất vẫn hiệu quả hơn so với một nhóm đông những người trung bình. Do vậy, chất lượng chứ không phải số lượng là điều quan trọng.
2. Đếm đầu người
Một vài nhà quản trị có xu hướng định giá khả năng của nhóm thông qua việc đếm đầu người một cách đơn giản. Họ thường nói: “Nhóm tôi có 12 nhân viên, 8 nguời trong số này tốt, 2 trung bình, và 2 tồi. Nhóm của tôi nhìn chung là tốt vì số lượng người tốt chiếm đa số”.
Tuy nhiên, chúng ta hãy xem xét đội hình của một đội bóng. Cần bao nhiêu cầu thủ tồi để có thể hủy hoại thành quả của cả đội? Một là quá đủ. Nếu một cầu thủ không chơi theo lối chơi của đội, không phối hợp tốt với các cầu thủ khác, chơi ẩu, ích kỷ, không chịu chuyền bóng cho đồng đội lúc cần thiết… cả đội sẽ thua. Thực chất, để có một đội hình mạnh, tất cả các thành viên đều phải chơi tốt và giữ vững kỷ luật. Đó là mô hình của Real, Juve, AC, hay Chelsea, là các câu lạc bộ hàng đầu hiện nay. Một điều đơn giản, một quả táo thối có thể làm hỏng cả giỏ táo, vì vậy quả táo thối phải bị loại bỏ ngay.
3. Sử dụng “dân chủ” không phù hợp
Nhiều người nghĩ rằng để nhóm mạnh thì phải có dân chủ, tức là mọi người đều có tiếng nói và sức mạnh ngang nhau và việc ra quyết định sẽ theo phương thức biểu quyết. Điều này là sai lầm.
Hiệu quả hoạt động của nhóm chủ yếu phụ thuộc vào người đứng đầu. Trưởng nhóm là người ra quyết định và chịu trách nhiệm trước cấp lãnh đạo cao hơn về hiệu quả hoạt động của nhóm. Trưởng nhóm có thể dẫn dắt nhóm thảo luận một cách dân chủ, song anh ta phải là người ra quyết định cuối cùng. Trưởng nhóm có thể sử dụng biếu quyết để quyết định một vấn đề thay vì tự mình ra quyết định, nhưng anh ta vẫn là người chịu trách nhiệm cuối cùng về quyết định đó. Một người lãnh đạo không ra được quyết định hoặc tránh trách nhiệm ra quyết định là lãnh đạo tồi và tập thể do anh ta lãnh đạo sẽ không thể mạnh được. 4. Không phải lúc nào cũng nhẹ nhàng và ngọt ngào
Như là huấn luyện viên một đội bóng, trưởng nhóm luôn hỗ trợ các thành viên, song tùy từng thời điểm, đôi khi phải cứng rắn, đặc biệt với một số loại thành viên. Nhà quản lý không phải lúc nào cũng ngọt ngào và dịu êm.
Làm trưởng nhóm đòi hỏi năng lực và sức mạnh để có thể chỉ ra được các điểm yếu, điểm mạnh, các sai lầm mà các thành viên mắc phải. Đây là công việc khó và cần cứng rắn trong hành động. Ra quyết định là nhiệm vụ của nhà quản lý và quyết định cần khắc nghiệt trong những giai đoạn khó khăn. Tuy nhiên, cứng rắn thế nào để mọi người vẫn yêu quý mình, đó là một nghệ thuật.
5. Ngần ngại trong đòi hỏi chất lượng
Nhiều nhà lãnh đạo thường e dè khi nói với nhân viên về hiệu quả hoạt động kém của họ. Việc này thường được giải thích với nhiều lý do: “Tôi không muốn làm mếch lòng nhân viên, hoặc “Chúng ta trả lương họ chưa xứng đáng, vì vậy chúng ta không thể đòi hỏi chất lượng cao hơn” v.v…
Bào chữa như vậy là không có cơ sở. Khi một nhà quản lý ngần ngại đòi hỏi chất lượng cao, nhóm của anh ta sẽ trở nên xoàng xĩnh, chí khí của nhóm sẽ suy giảm, và cuối cùng nhiều thành viên sẽ ra đi. Ngược lại, khi nhà quản lý yêu cầu chất lượng cao, các nhân viên sẽ cảm thấy công việc của họ là có giá trị. Họ thấy hãnh diện về nghề nghiệp của mình, tôn trọng người quản lý và trở nên trung thành hơn với tổ chức.
6. Lo sợ đặt mục tiêu cao
Nhiều nhà quản lý cũng lo sợ khi đặt mục tiêu cao cho nhóm. Họ e dè khi nói những câu: “chúng ta là những người tốt nhất” hay “chúng ta sẽ trở nên tốt nhất”. Có người nói đây là sự nghiêm tốn và nhún nhường cần thiết. Tôi thì cho rằng đây là biểu hiện của sự thiếu tự tin.
Một nhà lãnh đạo tự tin sẽ nói với nhân viên để tiến lên vị trí số 1. Cách đặt mục tiêu này sẽ khuyến khích nhân viên luôn tự hoàn thiện mình, cảm thấy thử thách, vui vẻ, hãnh diện, và cảm thấy rằng họ là lực lượng để chiến thắng.
Trên đây là một số những sai lầm thường gặp ở những người lãnh đạo, với mục đích để phân biệt những nhà lãnh đạo xoàng xĩnh với những nhà lãnh đạo giỏi, những nhóm thành đạt với những nhóm thất bại… Hy vọng những kinh nghiệm này sẽ giúp ích phần nào cho các nhà quản lý của chúng ta trong công tác điều hành hiện nay.
Bản nhạc mở màn vở nhạc kịch William Tell, gọi là William Tell Overture, là một bản nhạc cổ điển của Gioachino Rosini rất phổ thông, nhất là đọan cuối. Gioachino Antonio Rossini
Gioachino Antonio Rossini (February 29, 1792 – November 13, 1868) người Ý, là một trong những soạn giả rất phong phú và sống động. Ông soạn nhạc cho 30 vở nhạc kịch, cùng một loạt thánh ca và nhạc thính phòng. Nhạc của Rossini thường mang âm hưởng “bài hát”, lên xuống trầm bổng thường xuyên, (khác với các bản nhạc cho khí cụ, hoặc có thể không lên xuống nhiều, hoặc lên xuống quá tầm giọng hát). Vì đặc tính này mà Rossini được gọi là Mozart của nước Ý. Vào thời ông, Rossini được xem là nhà soạn nhạc kịch lớn nhất trong lịch sử âm nhạc.
Các tác phẩm nỗi tiếng nhất của Rossini gồm Il barbiere di Siviglia (The Barber of Seville), La Cenerentola, La gazza ladra (The Thieving Magpie) and Guillaume Tell (William Tell).
Overture là một đoạn nhạc mở đầu một nhạc kịch. William Tell Overture có tất cả 4 đoạn:
— Prelude (mở đầu): Nhạc chậm và thấp, thường dùng cello (trung hồ cầm) và bass (đại hồ cầm).
— Storm (bão): Rất sống động, toàn dàn hòa tấu.
— Ranz des Vaches (gọi bò sữa): dùng English horn (còi Anh).
— Finale: Đoạn cuối, rất mạnh mẽ như đoàn kỵ binh tấn công trên chiến mã, nên thường gọi là đoạn galloping (ngựa phi), kèn trumpet đi đầu và toàn dàn hòa tấu theo sau.
Đoạn Galloping này được dùng rất nhiều trong văn hóa phổ thông: Nó là nhạc nền chính của series Lone Ranger, rất nổi tiếng, gồm một radio series kéo dài từ 1933 đến 1954 (21 năm), một TV series từ 1949 đến 1957, và một loạt các phim lẻ. Trong rất nhiều phim ảnh, nhạc kịch, đoạn Galloping được dùng như chính nó, hay là nhái lại hài hước, hầu như không thể kể hết được.
Năm 1838, nhạc sĩ Franz Liszt biên soạn William Tell Overture cho piano. Và ngày nay người ta chơi William Tell Overture với mọi khí cụ, đủ kiểu.
Sau đây chúng ta sẽ nếm một tí mùi vị phong phú của William Tell Overture qua các video sau đây:
(1) Dàn đại hòa tấu quốc tế Berliner Philharmoniker với nhạc trưởng khét tiếng Herbert Von Karajan.
(2) Hảo thủ số một thế giới về mandolin, Even Marshall, độc tấu
(3) Hai anh em Johnathan và Tom Scott song tấu trên một piano.
(4) Hảo thủ trống với một dàn trống rock vĩ đại.
(5) Gerry Phillips chơi William Tell Overture với chỉ hai bàn tay !!
(6) Lời mẹ nói, nhái William Tell Overture với giọng opera nữ (có phụ đề lời Anh ngữ).
Mời các bạn thưởng thức.
.
Đại Hòa Tấu: Gioachino Rossini (1792-1868) WILLIAM TELL OVERTURE (1829) Berliner Philharmoniker HERBERT VON KARAJAN (1908-1989) New Year’s Eve Concert, Berliner Philharmonie Dec 31, 1983
.
Mandolin: Mandolinist Evan Marshall performing the William Tell Overture
.
Piano: Scott Brothers Duo (Jonathan & Tom Scott) perform the Gallop from The William Tell Overture arranged for piano duet by Gottschalk.
.
Trống: Vadrum Meets William Tell (Drum Video)
.
Hai bàn tay: My name is Gerry (Jerry) Phillips and I have been playing songs on my hands for 38 years!
.
Lời Mẹ Nói: The Mom Song Sung to William Tell Overture
Vào dịp giỗ tổ Hùng Vương năm 2008 tại Đại Sứ Quán Việt Nam ở Washington DC, qua sự giới thiệu của chi Lê Phượng của Thông Tấn Xã Việt Nam, mình gặp chị Tiến. Hình ảnh đầu tiên đến với mình là một người phụ nữ rất vui vẻ bình thường, nhưng một lúc sau, biết được là chị đã có quân hàm trung tá và đang theo đuổi công việc tìm hài cốt các chiến sĩ đã hy sinh trong chiến tranh để mang họ trở về nguyên quán, thì mình rất đỗi ngạc nhiên và xúc động–ngạc nhiên vì đó là công việc rất bất thường, tiêu thụ rất nhiều năng lượng của con tim và chắc chắn là đôi khi rất nhiều stress, trong một phụ nữ nói chuyện thật là vui; xúc động vì việc thì nặng cảm xúc đến thế mà nói chuyện thì thanh thản đến thế, là người mình rất phục.
Dịp đó chị Tiến sang Mỹ để liên hệ với các tổ chức cựu chiến binh Mỹ, để mong tìm thêm được các kỷ vật các chiến binh Mỹ thu lượm được trong thời chiến, hầu có thể giúp thêm chị trong việc tìm và xác định hài cốt đồng đội.
Hôm nay mình giới thiệu chị Tiến và công việc của chị đến các bạn. Mong là bài này giúp chị một tí niềm vui sau nhiều năm tháng đối diện với bao nhiêu xúc cảm nặng nề. Mình cũng mong các bạn hỗ trợ chị Tiến trong những cách thức có thể, như là báo cho bạn bè Mỹ của mình biết về công việc của chị và nhu cầu thu lượm tin tức cùng kỷ vật, hoặc các bạn có nhu cầu tìm thân nhân đã mất trong thời chiến tranh.
Mình đang đợi chị Tiến viết một vài bài về công việc của chị cho ĐCN. Lúc đó chúng ta có thể có thêm thông tin về chị.
Dưới đây là ba bài báo về công việc của chị: (1) “Liệt sĩ Hoàng Ngọc Đảm trở về đất mẹ”, 7/2008, trên baovietnam.vn, về chuyến đi Mỹ của chị năm 2008. Bài này cũng có câu chuyện rất cảm động về kỷ vật và thông tin của một cựu binh Mỹ, và công sức của anh và thân nhân trong việc bay về tận bãi chiến trường cũ tại Việt Nam, để giúp tìm ra hài cốt của liệt sĩ Hoàng Ngọc Đảm và mang anh trở về quê.
(2) “Người tìm về những linh hồn đồng đội” trên vietbao.vnngày 25.7.2007
(3) “60 năm ngày thương binh liệt sĩ–Những câu chuyện tìm lại tên anh” ngày 27.7.2007 trên báo Tuổi Trẻ.
Chúc chị Tiến luôn có được niềm vui trong công việc. Chúc các bạn một ngày vui.
TP- Khi gặp lại Tiến tại quê nhà, câu chuyện như kéo dài thêm về những ngày ở Washington lẫn Maryland của Tiến.
Homer đi đầu (bên phải) khiêng quan tài LS Hoàng Ngọc Đảm trong buổi lễ truy điệu ngày 19/5/2008 tại xã Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình (ảnh của trung tá Nguyễn Thị Tiến)
Vị cựu binh thủy quân Lục chiến, Wayne nay là GS sử học Đại học Maryland đã mời Tiến nói chuyện với sinh viên đại học Maryland. Người dịch cho Tiến và vị GS nọ là Sedgwick D. Tourison, Jr. nguyên là Sĩ quan Quân báo Lục quân.
Ông đã có nhiều năm tham chiến trên chiến trường Việt Nam và rất giỏi tiếng Việt. (được phép của Tiến, có lẽ một dịp thích hợp toàn bộ bức email khá xúc động mà ông mới vừa gửi cho Tiến sẽ được công bố. Sau đây là trích một đoạn:
Ngày 27/7 là ngày đặc biệt của toàn dân Việt Nam đặc biệt là quân nhân và gia đình của liệt sĩ Việt Nam đã nằm xuống vì Tổ Quốc. Hàng vạn hài cốt liệt sĩ vẫn chưa mang về…
Mỗi ngày tôi như nghe thấy tiếng gọi của liệt sĩ Việt Nam nói nho nhỏ, cho tôi về nhà đi… Cho tôi về nhà đi… Nếu trong khả năng của tôi thì tôi sẽ hết sức cố gắng thi hành nhiệm vụ của một con người giúp họ về càng sớm càng tốt…
Trở lại với buổi nói chuyện của Tiến ở ĐH Maryland. Hơn một giờ đồng hồ, Tiến đã nói về nỗi đau dằng dặc hàng bao năm của những bà mẹ Việt Nam có con đi chiến đấu ở chiến trường xa. Rồi sau chiến tranh, có hàng trăm ngàn bà mẹ người thân của họ lại gánh thêm nỗi đau không tìm thấy hài cốt của con em mình.
Tiến kể về công việc khiêm tốn của mình trong nhiều năm qua đã góp sức cùng nhiều người và nhiều cơ quan khác có trách nhiệm ở Việt Nam như một sự chung tay làm dịu đi nỗi đau ấy.
GS Wayne rất xúc động và gần như có cuộc phát động ngay sau đó rằng các cựu binh Hoa Kỳ có mặt ở đây và các sinh viên có mối quan hệ với các cựu binh nên thông tin cho họ rằng nếu tìm thấy hoặc đang cất giữ những kỷ vật của bộ đội Việt Nam thì hãy trao trả cho Việt Nam hoặc trực tiếp liên lạc với bà Nguyễn Thị Tiến có địa chỉ ở Việt Nam và email đây!
Xin trở lại với lời dặn dò nhắc nhở của bà mẹ Homer rằng phải tìm cách trả lại cuốn sổ cùng địa chỉ vị trí nơi chôn cất liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm. Xúc động lẫn trăn trở về những tâm sự của người bạn thân Homer, năm 2005, GS Wayne đã tìm được cơ hội.
Trong một chuyến công tác sang Việt Nam, cũng là dịp trở lại chiến trường xưa, ông đã liên hệ với nhiều cơ quan có trách nhiệm và đáng nói nhất là đã liên lạc được với gia đình liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm.
Trở về Mỹ, vị GS nọ luôn ám ảnh bởi buổi được chứng kiến khung cảnh cực kỳ cảm động khi gia đình liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm cùng địa phương đã tổ chức đón cuốn sổ nhật ký của Hoàng Ngọc Đảm như thế nào.
Được tận mắt chứng kiến nỗi khát khao của gia đình nếu như tìm thấy hài cốt của liệt sỹ qua vị trí chôn cất mà Homer có hướng dẫn tỷ mỉ trong thư. Và điều GS kể lại cho ông bạn thân Homer khiến bạn sửng sốt rằng, dẫu biết mười mươi người đã giết con mình là bạn thân của ông người Mỹ đang có mặt tại nhà họ, nhưng âm hưởng chủ đạo của cuộc gặp lẫn buổi đón nhận cuốn nhật ký lại là không khí cảm động chứ những người thân của liệt sỹ Đảm tuyệt nhiên không có ai nhắc tới hận thù này khác!
Đó là một trong những duyên do khiến bà mẹ Homer hối giục con mình nên mau mau một lần trở lại chiến trường cũ!
Có một việc Homer và ngay cả GS Wayne cũng không thể ngờ được rằng, theo hướng dẫn của Homer trong thư, gia đình liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm đã vào tận đèo Măng Giang, Kon Tum…
Cứ như vị trí mà Homer khẳng định, thì trước đó từ lâu, địa phương đã phát hiện ra ngôi mộ liệt sĩ ở vị trí của Homer từng xác định sau này và đã làm cái việc cất bốc, quy tập mộ Liệt sĩ Hoàng Ngọc Đảm về nghĩa trang liệt sỹ của địa phương.
Tất nhiên phần hài cốt của liệt sỹ Đảm ấy khi vào nghĩa trang cũng là vô danh như phần nhiều ngôi mộ liệt sỹ khác. Thật may mắn là trong những lần quy tập ấy, người ta đã kịp đánh số vẽ sơ đồ cho mộ liệt sỹ.
Sau chuyến đi Mỹ trở về, đầu tháng 5/2008, Nguyễn Thị Tiến được GS Wayne báo tin sẽ cùng với ông bạn thân Homer sang Việt Nam. Và họ sẽ có chuyến vào Măng Giang, Kon Tum đến tận nơi Hoàng Ngọc Đảm đã nằm xuống.
Nhưng phải cuối tháng 5, hai cựu binh Thủy quân lục chiến ấy mới có mặt tại Việt Nam. Được phép của cơ quan có trách nhiệm cũng như gia đình liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm, một chuyến đi vào Kom Tum đã được thực hiện.
Chuyến đi đó ngoài hai người cựu binh Thủy quân lục chiến còn có mấy người anh em ruột của liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm là Hoàng Đình Lượng, Hoàng Đình Cát, Hoàng thị Tươi.
Nhà văn nhà báo Minh Chuyên, một người cũng có nhiều duyên nợ âm phần, từng thực hiện nhiều bộ phim về đề tài này cùng kíp làm phim 3 người của Đài Truyền hình Việt Nam.
Đặc biệt tham gia chuyến đi còn có một người cháu gái của cựu binh Homer. Và còn có một nhà ngoại cảm đi theo theo yêu cầu của gia đình liệt sỹ. Một trận cảm bất ngờ đã khiến trung tá Nguyễn Thị Tiến không có mặt trong đoàn.
Trong thời gian không lâu nữa, có thể trong dịp 27/7 sắp tới, bộ phim do nhà văn Minh Chuyên đạo diễn và kíp làm phim thực hiện về cuộc đi hy hữu này sẽ được trình chiếu nhưng những gì người viết bài này được kể lại một phần trong chuyến đi đó vẫn khá ấn tượng.
Quá nửa ngày, cựu binh Homer đã quày quả đi đi lại lại, săm soi chỉ một khúc đèo ngắn của Măng Giang. Gần 40 năm qua mọi vật cảnh quan có lẽ đã đổi thay nhiều.
Cây cối xứ nhiệt đới đã nhổng nhao nhanh chóng ở những khoảng ngày xưa là đồi trọc. Và vô khối khoảnh rừng già đã biến mất. Nhưng cuối cùng, trường đoạn của cảnh quay cũng đã kết thúc khi Homer qua quá trình khoanh vùng đã loại bỏ dần và xác định được tọa độ.
Địa điểm mà liệt sỹ Hoàng Đình Đảm nằm xuống mà Homer khẳng định cũng trùng với khu vực mà trước đây nhiều năm đội quy tập liệt sỹ đã cất bốc mộ của liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm đưa vào nghĩa trang địa phương.
Trời trưa Tây Nguyên bốc nắng dữ dội, nhìn vị cựu binh Thủy quân lục chiến cao gầy, tóc bạc râu bạc ở cái tuổi 62, nén hương trong tay run rẩy, người như đổ sụp xuống ngôi mộ Hoàng Ngọc Đảm và cất tiếng khóc ồ ồ thảm thiết khiến những người có mặt không khỏi bùi ngùi.
Chao ôi nếu như không có động thái xiết cò khẩu AR15 máy móc bản năng và vô thức ấy của người lính Thủy quân lục chiến Homer bắn vào anh chiến sĩ y tá trong đội phẫu thuật tỉnh đội Gia Lai (trong cuốn nhật ký mà Homer giữ hàng chục năm nay, bây giờ những người thân của anh Đảm mới được coi những tấm hình anh vẽ về bộ phận cơ thể người.
Y tá Hoàng Ngọc Đảm, theo như trung tá Nguyễn Thị Tiến kể lại khi Tiến được tiếp xúc với cuốn nhật ký đó, thì những hình vẽ của anh Đảm rất đẹp, cứ như là chuyên nghiệp.
Nếu không mệnh hệ gì, lành lặn trở về, thì biết đâu bây giờ anh Đảm đã là một họa sĩ tên tuổi) vào mùa xuân năm 1969 thì làm gì hôm nay bao người đã phải nhọc nhằn? Mà đâu chỉ riêng cuộc đi này, hành trình của dân tộc mình trong lộ trình nâng niu trân trọng quá khứ, trả lại tên cho các liệt sỹ vô danh sẽ còn vô khối những chặng như cuộc đi như thế này nữa…
Phần mộ của liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm đã được cất bốc để đưa về quê anh ở xã Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình. Đó là ngày 24/5/2008. Sinh ngày 1/4/1944 (nhờ trí nhớ của Homer mà gia đình anh Đảm từ nay cúng đúng giỗ theo lịch âm tức ngày Mồng Một tháng hai Âm lịch) đã 39 năm anh Đảm nằm lại đất Kon Tum.
Homer kém anh Đảm 2 tuổi. Một thuở một thời khác chiến tuyến. Nhưng hôm nay, cùng một lứa bên trời lận đận? Người nằm trong chiếc tiểu sành kia với kẻ lênh khênh, đầu tóc xác xơ, bờm xờm, toã tượi từng đã dằn vặt sám hối bao năm đến nỗi vướng phải thể trạng tâm thần nhẹ, chẳng biết ai thanh thản hơn ai?
Tiến kể lại rằng (chắc cũng trùng với những thước phim của Minh Chuyên cũng có những đoạn những “xen” tương tự) trời hôm đó nắng nóng khác thường cựu binh thủy quân lục chiến Homer mồ hôi ướt sũng quần áo, cũng dáng thiểu não toã tượi như thế đã đứng vái lạy trước di cốt cũng như tự nguyện đứng hàng đầu để khênh chiếc tiểu sành đựng hài cốt anh Hoàng Ngọc Đảm trong lễ truy điệu. Chỉ có tiếng khóc tiếc thương đủ mọi cung bậc của người thân. Nhưng tuyệt nhiên không một lời oán thán này khác.
Homer và người cháu gái lẫn GS Wayne đều không biết tiếng Việt nhưng họ hiểu thứ ngôn ngữ ấy, thông điệp ấy qua cái nhìn, ánh mắt của những người thân anh Đảm và những người dự lễ truy điệu cũng như khi đưa anh Đảm vào lòng đất Mẹ ở nghĩa trang liệt sỹ xã nhà Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình!
Chặng đưa hài cốt anh Đảm ra Bắc đến thành phố Vinh thì trung tá Nguyễn Thị Tiến mới nhập cuộc được. Trận cảm bất ngờ chưa dứt nhưng Tiến đã quyết nhập chặng hành trình từ Vinh đưa tiếp anh Đảm về Thái Bình. Và Tiến cũng đã kịp bày biện ra một bất ngờ khác.
Xin bạn đọc trở lại những thứ mà Homer móc trong túi LS Hoàng Ngọc Đảm và cất giữ mấy chục năm nay, ngoài cuốn nhật ký của anh Đảm còn có một tấm bằng lái xe loại trung xa mang tên Nguyễn Văn Hai cấp ngày 28/7/1964 do trung tá Nguyễn Văn Đôn, Cục Quản Lý Xe máy, Tổng Cục Kỹ thuật ký.
Mãi trong chuyến đi Mỹ vừa rồi, khi nghe GS Wayne kể lại, Tiến giật mình bởi cô thường xuyên nhận được những tin nhắn về kỷ vật liệt sỹ, cuối tháng 12 năm ngoái cũng có tin đến cô cái bằng lái xe nào đó của Nguyễn Văn Hai. Vừa về nước, cô phát tiếp tin nhắn tìm trên một số phương tiện thông tin đại chúng. Liệt sĩ chưa rõ tên
Một ngày cũng mới đây thôi, có một ông lão gầy gò tìm đến nhà Tiến và xưng là… Nguyễn Văn Hai! Sau khi kiểm tra kỹ càng CMT và nghe ông lão tên Hai kể chuyện, Tiến vui mừng nhận ra ông Nguyễn Văn Hai may mắn còn sống sót và ông chính là chủ nhân của cái bằng lái xe nọ.
Quê ông lại cách thành phố Vinh cũng chả xa mấy. Đó là xã Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Để đợi đoàn rước mộ anh Đảm, ông Hai đã ở hai ngày trong nhà gia đình Tiến để đợi Homer.
Nhân chuyến đi của Homer và gia đình anh Hoàng Ngọc Đảm vào Kon Tum đưa mộ liệt sỹ Đảm về Thái Bình, Tiến đã liên lạc gấp với ông Nguyễn Văn Hai về Vinh để gặp lại người từng giữ chiếc bằng lái xe của ông mấy chục năm trời.
Và trước khi đưa anh Hoàng Ngọc Đảm về lại Thái Bình, tại thành phố Vinh đã có một cuộc kỳ ngộ thú vị giữa cựu chiến binh Nguyễn Văn Hai và cựu binh thủy quân lục chiến Homer cùng các thành viên trong đoàn.
Còn tại sao cái bằng lái xe trung xa của ông Nguyễn Văn Hai lại ở trong túi của anh y tá Hoàng Ngọc Đảm rồi lọt vào tay Homer là cả một câu chuyện dài xin khất bạn đọc vào một dịp khác.
Người viết xin được khép lại ghi chép nhiều kỳ “Lại kể tiếp chuyện đi Mỹ” này bằng dòng tin nhắn theo yêu cầu của trung tá Nguyễn Thị Tiến.
Ông Phạm Thanh Siếu bây giờ đang ở đâu? Ai là thân nhân của Phạm Thanh Siếu? Thông tin cụ thể hơn xin gặp gia đình ông Hoàng Đình Lượng (em trai liệt sĩ Hoàng Ngọc Đảm) xã Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình. Hiện nay cuốn sổ tay của ông Phạm Thanh Siếu, ông Lượng vẫn chịu trách nhiệm bảo quản tại nhà riêng.
(Trong những kỷ vật mà Homer trao lại ngoài cuốn nhật ký của anh Đảm, bằng lái xe của ông Hai còn có một cuốn sổ cá nhân mang tên Phạm Thanh Siếu. Nhưng tiếc rằng, có thể vì lý do để giữ bí mật chăng mà anh Phạm Thanh Siếu đã không ghi tên địa chỉ quê quán, đơn vị trong cuốn sổ?)
Trung tá Nguyễn Thị Tiến – Phó Giám đốc Bảo tàng Quân khu IV. Ảnh: Trọng Hiếu
Chiến tranh đã lùi xa, trong số hàng triệu người con ngã xuống vì độc lập tự do của dân tộc còn hàng vạn người phải nằm lại nơi lưng đèo, cuối dốc. Ngày trở về quê hương, hành trang của họ thật đơn giản, chị Tiến đã lưu lại những di vật tưởng chừng như vô tri vô giác chôn cùng những liệt sĩ để rồi âm thầm xác minh danh tính.
Đi tìm những “khoảng không nhức nhối”
Thành Vinh một chiều mưa rả rích, buồn đến nao lòng. Trung tá Nguyễn Thị Tiến (Phó Giám đốc Bảo tàng Quân khu IV) cứ tẩn mẩn cầm từng di vật của liệt sĩ là chiếc bút, chiếc kính gãy gọng, chiếc khăn tay… khẽ khàng nói với tôi: “Rồi thời gian vụt qua đi, những di vật này ngày lại lặng im nằm đó, cũng như biết bao di vật đang âm thầm cô đơn nơi hoang vắng. Để rồi bao nấm mộ mãi mãi bị đè nặng bởi tấm bia đá lạnh lùng trong tên gọi: Vô danh!”. Tôi thấy đôi mắt chị long lanh một cách lạ kỳ, chứa trong đó bao tình cảm về những đồng đội…
Nhìn những di vật được xếp trang trọng trong bảo tàng, mấy ai cầm được nước mắt. Hòn đá núi khắc tên, hòn đá cuội khắc tên, mảnh cây khắc tên, cây bút khắc tên và đương nhiên cả tấm bia nữa… đó là những hàng chữ, những cái tên ấm áp nhưng cũng lạnh lùng một cách tàn nhẫn: Đ-H-Lượng; Trần Văn Lợi; Nguyễn Văn Sông… Nhưng họ quê ở đâu? thuộc đơn vị nào? Không ai biết. Thấy những cái tên, ai cũng thèm khát, nhưng ai dám chắc đó là con, em mình. Tấm bia, cái tên kia bỗng trở thành khoảng không nhức nhối.
Chị Tiến nghẹn ngào: “Tôi còn nợ liệt sĩ Bùi Ngọc Thuần một lời hứa trước khi chuyển hòn đá có khắc tên anh về bảo tàng. Một dòng tên khắc vào hòn đá núi: TK.B4. Bùi Ngọc Thuần. 12/12/66, phần mộ của anh đã được đưa về nghĩa trang đường 9, mộ số 300. Nhưng quê anh ở đâu? Ai là thân nhân? TK.B4 là đơn vị nào? Bốn năm rồi tôi hỏi khắp nơi mà chưa thấy có hồi âm”. Chị bảo: “Tôi ước chi tìm được mẹ cho anh để đưa anh về với mẹ”.
Những cuộc hành trình đầy nghĩa tình
Chuyến đi tìm di vật đầu tiên của chị là ngày 13/1/2000, khi ấy, nhận được tin đoàn quy tập Bộ chỉ huy Quân sự Quảng Bình chuyển hài cốt quân tình nguyện Việt Nam từ Khăm Muộn (Lào) về nghĩa trang Ba Dốc. Chị lập tức xin nghỉ bắt xe theo.
Chị cho tôi xem tấm ảnh được thấy trong hài cốt chỉ có tên là Hương, đó là một chiếc gương soi cỡ 5×8, mặt sau gương là một tấm kính cả hai ép vào nhau, ở giữa có một chiếc ảnh đen trắng cỡ 3×4 chụp một bà mẹ già khoảng 50 tuổi, đầu chít khăn vấn tròn. Không nhìn rõ mặt vì vết máu khô loang lổ.
Chị Tiến nhớ lại: Khi thấy tấm ảnh trong hài cốt, tất cả đều đoán người trong ảnh là mẹ liệt sĩ. Biết tôi có ý muốn giữ lại, một anh lính trẻ thủ thỉ: “Cô ơi, hành trang của anh ấy chỉ có thế thôi. Mẹ đã theo anh khắp chiến trường thì cứ để mẹ nằm với anh trong mộ, cô đừng lấy đi kẻo tôi anh ấy lắm!. Tôi phải thuyết phục mãi, rằng biết đâu tấm ảnh này sẽ đưa anh về với mẹ”.
Sau khi tấm ảnh được đăng trên một số báo thì phải đến 10 tháng sau, nhận được tin của người nhà liệt sĩ Hương rằng mẹ Diệp, người trong ảnh là mẫu thân liệt sĩ Hương (về sau xác định là Bùi Danh Hương) vẫn còn sống tại xã Thanh Long, Hưng Yên.
Chuyến đưa hài cốt liệt sĩ Hương về với mẹ là một kỷ niệm suốt đời tôi không bao giờ quên. Mẹ Diệp đã 94 tuổi, tai điếc nhưng linh cảm về đứa con trai bé bỏng thì còn vẫn còn nguyên. Mẹ cứ ôm bức ảnh của mình lấm lem cùng máu khô của con trai mà khắc khoải: “Nó đâu rồi, nó đâu rồi!” Khiến mọi người trong đoàn không ai cầm được nước mắt.
Chị Tiến với di vật của các liệt sỹ. ảnh Trọng Hiếu
Chị Tiến nói như lạc giọng: “Có những lần tìm được nhiều mộ quá. Tôi hoang mang đi trên mảnh đất quê mình mà thấy đau… Tôi không dám bước mạnh chân, còn biết bao đồng đội đang nằm cô lạnh trong lòng đất”.
Tôi không muốn ly kỳ hoá công việc tìm kiếm hài cốt, trả lại tên cho các liệt sĩ nhưng trong quá trình đi tìm của chị cũng có những sự ngẫu nhiên đến lạ lùng. Đôi mắt chị chợt xa xăm. Và dường như bên cạnh chị còn có chính các… liệt sĩ.
Chị kể: “Từ ngày 14/1 đến 26/1/2000 tôi phải đi sáu tỉnh, sang cả nước bạn Lào để theo từng đội quy tập đưa hài cốt liệt sĩ về. Khi trở về nhà trời đã gần sáng, tôi lăn ra ngủ để chuẩn bị đi tiếp vào Hà Tĩnh đón đoàn qui tập từ BuLiKhămXây (Lào) về. Định bụng chợp mắt một lúc cho lại sức nhưng quá mệt nên thiếp đi. Chính trong lúc thiếp đi đó, tôi thấy một anh bộ đội về trong giấc mơ, anh bảo “này O, O mà ngủ bây giờ là ốm đấy. O vào đón em về đi. Lần này nhiều di vật lắm”. Tôi giật mình tỉnh giấc và nhớ rằng còn phải đi Hà Tĩnh, thế là lại lên đường. Và trong 42 bộ hài cốt lần đó, tôi tìm được một lọ đựng mảnh giấy đã mờ, sau khi dùng kính lúp thì luận ra được tên anh: Trương Xuân Đình, E271, quê ở Bản Ngọc, Quỳ Hợp, Nghệ An. Tôi tin đó chính là anh bộ đội đã gặp trong giấc chiêm bao”.
Chị bảo, đến giờ chị vẫn nhớ như in khuôn mặt của anh bộ đội với chiếc răng khểnh trông rất duyên đó, chị ước giá mà đến được quê anh, có được tấm hình để xem có giống người trong mơ hay không.
Về sau này, bà giám đốc bỗng trở thành khách mời thường xuyên của chương trình “Người đương thời”. Tranh thủ những cơ hội “hiếm có” như vậy chị đưa lên những di vật mà mình đã sưu tầm. Và không ít trong số đó đã có người thân đến nhận.
Chị bảo: “Mệt lắm, nhưng cứ chứng kiến có bà con ở tận vùng cao, mãi 30 năm mới gom góp đủ tiền đi tìm mộ con, mà vẫn không thấy. Nhìn ông bố, bà mẹ, người vợ vẫn đỏ mắt trông chờ tin con mà se sắt lòng…”. Chị nổi tiếng đến nỗi 1080 của Hà Nội đã hỏi số điện thoại của chị để cung cấp cho thân nhân liệt sĩ.
Giọng chị chợt buồn: “Vậy mà cũng có người phao tin là thân nhân liệt sĩ trả tiền cho tôi nhiều, “trúng” lắm. Tôi buồn quá”. Thôi thì thiên hạ cũng lắm kẻ này, người nọ, họ bàn ra tán vào thế nào là tuỳ, mình làm việc tâm đức hơi đâu mà để ý. Tôi chắc là anh cũng nghĩ thế!”
****
Chiều, tôi vẫn lang thang giữa dòng bia mộ trắng xoá, khói hương bảng lảng, gió chiều vi vu. Chợt nhận ra còn quá nhiều nấm mồ không có tên. Lại vu vơ một niềm hy vọng, bởi trong vô vàn số không tên đó thể nào cũng có người được về với người thân bởi công việc thầm lặng của chị Tiến.
Người đi tìm tên đồng đội
Trung tá Nguyễn Thị Tiến – sinh năm 1955 trên mảnh đất nắng gió miền Trung (Nghi Lộc – Nghệ An). Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, chị về giảng dạy tại Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt, Đồng Tháp. Năm 1984, chị chuyển về làm cán bộ thuyết minh của Bảo tàng Quân khu IV.
Đồng cảm trước nỗi đau của thân nhân những liệt sĩ chưa tìm được hài cốt của con em mình, chị Tiến xin phép cơ quan đi theo các đội quy tập hài cốt liệt sĩ, sưu tập những di vật, vừa để giáo dục truyền thống, vừa hy vọng qua các di vật còn lại của liệt sĩ có thể tìm lại tên tuổi, quê hương của họ. Chị lặn lội khắp các chiến trường xưa. Mỗi lần như vậy, tranh thủ lúc anh em trong đội nghỉ giải lao, chị lụi cụi thắp hương, lần tìm và xin cất giữ các di vật, để đem về xác minh.
Chị đã tìm thấy hàng trăm di vật, từ cái cối giã trầu bằng vỏ đạn, chiếc lược nhôm, cặp tóc, vòng tay đến những tấm ảnh, bút mực Hồng Hà… Những di vật, những linh hồn tưởng như đã vĩnh viễn chôn chặt dưới lòng đất cùng phần mộ liệt sĩ vô danh, nay được chị Tiến nâng niu, cất giữ. Đối với chị, mỗi di vật là một câu chuyện cảm động, một nỗi đau riêng. Tất cả được chị tập trung nghiên cứu trong đề tài khoa học mang tên “Góp phần xác định liệt sĩ chưa biết tên và công tác bảo tồn trưng bày di vật”, được giải A cấp quân khu. Cho đến nay, chị đã góp phần trả lại tên cho hàng trăm liệt sĩ
Trung tá Nguyễn Thị Tiến và những di vật tìm được từ mộ các liệt sĩ. Từ đây, chị tìm manh mối để đưa các anh về với gia đình – Ảnh: M.L.
TT – Đó là những câu chuyện về con tìm cha, em tìm anh, núm ruột tìm kiếm núm ruột. 32 năm sau cuộc chiến, những cuộc tìm kiếm vẫn chưa ngưng nghỉ. Làm việc ở Bảo tàng Quân khu 4, trung tá Nguyễn Thị Tiến chứng kiến những câu chuyện xúc động.
Nghe đọc nội dung toàn bài:
“…Con sẽ ôm ba mãi mãi”
Một buổi sáng, người thanh niên tên Trần Văn Sơn đến tìm trung tá Nguyễn Thị Tiến, phó giám đốc Bảo tàng Quân khu 4 (Vinh, Nghệ An). Đó là con trai liệt sĩ Trần Văn Bàn (thị trấn Sông Cầu, Phú Yên). Vừa đặt bó huệ lên đài tưởng niệm (phòng trưng bày di vật liệt sĩ), Sơn quì sụp, đập đầu rất mạnh xuống nền đá. Và khóc. Lần đầu tiên chị Tiến thấy một người con trai khóc như thế!
Cha Sơn tập kết ra Bắc và cưới mẹ. Ở với nhau được một năm thì cha vào Nam chiến đấu. Rồi hi sinh. Mẹ cũng về với cha khi Sơn mới một tuổi… Đứa con côi cút lớn lên với hình ảnh cha và mẹ qua lời kể của dì… Trái tim của người con khiến không thể giữ nổi đôi chân. Sơn quyết tâm đi tìm mộ cha. Khắp miền Nam, ở đâu có nghĩa trang liệt sĩ, ở đó có dấu chân Sơn. Bạn đồng hành của Sơn khắp nẻo đường gian nan là quyển sổ sinh hoạt Đảng đã ố vàng của cha – di vật duy nhất để lại.
Nhưng sổ ghi rất hạn chế. Gần thất vọng, chị Tiến lần giở trang cuối cùng, ở góc trên trang giấy bị nếp gấp, vuốt ra cho thẳng thì nhìn thấy ba chữ số viết bằng mực màu xanh lá cây: 812. Đó có thể là trung đoàn 812 của sư đoàn 324 thuộc Quân khu 4. Nếu đúng như thế thì có thể tìm ra manh mối rồi!
Sơn xúc động: “Nếu chuyến đi này con tìm được ba, con sẽ cởi chiếc áo đang mặc, đang có mùi mồ hôi của con, trải rộng ra, con xếp xương cốt ba vào, lấy hai cánh tay áo quàng ôm chặt ba con lại, coi như con ôm ba mãi mãi…”. Chứng kiến cảnh đó, vị nữ trung tá xúc động.
Chị liên lạc ngay với thiếu tướng Nguyễn Minh Long ở TP.HCM (nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn 812). Biết ông đang thăm đồng đội tại Hà Nội, kế hoạch đi Hà Nội được vạch ra ngay.
Trong đêm đó, khi Sơn đang trên tàu thì ở Hà Nội, các cựu chiến binh trung đoàn 812 đã gọi nhau đến. Họ lần về quá khứ, hồi tưởng những trận đánh, bàn bạc để khoanh vùng khu vực hi sinh của liệt sĩ Trần Văn Bàn. Những thông tin được khớp nối… chắp ghép… Cuối cùng, một địa danh được khẳng định: huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị!
3g sáng. Tàu đến Hà Nội. Nhưng Sơn không dám đánh thức chủ nhà. Sớm mai. Vừa mở cửa, ông Long đã thấy một thanh niên đang bó gối, thiếp đi. Khuôn mặt nó sao mà giống Bàn quá! Người tướng già ôm lấy đứa con của đồng đội. Một già một trẻ nhìn nhau nghẹn ngào… Chỉ còn những giọt nước mắt.
Sơn lập tức trở vào Quảng Trị. Hơn 15 năm ròng rã, người con có tấm lòng hiếm có ấy mới tìm được cha, dù chỉ là hình hài trong nấm mộ…
“Hay là cho tôi một nửa…”
Trung tá Nguyễn Thị Tiến là người bảo vệ thành công đề tài khoa học “Xác minh lý lịch liệt sĩ chưa biết tên qua di vật nằm cùng phần mộ”. Bằng phương pháp đối chiếu, so sánh tổng hợp, điều tra, xác minh, tìm nhân chứng, giải mã ký hiệu đơn vị, thời gian hoạt động, địa bàn và thông qua hệ thống thông tin đại chúng (có trường hợp phải sử dụng công nghệ giám định gen), lý lịch của hơn 100 liệt sĩ chưa biết tên, quê quán có di vật nằm cùng đã được xác minh.
Chị Tiến bảo trường hợp một hài cốt liệt sĩ nhưng có nhiều thân nhân đến nhận không phải ít. Nhưng câu chuyện về liệt sĩ Ngô Khổng Minh (hi sinh tại bản Bua La Pha, Khăm Muộn, Lào) là một kỷ niệm đầy xúc cảm. Mấu chốt của câu chuyện bắt nguồn từ chữ viết trên di vật liệt sĩ là Hzo.K Muhx, viết theo phiên âm tiếng Nga, dịch ra tiếng Việt là Ngô K.Minh.
Khi mới công bố, một cựu chiến binh tên Ngô Văn Thưởng (Diễn Hoa, Diễn Châu, Nghệ An) đến xin nhận. Ông là cháu ruột của liệt sĩ Ngô Khắc Minh. Nhưng ông Thưởng chỉ giữ được có mỗi chiếc Huân chương chống Mỹ nên không có căn cứ để tìm đơn vị. Cùng lúc đó, một gia đình ở Thanh Chương (Nghệ An) tìm liệt sĩ Ngô Khổng Minh. Họ có đầy đủ giấy tờ liên quan. Nhất là giấy báo tử có tên đơn vị: sư đoàn 968. Chị Tiến vào ngay sư đoàn 968 (Quảng Trị) để xác minh. Đúng là có liệt sĩ Ngô Khổng Minh, hi sinh tại bản Bua La Pha!
Vậy là bí mật của chữ K. đã được giải mã.
Trong lúc mọi người chưa biết xử lý như thế nào thì ông Thưởng quệt nước mắt, miệng méo xệch, muốn nói mà môi cứ dính lại. Mãi ông mới thổn thức từng tiếng một: “Hay là các ông các bà cho tôi một nửa…”. Người lính già nấc nghẹn, hai tay ôm lấy mặt. Ông nơm nớp sợ nghe một lời từ chối. Trái tim ông sẽ vỡ vụn mất thôi!
Không ai cầm lòng được trước lời đề nghị quá đột ngột, bất ngờ này. “Tim tôi bị bóp nghẹt! Tôi khóc như một đứa trẻ có lỗi. Trời ơi, giá mà tôi tìm thấy cả hai liệt sĩ… Tôi hiểu ông Thưởng muốn xin một nửa, không phải là chia một nửa hài cốt mang về quê hương. Mà ông muốn trên bia mộ chỉ khắc chữ “Liệt sĩ Ngô K.Minh”. Để đến ngày giỗ liệt sĩ Ngô Khắc Minh thì ông ra mộ này thắp hương. Đến ngày giỗ liệt sĩ Ngô Khổng Minh thì gia đình ở Thanh Chương ra mộ này thăm viếng”, chị Tiến kể lại trong xúc động.
Gia đình liệt sĩ Ngô Khổng Minh hội ý. Và bất ngờ, cứ ngỡ là giấc mơ: họ đồng ý với đề nghị của ông Thưởng.
Từ đó, ngôi mộ ở nghĩa trang Ba Dốc (Quảng Bình) vẫn để nguyên chữ khắc trên bia: Ngô K.Minh.
Today brother Hiển translated a beautiful poem by Kathleen Raine, Amo Ergo Sum–I love, therefore I exist. I love this title, and I love Descartes’ famous quote “Cogito ergo sum”–I think, therefore I exist.
What do you say about “Amo Ergo Sum”?
Have a great day!
Hoanh
.
Amo Ergo Sum
Because I love
The sun pours out its rays of living gold
Pours out its gold and silver on the sea.
Because I love
The earth upon her astral spindle winds
Her ecstasy-producing dance.
Because I love
Clouds travel on the winds through wide skies,
Skies wide and beautiful, blue and deep.
Because I love
Wind blows white sails,
The wind blows over flowers, the sweet wind blows.
Because I love
The ferns grow green, and green the grass, and green
The transparent sunlit trees.
Because I love
Larks rise up from the grass
And all the leaves are full of singing birds.
Because I love
The summer air quivers with a thousand wings,
Myriads of jewelled eyes burn in the light.
Because I love
The iridescent shells upon the sand
Takes forms as fine and intricate as thought.
Because I love
There is an invisible way across the sky,
Birds travel by that way, the sun and moon
And all the stars travel that path by night.
Because I love
There is a river flowing all night long.
Because I love
All night the river flows into my sleep,
Ten thousand living things are sleeping in my arms,
And sleeping wake, and flowing are at rest.
“Trong đấu trường” là câu quote rất nỗi tiếng của Theodore D. Roosevelt, (October 27, 1858 – January 6, 1919), tổng thống thứ 26 và, cho đến nay 2009, là tổng thống trẻ tuổi nhất của nước Mỹ–nhậm chức tổng thống lúc 42 tuổi. Theodore, hay Teddy, Roosevelt là một chiến binh, sử gia, người khai phá thiên nhiên, thích săn bắn. Ông có một cá tính rất mạnh mẽ và nóng bỏng, và một hình ảnh rất cao bồi. Từ tên ông, ngày nay chúng ta có búp bê gấu Teddy Bear.
Ông và tổng thống Franklin Roosevelt, (1882 – 1945), tổng thống thứ 32 của Mỹ, là họ hàng đời thứ 5. Teddy gả cháu gái là Eleanor cho Franklin năm 1905.
Bài quote “Trong Đấu Trường” là bài quote được những người phải chiến đấu ngày đêm rất ưa thích. Đầu thập niên 1980’s, lúc còn trong trường luật, mình làm việc cho một luật sư hình luật nổi tiếng. Trong phòng anh ấy có treo quote này. Mình thích quá, chép lại, và treo nó trong văn phòng mình rất nhiều năm.
Ngày nay không thích đánh nhau nữa, dù là vẫn không ngại chiến đấu khi cần. Tuy nhiên, cho các bạn, nhất là các bạn trẻ phải chiến đấu ngày đêm trong hào rãnh, đây là một câu quote rất tốt. Mình dịch ra tiếng Việt ở đây cho các bạn.
Một thời để chiến đấu, một thời cho hòa bình. Có lẽ ta sẽ không hiểu được hòa bình nếu ta đã không trưởng thành trong chiến trận.
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
. Trong đấu trường,
Kẻ phê bình không đáng kể,
Cũng không đáng kể kẻ chỉ ra anh hùng đã vấp ngã thế nào,
hay người hành động lẽ ra đã nên làm thế nào.
Bao công lao đều thuộc về người trong đấu trường,
Người mặt mũi lem luốc mồ hôi, máu me và bụi đất,
Người chiến đấu anh dũng,
Người làm lỗi và khiếm khuyết hoài hoài,
Người biết nhiệt tâm nóng bỏng, hiến dâng trọn vẹn,
Và sử dụng đời mình cho chính nghĩa,
Người, trên đỉnh cao, cuối cùng biết được vinh quang của thành tựu cao cả
Và, dưới đáy thấp, nếu thất bại, tối thiểu là thất bại với can trường đởm lược,
Để chốn của Người không phải là nơi của những linh hồn
lạnh lẽo và nhu nhược không hề biết đến chiến thắng cũng như chiến bại.
(Trần Đình Hoành dịch)
.
In The Arena
“It is not the critic who counts, not the man
who points out how the strong man
stumbled, or where the doer of deeds
could have done better. The credit belongs
to the man who is actually in the arena;
whose face is marred by the dust and sweat
and blood; who strives valiantly; who errs
and comes short again and again; who knows
the great enthusiasms, the great devotions
and spends himself in a worthy course; who
at the best, knows in the end the triumph of
high achievement, and who, at worst, if he
fails, at least fails while daring greatly; so
that his place shall never be with those cold and timid souls who
know neither victory or defeat.”
Zorba the Greek là truyện dài của văn sĩ Hy Lạp Nikos Kazantzakis, xuất bản lần đầu năm 1946. Đó là câu chuyện của một trí thức trẻ phiêu lưu để chạy trốn cuộc sống mọt sách, gặp một người đứng tuổi, sống động, ham vui là Alexis Zorbas. Năm 1964 quyển truyện được làm thành phim do Anthony Quinn đóng vai Zorba, và năm 1968 thành ca vũ nhạc Broadway với tên Broad Zorba.
Nhạc nền trong phim Zorba the Greek do Mikis Theodorakis, nhà soạn nhạc nổi tiếng của Hy Lạp. Vũ điệu trong phim Zorba gọi là Sirtaki, được sáng tạo đặc biệt cho phim Zorba. Đây không phải là một vũ điệu Hy Lạp truyền thống mà là phối hợp của bước chậm và nhanh của bước vũ truyền thống Hy Lạp, hasapiko. Vũ Sirtaki còn gọi là vũ Zorba, và ngày nay Zorba dance đã lan truyền khắp thế giới. Continue reading Vũ điệu Zorba the Greek→
I am not adding another one. But let’s work on these interesting issues a little more, sisters and brothers.
A side note: Anh Phạm Minh Hạc was the first official at the Ministry of Education and Training that I met. I think that was 1992 and I was president of the Vietnamese American Education Foundation. World Vision sponsored anh Hac’s trip to the US. And World Vision president, I can’t remember the name, arranged the meeting between me, anh Hạc and his lieutenant, Nguyễn Ngọc Kính (?) at World Vision’s headquarters in Washington DC. (I am not sure about anh Kính’s full name but I am sure the first name is Kính).
At that time anh Hạc had just changed from Minister of Higher Education to Deputy-Minister of Education and Training. And that meeting helped me greatly in understanding Vietnam’s education.
Hôm nay chúng ta bàn đến điểm đầu tiên trong 9 điểm đã nói đến trong bài Du nhập văn hóa nước ngoài. Đó là: “Phải nắm vững văn hóa và định chế của nước mình trước. Trước khi biết cái hay cái dở của người, phải biết cái hay cái dở của mình đã.” Chúng ta sẽ khai triển câu nói này trên ba bình diện: Tư duy tích cực cá nhân, văn hóa quốc gia trong kinh tế toàn cầu hóa, và chính sách giáo dục phát triển văn hóa. Tư duy tích cực cá nhân
Trên bình điện tư duy tích cực, trước đây chúng ta đã nói đến khái niệm “thuộc về” (sense of belonging) . Ta càng cảm thấy ta “thuộc về” thế giới mình đang sống, ta càng tư duy tích cực. Nguời không cảm thấy mình thuộc về thế giới mình sống thường bị bệnh trầm uất.
Mà cảm tưởng “thuộc về” tùy thuộc vào yêu thích của ta với mọi người, mọi vật quanh mình. Nghĩa là, nếu ta là người Việt, ta càng dễ tư duy tích cực nếu ta càng yêu mến non sông đất nước, văn hóa nghệ thuật Việt. Người Việt sống trên đất Việt mà không thích những cái gì Việt thì nhất định là không thể tư duy tích cực được, vì sống như thế sẽ có cảm tưởng như đang ở tù.
Mà muốn yêu điều gì thì ta phải làm quen và hiểu rõ nó một tí. Ta không thể nào thích baseball nếu ta chẳng hiểu gì về baseball cả. Không cần phải biết chơi, nhưng ít ra phải hiểu luật chơi thì mới có thể thưởng thức trận bóng.
Văn hóa cũng thế. Phải biết thì mới yêu được. Chỉ có điều là chúng ta cứ lầm tưởng là nếu mình là người Việt thì đương nhiên mình đã biết văn hóa Việt rồi. Có thì cũng có đó, nhưng đôi khi xét lại thì chỉ mới được lớp da mỏng dính bên ngoài.
Đây là một số căn bản mình nghĩ là chúng ta cần biết:
* Một số nghĩa lýsâu sắc trong huyền sử Việt: Lạc Long Quân-Âu Cơ, Trọng Thủy Mỵ Châu, Phù Đổng Thiên Vương, bánh dầy bánh chưng, An Tiêm và quả hưa hấu v.v… Khi nhỏ ta học như chuyện thần tiên, ngày nay ta cần đọc lại đề hiểu sâu sắc một vài tư tưởng triết lý.
* Vài căn bản về tam giáo (Khổng, Phật, Lão). Các điều này đang có trong máu của ta và trong cách ta sống hàng ngày, cũng như trong bàng bạc tư duy của xã hội. Tốt hơn là ta nên biết chúng rõ hơn một tí để “biết mình.”
* Âm nhạc dân gian mọi miền
* Nghệ thuật dân gian mọi miền.
* Phong tục tập quán cổ truyền.
* Ca dao tục ngữ
* Văn hóa 53 dân tộc thiểu số anh em.
Đây chỉ là danh sách cách việc “cổ” và “thiểu” dễ bị bỏ rơi. Về các vấn đề ‘”tân” và “đại” có lẽ ai cũng biết hàng ngày, không cần nhắc đến.
Không cần phải giỏi, nhưng ít ra là cũng biết đủ để giải thích cho người khác, như là giải thích cho một người nước ngoài đủ rõ để người ta thích văn hóa mình. Biết mà chưa giải thích được, là chưa biết. Đây tạm là chuẩn mực để ta tự xét đoán mình đã tạm đủ chưa. Văn hóa quốc gia trong kinh tế toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa kinh tế càng cao thì ta càng phải sử dụng văn hóa riêng của ta rất nhiều trong phát triển và cạnh tranh kinh tế. Người các nước chắc không tốn tiền đến Việt Nam du lịch để nghe nhạc Mỹ hay nhạc Pháp, hoặc mua áo quần DKNY, Calvin Klein, hay Nike.
Hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam không thể xuất cảng tốt nếu xem cứ như hàng Trung Quốc. Âm nhạc Việt Nam không xuất cảng được nếu nghe như nhạc Jazz.
Điều đầu tiên, nếu không là duy nhất, để sản phẩm của ta nỗi bật trên sản phẩm các nước là nó phải KHÁC. Mà cái khác tự nhiên nhất là từ văn hóa nghệ thuật quốc gia mà sinh ra. Nếu một cái ly có vài hình vẽ không giống Tàu không giống Tây, nói chung là “không giống ai,” thì đó là cái ly người ta mua về để chưng trong tủ kiếng. Bằng không thì nó chỉ là cái ly thường rẻ mạt như nghìn cái ly khác.
Thi ca nếu có hương vị Việt Nam, lại mang chiều sâu con tim vượt biên giới, đó mới là loại thi ca có thể xuất cảng.
Nhà hàng của bạn nếu trang trí dân gian Việt Nam một tí, nhưng sản phẩm và dịch vụ cao, lại có màn nhạc cổ truyền sống, thì có lẽ là thu hút du khách nước ngoài hơn là nhà hàng trang trí theo Tây và chơi nhạc Mỹ.
Thế giới đánh nhau ì đùng, viết sách về tư tưởng hòa bình của nhà Phật thì xuất cảng được hơn là viết triết lý tây phương (Chúng ta là thầy triết đông, nhưng là học trò triết tây).
Nếu chơi Nhạc Jazz thì âm hưởng của nó phải được người ta gọi là Vietnamese Jazz, như là Latin Jazz cho Nam Mỹ, thì mới có thương hiệu để cạnh tranh xuất cảng.
Tóm lại, thế giới càng thu nhỏ vì toàn cầu hóa, ta lại càng cần vững mạnh văn hóa nghệ thuật quốc gia để cạnh tranh kinh tế. Chính sách giáo dục phát triển văn hóa
Hiện nay, việc phát triển văn hóa hầu như nằm ngoài quyền hạn và tầm nhìn của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo. Và giáo dục trở nên rất nghèo nàn về văn hóa nghệ thuật dân tộc. Chương trình giáo dục nên bỏ bớt những giờ học không cần thiết và thay vào đó giờ văn hóa nghệ thuật dân tộc.
Các Đại Học nên có nhiều môn về triết lý, văn hóa, nghệ thuật dân tộc, như là môn nhiệm ý (elective course) cho sinh viên, dù bất kỳ khoa nào, cũng có thể lựa chọn.
Chúng ta cần phải có cái nhìn tổng thể về văn hóa. Văn hóa không chỉ để trình diễn trên TV hay nhà hàng cho du khách. Văn hóa là con người. Con người biết dùng cái mình có sẵn để phát huy nó thành sức mạnh, trong đời sống riêng của mình cũng như trên chính trường và thương trường thế giới.
Let me try to solve the confusion between “What do you think about this book?” and “How do you think about this book?”
People use both of these the same way, for the same meaning.
But, let’s try to be sophisticated and ask: Which one is REALLY correct?
We can answer this by using grammatical structure.
“What” in a question always stands for a noun (or a noun equivalent). Example: What is this? Answer: This is a book. “What” in the question is the equivalent of the noun “book” in the answer.
Now look at “What you do think about this book?” Answer: I think about this book… We CANNOT add a noun (for “what”) to this answer, can we?
On the other hand, “how” stands for a status, a state of affair, a condition. Example: How do you feel about her. Answer: About her, I feel very unhappy. “Very unhappy” is the state of mind about her.
So, how do you think about this book? Answer: I think about this book that it is outstanding. “It is outstanding” is a statement about the status or condition of the book.
Switch the words around a little, to make the reading more natural: About this book, I think that it is outstanding.
So, technically, “How do you think about…” is correct and “what do you think about…” is incorrect.
But people use both of them equally. So they both may be considered correct by usage. But “how do you think about…” is more sophisticated English.
Some different examples:
What do you think he will do?
What do you think this sentence means?
What do you think mother will say about this?
But
How do you think he will handle this issue?
How do you think the election will go?
TODAY’S DISCUSSION
We have the question on Mr. Pham Minh Ha’c proposal from yesterday. Thanks, Stone, for answering. We can continue discussing this important issue.
Another matter is argument on the Internet. Most of the time, I feel that arguments in Internet forums sound like childish bickering. Everyone talks past each other and none makes much sense.
How do you feel about Internet discussion in general?
TODAY’S CHALLENGE
We have a bunch of Bee Gees songs chi Hue has just posted for translation. If you translate several songs, it may be better to post all of them into one post, instead of spreading them out into too many posts. Thanks a million.
Có lẽ mọi chúng ta đều đồng y’ là chúng ta cần học thêm từ văn hóa các nước và chỉ học cái hay chứ không học cái dở. Nói thì dễ nhưng làm thì khó, vì rất nhiều yếu tố phức tạp.
Trước hết, cái gì hay, cái gì dở? Vợ chồng không hạp nhau thì ly dị. Đó là hay hay dở? Nếu nói là dở thì có thể là thiếu công bình cho những người vợ bị áp bức. Nói là hay thì ly dị ì đùng kiểu Mỹ gây bao vấn đề xã hội lớn.
Thứ nhì, cái hay ở nước ngoài chưa chắc đã tốt cho nước ta, nhất là nếu không sửa đổi chúng cho hợp với Việt Nam. Ví dụ: Mỹ thì I với you rất bình đẳng và tiện nghi thật, nhưng tại Việt Nam ta chỉ cố bình đẳng được đến mức nào đó thôi chứ không thể có bình đẳng 100% kiểu I với you được.
Các định chế chính trị xã hội giáo dục của Mỹ cũng có thể phải được biến đổi nhiều khi mang áp dụng tại Việt Nam.
Thứ ba, cái hay ở nước ngoài ít được biết đến, nhưng rác rến thì thấy rất nhiều. Vỉ chỉ có rác rến, bạo động, hút sách, tội ác, các chuyện hình sự công an nhân dân, thì làm phim mới hấp dẫn. Các vấn đề đạo đức, thành thật, trung thành, thì có gì để làm phim. Người thành thật đi làm về, ăn xong, dạy con học một tí, xem ti vi một tí, rồi đỉ ngủ. Làm phim chắc được giải Oscar quá. 🙂
Thứ tư, người trẻ thường học cái mới nhanh hơn người lớn tuổi, nhưng trẻ thì thích những cái gì phá luật lệ, phá truyền thống, vì bản chất tuổi trẻ thường là thế. Nhưng phá truyền thống thì tự nó có thể gây thương tổn cho xã hội dù là nó sẽ đúng hay sai.
Vì vậy, các nước đang mở mang thường bị một trở ngại văn hóa rất lớn. Nước nghèo thì đương nhiên là ái mộ nước giàu mạnh, vì mình muốn học cái hay của họ để khá như họ. Nhưng rốt cuộc, các nước nghèo thường bị học rác rến nhiều hơn là cái hay. Và học được một tí hay cũng thành dở vì không đủ khả năng biến hóa để thay đổi cho hợp với nước mình.
Vậy thì ta giải quyết các vấn đề này cách nào?
Chúng ta có thể dựa vào một số nguyên tắc chung sau đây:
1. Phải nắm vững văn hóa và định chế của nước mình trước. Trước khi biết cái hay cái dở của người, phải biết cái hay cái dở của mình đã.
2. Tất cả các nền văn hóa con người trên thế giới đều dựa vào vài qui luật sống căn bản: Thành thật, trung tín, giúp người, khiêm tốn… Nếu thấy bài học nào của nước ngoài về dối trá, lường gạt, cao ngạo, thì ta có thể quyết đoán đó là bài học sai. Nếu người ta giàu mạnh hơn ta, có thể là vì người ta thành thật và trung tín hơn ta, chứ không phải vì người ta gian dối hơn ta. Tổ tiên ta không dốt đến nỗi dạy ta điều sai cả mấy ngàn năm.
3. Nếu thấy điều gì có vẻ chỏi với văn hóa mình quá, dù thiên hạ nói hay cách nào, thì cũng nên nghiên cứu, học hỏi và thử từ từ hơn là, ôm chầm lấy nó không cân nhắc.
4. Những điều trái hẳn với văn hóa ta, dù là hay cách mấy, cũng không nên là ly’ do để bỏ văn hóa ta. Có khả năng cao là nếu ta nghiên cứu từ từ, ta có thể thay đổi văn hóa ta một ít và văn hóa từ bên ngoài một tí, để hai bên ăn khớp nhau và không phải chống chỏi nhau.
5. Những bài học rất hay thường ít thấy trên TV và báo chí hàng ngày. Pop culture, văn hóa phổ thông trên TV và báo chí, thường có nhiều rác hơn vàng. Các bài học hay thường đi qua ngỏ giới trí thức và NGOs.
6. Đòi bỏ cái của ta để dùng cái từ bên ngoài thường là cách rất kém thông minh. Làm cách nào để cả cái của ta và cái bên ngoài vẫn sống chung hòa bình được thường là cách thông minh nhất. Bởi vì dùng cái bên ngoài để làm giàu thêm cho ta thì thông minh. Dùng bên ngoài và bỏ bên trong là bỏ một chọn một. Có khả năng là huề vốn, cộng thêm chấn động về khủng hoảng văn hóa.
7. Khi nghiên cứu bất cứ điều gì của nước ngoài, một vài cua học chẳng nghĩa ly’ gì cả. Thường là tốn rất nhiều năm để hiểu rõ. Tốt hơn là hỏi những người đã có kinh nghiệm, hơn là một hai cua học, hay một vài năm học của mình.
8. Xuất cảng văn hóa của ta ra nước ngoài—Phật giáo, triết ly’ sống và đạo đức Việt nam, âm nhạc và nghệ thuật Việt Nam, ẩm thực Việt Nam, thi ca Việt Nam, nghệ thuật Việt Nam… Chỉ khi ta xuất cảng cái đẹp của ta ra ngoài, ta mới đủ tự tin để thấy rõ cái hay cái dở của người.
9. Thông thưòng là, vừa ca tụng cái hay của người vừa đam mê cái hay của mình là người tự tin; thường mê cái hay của người và thường chê chính mình là người thiếu tự tin; thường ca tụng mình và chê bai người là ếch ngồi đáy giếng.
On the news today is a creative proposal by Mr. Phạm Minh Hạc, former Minister of Education and Training, that instead of the national high-school-graduation exam, we shoud have this exam handled by each school itself and the school will sign its graduation certificates.
Here is the news:
Hãy ghi tên trường vào bằng tốt nghiệp – (TuanVietNam) – GS Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Bộ GD và ĐT nêu ý kiến: Cải cách thi cử, trong đó kỳ thi tốt nghiệp THPT thành kỳ kiểm tra cuối cấp do các trường tự tổ chức, trong giấy chứng nhận tốt nghiệp ghi rõ: Học sinh A, đã tốt nghiệp THPT tại trường X, tỉnh Y.
How do think about this proposal? Teachers? Parents? Students?
Chúng ta biết là mọi hiện tượng trên đời chỉ là hiện tượng, hoàn toàn trung tính. Hiện tượng không có ý nghĩa nào tự chúng nó. Ý nghĩa của các hiện tượng là do chính chúng ta cho. Các ý nghĩa ta cho hiện tượng có thể chia ra thành 3 nhóm–tích cực, tiêu cực và trung tính.
Ví du: Mưa.
Nhìn mưa chúng ta có thể thấy lòng phơi phới, như:
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Ðặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Ðoài hát tối nay”
(Nguyễn Bính—Mưa xuân)
hay sầu buồn, như:
Mưa buồn..buồn lắm..mưa ơi..
Mịt mù cuối đất cùng trời Biển Đông.
(Nguyễn Khuyến—Mưa buồn)
Hay trung tính, chẳng vui chẳng buồn, như:
Sau mưa, khe và núi sạch sẽ
Rừng phong, một giấc mơ ngắn.
Nhìn lại cõi đời bụi bặm,
Mở mắt, say mang mang.
(Thiền sư Huyền Quang-Ngủ trưa)
Cái nhìn trung tính đối với mọi hiện tượng là cái nhìn của các thiền sư. Nếu được vậy thì rất tốt. Tuy nhiên, trong đời sống thường nhật tất bật này, có được tâm hoàn toàn tĩnh lặng và trung tính như thiền sư rất khó. Cách dễ nhất cho chúng ta là chọn giữa tích cực và tiêu cực. Đây chỉ là vấn đề lựa chọn. Nếu ta chọn tư duy tích cực thì cuộc đời và thế giới của ta tích cực vui tươi. Nếu ta chọn, tiêu cực thì cả thế giới là màu đen. Và cái nhìn nào cũng đều có khả năng dẫn ta đi theo hướng của nó. Đây là điều mà các triết gia hay nói: Ta tạo thế giới của chính mình.
Đó là căn bản của tư duy tích cực, chẳng có gì là khó hiều cả. Tuy nhiên, vấn đề là thế giới có hai luồng tư duy–tích cực và tiêu cực. Và hai luồng tư tưởng này có đầy dẫy quanh ta, vô hình vô tướng. Nếu chúng ta không nhậy cảm, chúng ta hít cả hai luồng vào cùng một lúc. Chỉ cần một tí tiêu cực mà ta không biết là có thể làm hỏng luồng tư duy tích cực của ta. Một luồng không khí trong lành, chỉ cần một tí khí độc là thành xấu.
Một đội bóng 12 người, cần mấy người tồi để đội bóng thua cuộc, các bạn? Một nữa, 6 người? 7 người? Thưa, 1 người. Chỉ cần một người phá bóng là cả đội thua.
Xây nhà cũng thế. Căn nhà có bốn góc, chỉ một góc nền sụp đổ là sụp đổ cả căn nhà, không cần phải đợi đến 2 hay 3 góc sụp.
Bản chất của xây dựng là thế. Ta có 12 người xây căn nhà trong một năm, chỉ cần một người đốt nhà trong 15 phút.
Tư duy tích cực là một tiến tình xây dựng. Bạn xây dựng cả hàng chục năm. Chỉ cần làm việc chung với một đám tham nhũng vài tuần và bạn, vì lý do này hay khác, đồng ý với đường làm ăn ma đạo của họ, thì công trình cả bao nhiêu năm luyện tập của bạn đã bị thương tổn rất lớn. Và nếu sau đó bạn lại hành động theo kiểu “tay đã lỡ nhúng chàm,” thì toàn công phu tu tập có thể tan rã.
Vì vậy chúng ta cần nhậy cảm để nhận ra thế nào là tích cực, thế nào là tiêu cực trong đời sống hàng ngày. Và đôi khi ta cần tỏ thái độ với mọi người, như thế là sai, là không được. Nhưng đây lại là vấn đề rắc rối. Chúng ta làm việc và sống chung với mọi người, cần giữ hòa khí và tình anh chị em. Vấn đề này, mỗi người chúng ta biết là nên làm gì trong những tình huống thực tế ta gặp. Không có công thức chính xác. Tuy nhiên, chúng ta có thể tham khảo một số đề nghị chung chung sau đây:
Trước hết, nói chung là chúng ta nên tránh những người thầy tiêu cực. Tiêu cực một tí thì không sao, những người tiêu cực hạng thầy thường làm cho ta rất mất năng lượng. Nghe họ nói một hồi là ta sẽ bực mình, trầm cảm, hay rất xuống tinh thần. Không nên mất năng lượng ngồi nghe họ. Có hại cho chính mình.
Gặp những trường hợp làm việc trong một công ty ma đạo và mình sẽ phải đi theo họ, như là làm kế toán viên và phải giả mù để giấy tờ giả thông qua, thì tốt hơn là nên tìm công ty khác làm việc.
Ngồi nói chuyện với một vài bạn, cứ mang người không có mặt ra nói xấu, thì ta nên nhắc các bạn không nên nói về người vắng mặt và nên đổi chủ đề nói chuyện.
Ngồi với một số bạn làm chung mà cứ nói xấu công ty của mình, thì ta nên nói với các bạn bàn cách giải quyết vấn đề–hoặc là tự giải quyết nếu có thể được, hoặc là báo cho cấp trên, và không nên tiếp tục phàn nàn mà không chịu tìm cách giải quyết.
Và khi ta nghe một luồng tư duy tíêu cực, đừng gật đầu đồng ý theo chỉ vì lịch sự. Nếu thấy không nên nói gì, thì không nên nói gì, đừng gật đầu hùa theo chỉ vì lịch sự.
Và khi bạn nói chuyện tích cực, nếu có người cho rằng bạn ngây thơ, không hiểu đời, hay đạo dức giả, thì mỉm cười, nhưng đừng để các ‘thức giả” lung lạc.
Nói chung là, nếu ta ngồi trước cửa nhà mà thấy người thả khí độc lên trời thì phải làm gì đó. Đừng ngồi đó hoan hô. Ngay cả, đừng ngồi yên đó nhìn.
Tư duy tích cực là tích cực xây dựng tư duy trong tâm mình cũng như môi trường tư duy tích cực quanh mình. Ta không thể tư duy tích cực nếu ta tiêu cực trước những luồng sóng tiêu cực trong xã hội. Làm gì thì tùy bạn. Nhưng “do something”!
Sau cùng, tại sao phá hoại dễ hơn xây dựng cả trăm lần, mà xã hội lại chưa diệt vong, các bạn? Đáng lý ra thì xã hội loài người đã tan rã mất tiêu rồi chứ?
Thưa, hiện tượng xã hội loài người càng ngày càng tiến triển, dù phá hoại thì dễ hơn xây dựng rất nhiều, là bằng chứng hùng hồn rằng số người phá hoại rất ít so với số người xây dựng. Đó là chứng mình rất rõ “nhân chi sơ tính bản thiện.”
Vì vậy, nếu bạn là người tư duy tích cực, bạn có nhiều đồng minh hơn bạn tưởng.
I posted this fascinating quote twice, hoping someone would pick it up, but none yet. Here it is, the third time. Hope someone will pick this up and have some interesting comments.
“I can write better than anybody who can write faster, and I can write faster than anybody who can write better.”
– A. J. Liebling (1904-1963)